Giáo trình Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc tiểu học

pdf 174 trang phuongnguyen 1770
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_phuong_phap_day_tieng_viet_cho_hoc_sinh_dan_toc_b.pdf

Nội dung text: Giáo trình Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc tiểu học

  1. Dự án Phát triển giáo viên tiểu học GIÁO TRÌNH Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc bậc tiểu học Ebook.moet.gov.vn, 2008
  2. CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT − Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ GD và ĐT − Cải cách giáo dục CCGD − Giáo viên GV − Học sinh HS − Học sinh dân tộc HSDT − Ngôn ngữ hai NN2 − Phương pháp PP − Phương pháp dạy học PPDH − Sách giáo khoa SGK − Thiết bị dạy học TBDH − Tiếng dân tộc TDT − Tiếng mẹ đẻ TMĐ − Tiếng Việt TV
  3. Lời nói đầu Để góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng GV tiểu học, Dự án Phát triển GV tiểu học đã tổ chức biên soạn các môđun đào tạo theo chương trình Cao đẳng sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học sư phạm lên Cao đẳng sư phạm ; biên soạn các môđun bồi dưỡng GV nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình SGK tiểu học mới. Điểm mới của các tài liệu viết theo môđun là thiết kế các hoạt động, nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của người học, kích thích óc sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, tự giám sát và đánh giá kết quả học tập của người học ; chú trọng sử dụng tích hợp nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau (tài liệu in, băng hình/ băng tiếng ,) giúp cho người học dễ học, dễ hiểu và gây được hứng thú học tập. Phương pháp dạy tiếng Việt cho HS dân tộc bậc Tiểu học là tài liệu phục vụ cho công tác bồi dưỡng GV tiểu học dạy TV cho HSDT theo Chương trình, sách giáo khoa mới. Tài liệu gồm 5 Tiểu môđun được sắp xếp theo từng vấn đề liên quan đến phương pháp dạy TV cho HSDT và 4 trích đoạn băng hình. − Phần tài liệu in : Mỗi tiểu môđun được cấu trúc theo các phần : mục tiêu, nội dung và đánh giá kết quả học tập của học viên. Tài liệu "Phương pháp dạy tiếng Việt cho HS dân tộc bậc Tiểu học" giúp GV : + Nắm được phương pháp chung về dạy TV cho HSDT. + -ứng dụng được các phương pháp chung vào dạy TV cho HSDT với tư cách dạy ngôn ngữ thứ hai. Nội dung của tài liệu in gồm : + Tiểu môđun 1 : Phương pháp chung + Tiểu môđun 2 : Dạy âm vần TV + Tiểu môđun 3 : Dạy nghe nói TV + Tiểu môđun 4 : Dạy đọc + Tiểu môđun 5 : Dạy viết − Phần tài liệu nghe nhìn gồm băng hình và tài liệu hướng dẫn học theo băng hình là những trích đoạn bài học do GV thực hiện dạy TV cho HSDT. Khi tiến hành bồi dưỡng theo tài liệu này, các địa phương cần tổ chức cho GV học theo hình thức tự học có hướng dẫn để phát huy tính tích cực chủ động của người học. Tài liệu chỉ đưa ra thời lượng tối thiểu để bồi dưỡng cho từng môn học. Tuỳ vào tình hình cụ thể của học viên và điều kiện học tập ở từng địa phương, các cấp quản lí giáo dục sẽ quyết định thời lượng bồi dưỡng từng môn cho phù hợp.
  4. Lần đầu tiên, tài liệu được biên soạn theo chương trình và phương pháp mới, chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Ban điều phối Dự án rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, sinh viên các trường sư phạm, GV tiểu học trong cả nước. Trân trọng cảm ơn ! Dự án Phát triển giáo viên Tiểu học
  5. Tổng quan về tài liệu I. Mục tiêu chung 1. Kiến thức Nắm được một số phương pháp chung về dạy tiếng Việt (TV) cho HSDT những phương pháp về dạy âm vần, dạy các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết TV cũng như phương pháp dạy TV trong các môn học khác theo chương trình Tiểu học mới phù hợp với HSDT. 2. Kĩ năng Vận dụng được những phương pháp dạy TV cho HSDT để tổ chức dạy học tốt các nội dung, hình thành và phát triển kĩ năng nghe, nói, đọc, viết TV cho HSDT ; có khả năng xây dựng môi trường học TV cho HSDT và sử dụng các phương tiện trợ giúp HSDT học tốt TV. 3. Thái độ − Có ý thức về sự khác biệt giữa phương pháp dạy TV cho HS người Kinh và cho HSDT. − Có ý thức về những nhu cầu và khó khăn của HSDT trong học TV để giúp các em vượt qua những khó khăn trong học TV. − Tự tin trong sử dụng các phương pháp dạy TV cho HSDT một cách phù hợp. II. Thời lượng : 90 tiết III. Nội dung 1. Nội dung Tài liệu viết a) Tiểu môđun Phương pháp chung : 6 bài (26 tiết) b) Tiểu môđun Dạy âm vần tiếng Việt : 3 bài (14 tiết) c) Tiểu môđun Dạy nghe nói tiếng Việt : 5 bài (22 tiết) d) Tiểu môđun Dạy đọc : 3 bài (16 tiết) đ) Tiểu môđun Dạy viết : 3 bài (12 tiết) 2. Nội dung băng hình : 4 đoạn băng hình cho các bài Bài 7 − Dạy HSDT phát âm đúng tiếng Việt Bài 10 − Dạy từ trong tập nói tiếng Việt Bài 13 − Dạy kể chuyện cho HSDT
  6. Bài 16 − Dạy hiểu từ ngữ trong bài tập đọc IV. Phương pháp học theo tài liệu Tài liệu được biên soạn để có thể sử dụng với nhiều hình thức học tập khác nhau : − Phương pháp chủ yếu là tự học, kết hợp với học theo nhóm. − Khi học, trước hết học viên dựa vào những gợi ý hoạt động trong các bài để chủ động khám phá nội dung bài dạy ; đồng thời huy động kinh nghiệm dạy học của mình để tiến hành các hoạt động này. − Cùng với tài liệu viết, còn có 4 đoạn băng hình. Các đoạn băng hình sẽ làm rõ thêm nội dung của tài liệu viết.
  7. TIỂU MÔ ĐUN 1 (24 tiết) Phương pháp chung A. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Học viên nắm được những phương pháp đặc trưng về dạy TV cho HSDT như một ngôn ngữ thứ 2 (NN2), đồng thời nắm được cách thức tạo môi trường học TV, phương pháp dạy TV qua các môn học khác và cách sử dụng tiếng mẹ đẻ của HSDT trong dạy học. 2. Kĩ năng Học viên có thể vận dụng các PP dạy TV như một NN2 vào quá trình dạy học phù hợp với đặc điểm và điều kiện học tập của HSDT. 3. Thái độ Học viên quan tâm nhiều hơn tới việc sử dụng các phương pháp dạy NN2 vào dạy TV cho HSDT ; có ý thức sử dụng một cách sáng tạo để phù hợp với HS lớp mình phụ trách. B. GIỚI THIỆU Nội dung : Tiểu môđun 1 gồm 6 chủ đề. Các chủ đề trong Tiểu môđun 1 giới thiệu những vấn đề chung liên quan tới việc dạy TV cho HSDT, như : Các phương pháp dạy TV cho HSDT ; Phương pháp tạo môi trường học TV cho HSDT ; Cách sử dụng TMĐ của HS trong dạy học ; Dạy TV trong các môn học khác, sử dụng TV trong điều khiển lớp và dạy TV với các phương tiện trợ giúp Thời gian dành cho Tiểu môđun này là 24 tiết. Cách học : Các chủ đề chủ yếu được thiết kế để học cá nhân và học theo nhóm. Khi học các chủ đề trong Tiểu môđun này, học viên cần thường xuyên liên hệ với thực tế dạy học và kinh nghiệm dạy học của bản thân mình. C. BÀI HỌC
  8. CHỦ ĐỀ 1 (4 tiết) Tìm hiểu về phương pháp dạy Tiếng Việt cho Học sinh dân tộc I. MỤC TIÊU 1. Nhận thức HV xác định được những đặc điểm nổi bật trong quá trình học TV của HSDT ; nắm được các phương pháp cơ bản để dạy TV cho HSDT như dạy một NN 2. 2. Kĩ năng HV có kĩ năng vận dụng những phương pháp dạy TV cho HSDT trong dạy các phân môn TV cụ thể, phù hợp với HSDT của lớp mình. 3. Thái độ − HV nhận thức được sự khác biệt giữa HS người Kinh và HSDT khi học TV để từ đó có ý thức tìm tòi những phương pháp dạy TV phù hợp với HSDT. − HV tự tin khi áp dụng các phương pháp dạy TV cho HSDT trong các trường hợp cần thiết. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tìm hiểu những điểm khác biệt giữa HSDT với HS người Kinh khi học TV Nhiệm vụ 1. Đọc tài liệu "Phương pháp dạy tiếng Việt cho HSDT ở trường tiểu học" − Lê A, Mông Ký Slay, Đào Nam Sơn, Bộ GD và ĐT, Vụ Giáo viên, H. 1993. 2. Hãy thảo luận với đồng nghiệp, trả lời các câu hỏi : • Trước khi tới trường trẻ em HSDT và trẻ em người Kinh nói TV trong những trường hợp nào ? (ở nhà, ở cửa hàng mua bán, ở chợ ). • Hằng ngày HSDT và HS người Kinh nói TV với ai ? (với bố mẹ, với thầy cô giáo, với bạn bè ). • Đưa các ví dụ cụ thể về lỗi sử dụng TV của HS lớp bạn. Hãy so sánh các lỗi về sử dụng TV của HSDT với HS người Kinh. 3. Đọc thông tin cơ bản dưới đây và đối chiếu với ý kiến cá nhân Thông tin cơ bản Một số điểm khác biệt khi học TV giữa HSDT với HS người Kinh − Về điểm xuất phát. Khi đến trường, HS người Kinh đã có vốn TV đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh. Các em được học một ngôn ngữ đã sử dụng trong khoảng 5 năm trước khi tới trường với một vốn từ khoảng 4.000 − 4.500 từ và những cấu trúc câu cơ
  9. bản. Ngoài ra, các em có thời gian và cơ hội sử dụng TV liên tục với nhiều người và nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống ngoài nhà trường. Còn HSDT thì lại khác, trước khi đi học các em mới chỉ nắm vững tiếng mẹ đẻ (TMĐ) và phát triển nhận thức bằng TMĐ chứ không phải bằng TV. Vốn TV của các em rất ít hoặc không có gì, nếu có một chút vốn TV lại chưa chuẩn xác trong cách phát âm và sử dụng. Khi đến trường các em mới bắt đầu học TV và các em phải học TV trên cơ sở kinh nghiệm của TMĐ. − Môi trường học TV bị bó hẹp. Khi học TV, HS người Kinh có rất nhiều cơ hội giao tiếp với người lớn ở mọi lúc, mọi nơi, trong và ngoài nhà trường. Những lĩnh vực được tiếp cận khi đối thoại rất đa dạng và phong phú. HSDT hầu như không thể có được số lượng và mật độ các cuộc giao tiếp bằng TV nhiều như HS người Kinh. ở trường học, HSDT chỉ tiếp xúc duy nhất với thầy, cô giáo − những người nắm vững TV. Do số HS trong lớp thì đông mà lại chỉ có một GV nên cơ hội giao tiếp bằng TV giữa HS và GV rất có hạn. Nội dung các vấn đề được đề cập trong các cuộc giao tiếp chủ yếu chỉ liên quan tới bài học, trong khi các vấn đề của đời sống ngôn ngữ lại luôn sôi động và đa dạng. − Quá trình học TV của HSDT luôn chịu ảnh hưởng từ TMĐ. Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HSDT đưa vào trong quá trình học TV. Hệ quả là, những yếu tố giống nhau giữa TV và TMĐ tạo điều kiện thuận lợi, còn những yếu tố khác nhau lại cản trở, gây khó khăn cho HSDT khi học TV, đó cũng là nguyên nhân khiến HSDT mắc các lỗi sử dụng TV như lỗi phát âm, lỗi dùng từ, lỗi sử dụng câu Hoạt động 2. Tìm hiểu một số phương pháp dạy TV cho HSDT Nhiệm vụ 1. Đọc tài liệu : Chương I : Dạy TV cho HSDT theo hướng dạy ngôn ngữ thứ hai (trong sách : Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở vùng dân tộc − Mông?Ký Slay Chủ biên − NXB ĐHQG HN, H. 2001). 2. Nối các vế bên trái với các mệnh đề bên phải cho đúng : Học TV là học TMĐ HS người Kinh Học TV không phải là học TMĐ HSDT Học TV là học ngôn ngữ thứ hai 3. Trao đổi với đồng nghiệp theo các câu hỏi :
  10. − Có những phương pháp dạy học TV nào mà bạn khó thực hiện thành công với HSDT ? − Bạn đã sử dụng những phương pháp nào để dạy TV cho HSDT có hiệu quả ? 4. Đọc thông tin cơ bản dưới đây và hoàn thiện ý kiến của mình. Thông tin cơ bản Chương trình TV đang áp dụng ở trường tiểu học hiện nay được xây dựng trên nguyên tắc dạy TV cho người học TMĐ. Những phương pháp dạy TV trong chương trình là phương pháp dạy học TMĐ. HSDT học ở các vùng miền theo chương trình Tiểu học cũng được dạy – học theo những phương pháp đặc trưng của môn học. Các GV dạy TV ở tiểu học có trách nhiệm dạy theo các phương pháp bộ môn đã được chương trình quy định. Để giúp HSDT tiếp thu TV một cách thuận lợi, ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy TV như chương trình quy định, GV dạy ở vùng dân tộc cần dạy theo một số phương pháp sau : a) Phương pháp trực tiếp GV dạy HSDT học TV bằng chính TV, nghĩa là GV dùng TV để dạy TV. HSDT được tiếp nhận TV (từ, ngữ, câu ) trực tiếp bằng TV mà không cần liên hệ với TMĐ của các em. Việc giải thích nghĩa từ được thực hiện bằng vật thật hoặc các tài liệu minh hoạ khác. Sau khi nắm nghĩa các từ, các em tập sử dụng chúng theo các mẫu câu trong các tình huống giao tiếp cụ thể. GV cần tạo điều kiện cho HS cùng một lúc vừa nhìn vật thật hoặc mô hình, vừa nghe và phát âm tên gọi của chúng. Nhờ tập trung chú ý vào chính TV mà góp phần ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của TDT tới quá trình học TV của HSDT. Sử dụng phương pháp này, GV tận dụng triệt để hiện vật, mô hình, vật mẫu, tranh ảnh, điệu bộ, cử chỉ khi cung cấp từ TV cho HSDT. Trong nhiều trường hợp, cần đưa HS ra ngoài trời, tiếp xúc với thiên nhiên để bài dạy thêm sinh động. Chẳng hạn khi học những bài về cây cỏ, về thời tiết GV có thể hướng dẫn HS quan sát trực tiếp cây cỏ, hoa lá, bầu trời ở ngoài lớp. b) Phương pháp thực hành − GV tổ chức các hoạt động luyện tập thực hành TV thông qua các bài tập thực hành cũng như trong các tình huống đa dạng, đảm bảo cho HS được nghe, nói, đọc, viết TV thường xuyên. Chỉ có bằng luyện tập thực hành, những kĩ năng này mới được rèn luyện để đạt trình độ tự động hoá ở HS. Làm sao các em có khả năng vận dụng những kiến thức đã được tiếp nhận và những kĩ năng đã có vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong học tập, trong cuộc sống hằng ngày một cách chủ động. − Thực hiện phương pháp này, việc giảng giải, truyền thụ kiến thức của GV không chiếm nhiều thời gian trong giờ học. Phần lớn thời gian của giờ học được dành cho HS thực hiện các bài tập thực hành ngôn ngữ. Việc tổ chức thực hành ngôn ngữ được tiến hành dưới nhiều dạng khác nhau, dưới các dạng chủ động (nói, viết) và các dạng thụ động (nghe, đọc), dưới các hình thức lời nói khác nhau (độc thoại, đối thoại). Tuy
  11. nhiên, ở từng bài dạy, từng giai đoạn học tập có chú ý tới những kĩ năng và hình thức thực hành TV khác nhau, chẳng hạn, trong giai đoạn đầu lớp 1 chú trọng luyện các kĩ năng nghe, nói. − Để thực hiện phương pháp này, GV cần định hướng ngay khi chuẩn bị bài giảng, đảm bảo có cách tổ chức dạy học và những loại bài tập khác nhau trong các bài dạy. Chú ý tạo ra các tình huống ngôn ngữ đa dạng, bằng cách dựa vào tranh, vào thực tế hoạt động trong lớp và thực tế sinh hoạt thường ngày của HS để các em vận dụng những từ ngữ, mẫu câu một cách phù hợp. Trong quá trình hướng dẫn HS thực hành, GV cần quan tâm điều chỉnh để giúp HS nắm vững ngữ liệu và sử dụng có hiệu quả. c) Phương pháp sử dụng tiếng mẹ đẻ của HSDT − Sử dụng tiếng mẹ đẻ của HSDT/ tiếng dân tộc (viết tắt là TDT) trong quá trình dạy TV để giúp các em HSDT tiếp nhận một ngôn ngữ mới (TV) trên cơ sở tận dụng được vốn ngôn ngữ sẵn có của mình (TDT), tránh được sự căng thẳng trong nhận thức của HS, nhất là với HS ở các lớp đầu cấp. Thực hiện phương pháp này GV cần biết tận dụng sự giống nhau giữa hai ngôn ngữ để thúc đẩy quá trình học TV của HS, để các em tiếp nhận và tái tạo trên cơ sở kinh nghiệm, kĩ năng sử dụng TDT sẵn có của mình. Đồng thời GV chú ý giúp các em khắc phục được những khó khăn khi học TV, những lỗi sử dụng TV do sự khác nhau giữa TV và TDT gây ra. − TDT được sử dụng trong quá trình dạy TV cho HSDT với các mức độ khác nhau. Khi dạy phát âm, với những âm TV không có trong TDT, được phát âm khác với các âm của TDT, GV cần giúp HS hình thành những kĩ năng phát âm các âm mới một cách chính xác. Trong những trường hợp có các âm gần gũi với TDT, GV cần lưu ý HS về sự khác nhau và giống nhau giữa hai âm này để HS ghi nhớ và làm quen với các âm TV. Có thể sử dụng TDT để dịch các từ ngữ TV mà không thể cung cấp bằng các phương pháp khác. Thông thường, đó là những từ để hỏi, từ trừu tượng Ví dụ : các từ để hỏi : tại sao ?, bao giờ ? khi nào ? ; các từ chỉ mức độ : rất, quá Những hiện tượng ngữ pháp (cấu tạo từ, cấu trúc câu ) TV khác với TDT cũng có thể được so sánh với TDT. Trong trường hợp này, GV cần phải lưu ý HS sự khác biệt giữa chúng để HS có ý thức dùng từ, đặt câu của TV cho đúng. Dùng TDT để hướng dẫn HS thực hiện các quy định của giờ học bằng những lệnh ngắn. Những câu này được sử dụng bằng TDT trong những giờ học đầu tiên, nhằm hướng dẫn HS thực hiện một số hoạt động học tập, dần dần được chuyển sang TV. Ví dụ, các lệnh : Em A hỏi, em B trả lời. Các em nói theo cô Lưu ý : Việc sử dụng TDT như một phương pháp vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu để hoàn thiện. Trong quá trình dạy học, GV cần thường xuyên rút kinh nghiệm và tùy theo trình độ TV của HS lớp mình mà lựa chọn mức độ sử dụng TDT cho phù hợp, tránh sử dụng tràn lan, chỉ sử dụng trong các trường hợp cần thiết.
  12. Dạy học TV cho HSDT là một công việc phức tạp, không thể coi phương pháp nào là vạn năng. Lựa chọn phương pháp nào là phụ thuộc vào đối tượng HS, mục đích bài dạy, điều kiện dạy học cụ thể đảm bảo HS tiếp thu được bài học một cách tích cực, nắm kiến thức một cách chắc chắn. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Trả lời câu hỏi : Dạy TV cho HSDT gặp những khó khăn gì ? Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời bạn lựa chọn. HS ít hoặc không có vốn TV HS ít môi trường TV HS đi học không thường xuyên 2. Ghi tên những phương pháp dạy TV cho HSDT được giới thiệu trong bài theo thứ tự ưu tiên mà bạn chọn. − − − 3. Hãy thảo luận trong nhóm và ghi thêm những phương pháp dạy TV cho HSDT mà bạn đã sử dụng có hiệu quả. − − − IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ − Trả lời câu hỏi 1, bạn đánh dấu vào ô trống trước câu trả lời thứ 1 và thứ 2. − Các phương pháp được giới thiệu trong bài là những phương pháp chung, có thể sử dụng được ở nhiều phân môn. Tuy nhiên với từng bài cụ thể, mức độ sử dụng các phương pháp có thể khác nhau. Bạn hãy lựa chọn các phương pháp mà bạn thấy có thể được sử dụng thường xuyên hơn để xếp thứ tự ưu tiên. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy tiếng Việt cho HS dân tộc ở trường tiểu học − Lê A, Mông Ký Slay, Đào Nam Sơn – Bộ GD và ĐT, Vụ Giáo viên, H. 1993. 2. Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở vùng dân tộc − Chương I : Dạy?tiếng Việt cho HSDT theo hướng dạy ngôn ngữ thứ hai. Mông Ký Slay (Chủ biên) – NXB ĐHQGHN, H. 2001.
  13. CHỦ ĐỀ 2 (4 tiết) Phương pháp tạo môi trường học tiếng Việt cho Học Sinh dân tộc I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Giải thích được thế nào là môi trường học tiếng và sự cần thiết của việc tạo môi trường học TV đối với HSDT. Nắm được một số biện pháp cụ thể tạo môi trường TV cho HSDT. 2. Kĩ năng Có khả năng vận dụng các biện pháp tạo môi trường TV cho HSDT trong quá trình dạy học. 3. Thái độ Có ý thức quan tâm, chủ động tạo môi trường TV cho HS tại đơn vị công tác. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tìm hiểu thế nào là môi trường học tiếng Nhiệm vụ 1. Chia sẻ hiểu biết về môi trường học tiếng 1.1. Tự khám phá − Hãy suy nghĩ và viết ra cách hiểu của bạn về môi trường học tiếng. − Nêu và phân tích một ví dụ về sự tác động của yếu tố môi trường đến quá trình học một ngôn ngữ. 1.2. Chia sẻ ý kiến với đồng nghiệp − Trình bày phần viết của bạn với đồng nghiệp. − Trao đổi về cách hiểu của đồng nghiệp và bản thân. 2. Đọc phần thông tin cơ bản duới đây và so sánh với nội dung đã thảo luận Thông tin cơ bản Môi trường học tiếng (MTHT) được hiểu là các điều kiện tự nhiên, xã hội, các phương tiện, hoạt động trong và ngoài nhà trường có tác động đến quá trình học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ. * MTHT trong nhà trường bao gồm : − Cảnh quan nhà trường, lớp học : Gồm cảnh quan tự nhiên và tự tạo. − Hoạt động dạy − học : Trong tất cả các môn học.
  14. − Các phương tiện dạy và học : SGK các môn học, đồ dùng dạy và học, sách tham khảo − Các hoạt động bổ trợ : Đọc sách, xem băng hình, trò chơi, văn nghệ * MTHT ngoài nhà trường bao gồm : − Đặc điểm dân cư : Dân số, thành phần dân tộc, tình trạng cư trú − Môi trường văn hoá − xã hội : Trình độ dân trí, sinh hoạt văn hoá, ngôn ngữ giao tiếp trong cộng đồng, tình hình sử dụng tiếng phổ thông, TDT − Môi trường gia đình : Ngôn ngữ giao tiếp trong gia đình, các phương tiện nghe nhìn Hoạt động 2. Tìm hiểu và giải thích tại sao phải tạo môi trường TV cho HSDT. Vai trò của GV trong việc tạo môi trường TV cho HSDT Nhiệm vụ 1 Tìm câu trả lời 1.1. Bạn đã bao giờ học ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ 2 chưa ? − Nếu có bạn hãy liệt kê những khó khăn mà bạn đã gặp trong quá trình học ? Theo bạn những khó khăn nào thuộc về môi trường học tiếng ? Và tiếp tục thực hiện việc làm mục?1.2 để tìm những điểm chung giữa bạn và HSDT khi học ngôn ngữ. − Nếu chưa bạn hãy thực hiện việc làm ở mục 1.2 1.2. Bạn hãy so sánh sự khác nhau về môi trường học TV của HSDT và HS người Kinh theo gợi ý sau : − Về thời gian : − Về không gian : 1.3. Đọc phần thông tin cơ bản dưới đây để đối chiếu với sự so sánh của mình và rút ra ý nghĩa cho bản thân. Thông tin cơ bản TV đối với HSDT là NN2, không phải TMĐ. Quá trình học NN2 khác với quá trình học TMĐ ít nhất ở 3 điểm : trình độ xuất phát, cơ chế lĩnh hội và môi trường học tiếng. Về môi trường học tiếng có thể so sánh như sau : Thời gian Môi trường học TM§ Môi trường học NN 2
  15. - Có môi trường học tiếng từ tuổi sơ - Hầu như không có môi trường sinh đến 5, 6 tuổi (trước khi đi học). học NN 2 ở thời kì trước tuổi đi học. - Kéo dài suốt cả cuộc đời, trong mọi - Bó hẹp trong thời gian học trên hoạt động. lớp, ở trường và một số hoạt động ngoài giờ học. Không gian mở rộng : Không gian bó hẹp : - Môi trường nhà trường - Lớp học, trường học, một số Không gian - Môi trường gia đình hoạt động với không gian hạn - Môi trường làng bản, xã hội chế. Như vậy, môi trường học TV của HSDT bị hạn chế rất nhiều, đó là : − Thiếu sự tác động của môi trường TV tự nhiên hằng ngày, đặc biệt ở thời kì trước tuổi học. Tức là TV chưa được "thấm" vào trẻ hằng ngày để tạo nên nền tảng ban đầu. − Không có nhiều cơ hội để thực hành sử dụng TV trong giao tiếp. Do vậy, việc học TV đối với HSDT gặp nhiều khó khăn. Để bổ sung, khắc phục những thiếu hụt nêu trên, việc tạo môi trường TV cho HSDT là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ 2 2.1. Ghi lại những việc làm trong thực tế giảng dạy mà bạn nghĩ rằng đã tạo môi trường TV cho HSDT. 2.2. Hãy nghĩ về những việc làm của đồng nghiệp mà bạn cho rằng có tác động tốt đến môi trường học TV cho HSDT và trao đổi việc làm của mình với đồng nghiệp. 2.3. Đọc phần thông tin cơ bản dưới đây và suy nghĩ về các câu hỏi sau : − Trước đây bạn có bao giờ nghĩ về vai trò này không ? − Khi học xong phần này bạn thấy cần phải làm gì để thực hiện đúng vai trò của mình ? Thông tin cơ bản Phương pháp tạo môi trường TV cho HSDT được hiểu là những tác động của con người nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, tích cực giúp HSDT học TV. Trong việc tạo môi trường TV cho HSDT, GV đóng vai trò là cầu nối để HSDT đến với TV, là người "đem" TV đến với HSDT, cụ thể : − GV là người trực tiếp giảng dạy môn TV và các môn học khác bằng TV. Như vậy, thông qua hoạt động dạy học GV là người có nhiều cơ hội tiếp cận với HSDT bằng TV trong môi trường học đường. − Thông qua các hoạt động bổ trợ, GV là người vận động, "lôi kéo", hướng dẫn các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình tạo môi trường TV trong và ngoài nhà trường. Hoạt động 3. Tìm hiểu một số biện pháp tạo môi trường TV cho HSDT Nhiệm vụ 1
  16. Tìm hiểu biện pháp tạo môi trường TV trong nhà trường. 1.1. Nghĩ về lớp học bạn dạy và tự trả lời các câu hỏi sau : − Trong lớp học được trang trí, trưng bày những gì ? Những sản phẩm trưng bày nào bạn cho là có thể giúp HSDT học TV ? − Bạn đã tổ chức những hoạt động nào để HS có thể "tiếp cận" với các sản phẩm trưng bày ấy ? − Liệt kê các sản phẩm có thể trưng bày trong lớp học để tạo môi trường TV. 1.2. Làm việc theo nhóm : − Mô tả lại 2 − 3 hoạt động giao tiếp giữa GV − HS, giữa HS − HS trong lớp học của bạn. − Chia sẻ kinh nghiệm về cách tăng cường giao tiếp cho HS trong và ngoài giờ học. − Đọc thông tin cơ bản bên dưới và so sánh với thực tế trường, lớp mình dạy (Đã làm được gì ? Chưa làm được gì ? Cần cải thiện như thế nào ? ). 1.3. Thực hành (theo nhóm GV cùng dạy một khối lớp, có thể tổ chức cho HS cùng làm) : − Đọc phụ lục "Tạo môi trường TV trong nhà trường" và lập kế hoạch làm một số sản phẩm/ đồ dùng dạy học phù hợp với trình độ HS khối lớp đang dạy. Trong đó xác định rõ : − Làm những sản phẩm ( hoặc tổ chức hoạt động) nào ? − Trưng bày sản phẩm ở đâu ? − Dự kiến sẽ tổ chức hoạt động để HS "giao tiếp" với các sản phẩm ấy như thế nào ? Thông tin cơ bản Tạo môi trường học TV trong nhà trường 1. Tạo cảnh quan TV trong và ngoài lớp học Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt là giai đoạn đầu của cấp Tiểu học. Một lớp học sạch sẽ, được trang trí "bắt mắt" sẽ thu hút được sự chú ý, yêu thích của HS. Trưng bày không chỉ có tác dụng trang trí, làm đẹp lớp học mà cần phải tạo ra môi trường cảnh quan TV để giúp HSDT học TV. Nếu hằng ngày HS được "tắm" trong một không gian lớp học TV thì chắc chắn TV sẽ dần dần "thấm" vào trí nhớ của các em. Ngoài cờ Tổ quốc, ảnh Bác Hồ, khẩu hiệu (quy định chung), các sản phẩm trưng bày để tạo cảnh quan TV rất đa dạng, phong phú. Có thể là : − Danh sách lớp, khẩu hiệu theo chủ đề, truyện tranh, sách đọc thêm − Đồ dùng dạy học : Mô hình, tranh ảnh, mẫu vật, bản đồ, bảng chữ cái − Sản phẩm của HS : Vở sạch chữ đẹp, tranh vẽ, bài kiểm tra, sản phẩm thủ công
  17. Tuỳ vào điều kiện cụ thể của không gian nhà trường, lớp học để chọn lựa và trưng bày các sản phẩm cho phù hợp. Có những sản phẩm được trưng bày cố định suốt cả năm học (khẩu hiệu, danh sách lớp ) nhưng nhiều sản phẩm khác cần được thay đổi theo tháng, tuần, ngày cho phù hợp với chủ đề, nội dung học và khả năng TV của HS. Sự đơn điệu, thiếu linh hoạt trong trưng bày sẽ dẫn đến tâm lí nhàm chán đối với HS. Cần thay đổi, phối hợp giữa các môn học trong bài trí không gian lớp học, không nên chỉ trưng bày sản phẩm của môn TV. Trong khuôn viên nhà trường có thể có bản tin, khẩu hiệu, panô, áp phích Điều quan trọng là phải tổ chức cho HS "tiếp cận" với sản phẩm. Bởi nếu không, trưng bày chỉ dừng lại ở trang trí hình thức mà không đạt được hiệu quả giáo dục TV. Trong quá trình dạy học, GV cần tổ chức cho HS tham gia vào các hoạt động như : làm các sản phẩm để trưng bày, trao đổi về các sản phẩm, thực hành trên sản phẩm nhằm hướng đến mục đích rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết TV cho HSDT. 2. Tăng cường hoạt động giao tiếp • HSDT thường ít có cơ hội giao tiếp TV ở gia đình và ngoài xã hội. Tâm lí nhút nhát, thiếu tự tin, ngại giao tiếp với người lạ thường thấy ở HSDT. Do vậy, GV cần tạo nhiều cơ hội để HS được thực hành giao tiếp TV bằng cách : + Tận dụng tối đa tình huống thực : Trong quá trình dạy học thường xuyên đặt câu hỏi và hướng dẫn HS đặt câu hỏi ; dạy cách giao tiếp với người lớn trong trường (GV, cán bộ, phụ huynh, khách đến thăm trường) ; tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể nhưtrò chơi, văn nghệ + Xây dựng các tình huống giả định : Cho HS đóng vai các nhân vật trong bài học, tạo ra các tình huống và hướng dẫn HS xử lí tình huống/đóng vai nhân vật trong tình huống • Các hoạt động giao tiếp của HS cần theo hướng mở rộng dần vòng giao tiếp : − Từ gần đến xa : HS với HS, HS với GV trực tiếp dạy, HS với các GV khác, HS với cán bộ, công nhân viên, HS với khách đến thăm trường − Từ hẹp đến rộng : Từ giao tiếp với một người đến giao tiếp với nhiều người. Chú trọng giao tiếp giữa HS − HS thông qua hình thức mở rộng nhóm : nhóm 2, nhóm 3− 4 , nhóm cùng tuổi, nhóm cùng sở thích, theo tổ Và mở rộng hơn là giao tiếp với HS các lớp khác. Chú ý nhắc nhở HS sử dụng TV để giao tiếp với bạn bè trong giờ ra chơi, nhất là ở những trường HS gồm nhiều thành phần dân tộc. Nội dung giao tiếp cần gắn với chủ điểm đã được học (về bản thân, bạn bè, gia đình ) và các sinh hoạt thường nhật của HS. • Tạo điều kiện để HS được "giao tiếp" với công cụ dạy − học và tài liệu bổ trợ như truyện, sách đọc thêm, tranh ảnh − Tích cực làm đồ dùng dạy học và sử dụng chúng trong quá trình giảng dạy.
  18. − Tổ chức cho HS mượn và đọc truyện của thư viện hoặc truyện của cá nhân HS, trao đổi sách, truyện trong quá trình đọc và trao đổi về nội dung đã đọc với bạn bè, GV. Nhiệm vụ 2 Tìm hiểu biện pháp tạo môi trường TV ở gia đình. 2.1. Suy nghĩ và trả lời : − Bạn thường quan tâm đến những gì khi tìm hiểu về gia đình HS ? − Những thông tin nào bạn cho rằng cần thiết cho việc tạo môi trường TV ở gia đình HS. − Bằng cách nào bạn có được các thông tin trên ? 2.2. Bạn hãy đọc phần thông tin cơ bản, sau đó : − So sánh với việc làm của bản thân và ghi thành 2 cột : Những việc đã làm Những việc chưa làm được − Trao đổi với đồng nghiệp về những nội dung còn chưa rõ. 2.3. Tự lập kế hoạch khảo sát và tạo môi trường TV ở gia đình cho HS lớp mình phụ trách. Thông tin cơ bản Tạo môi trường TV ở gia đình Cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống đồng bào vùng dân tộc từng bước được cải thiện. Các phương tiện nghe nhìn như ti vi, ra đi ô, sách báo đã có trong nhiều gia đình. Hơn nữa, số phụ huynh trẻ biết TV ngày càng tăng. Đây là những tín hiệu tốt làm cơ sở cho việc xây dựng môi trường TV ở gia đình HS. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh HS chưa có ý thức và cũng chưa biết cách tạo điều kiện giúp đỡ con em học tập ở nhà. Do vậy, GV cần : − Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình HS : tivi, đài, sách báo TV, tình hình sử dụng TV, góc học tập, nghề nghiệp của bố mẹ − Có thể khảo sát bằng các cách : phỏng vấn HS, trực tiếp đến thăm và phỏng vấn gia đình HS, gặp gỡ trao đổi với cán bộ xã, thôn Biểu mẫu khảo sát : (tham khảo) Trường Tiểu học Chiềng Xuân Lớp : 2 Thông tin về điều kiện tạo môi trường TV ở gia đình (Năm học 2004 − 2005)
  19. Dựa vào kết quả khảo sát, GV xây dựng kế hoạch cụ thể để vận động phụ huynh HS tạo môi trường TV phù hợp với điều kiện của từng gia đình. Cụ thể như sau : • Vận động phụ huynh tạo góc học tập cho con em Họp phụ huynh hoặc đến từng gia đình vận động, hướng dẫn phụ huynh tạo góc học tập cho con em : − Đóng bàn học bằng vật liệu có ở gia đình : có thể chỉ là tre nứa, gỗ, ván đơn giản Chú ý độ cao, độ rộng của bàn ghế phải vừa tầm với HS. − Chọn vị trí đặt bàn học ở nơi đủ ánh sáng, thoáng, yên tĩnh. − Trang trí góc học tập : Thời khoá biểu, giấy khen (nếu có), hoa giấy tự làm, dán báo, tranh ảnh (Hướng dẫn HS tự làm) Ví dụ : ở lớp 2, trường Chiềng Xuân (nêu trên), em Bông và Nhót chưa có góc học tập ở nhà. GV cần gặp phụ huynh em Bông và em Nhót (trong cuộc họp phụ huynh hoặc đến nhà) để thuyết phục và hướng dẫn tạo góc học tập cho các em. Em Phong đã có góc học tập, GV cần đến trực tiếp hoặc hỏi Phong để xem vị trí và cách trang trí góc học tập đã thích hợp chưa, hướng dẫn Phong và gia đình thực hiện nếu cần thiết. • Hướng dẫn phụ huynh giao tiếp, kiểm tra việc học của con em Hướng dẫn cụ thể, phù hợp với điều kiện và khả năng nói TV của phụ huynh. Các hoạt động cần hướng dẫn phụ huynh thực hiện là : − Tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài (dành khoảng thời gian cố định trong ngày để con em học, không bắt làm việc nhà). − Thỉnh thoảng quan sát việc học của con em : Sách vở có ngăn nắp, gọn gàng không ? Có chăm chú khi học không ? Vở viết như thế nào ? − Thỉnh thoảng hỏi con em về việc học ở trường (bằng TV). − Nhắc nhở con em nghe đài, xem tivi, đọc sách báo (nếu gia đình có) và trao đổi nội dung nghe, đọc được cho người thân trong gia đình. Ví dụ : ở lớp 2, trường Chiềng Xuân : − Em Bông nhà có tivi, có chị học lớp 5 − GV nhắc nhở em Bông về nhà thường xuyên hỏi chị bài vở. − Em Nhót nhà có đài, có mẹ biết ít TV − GV hướng dẫn người mẹ giao tiếp với Nhót những câu đơn giản phù hợp với khả năng TV của mẹ.
  20. − Em Phong có bố, mẹ đều biết TV (đặc biệt bố là cán bộ xã, sử dụng tốt TV) − GV yêu cầu bố mẹ giao tiếp bằng TV với Phong thường xuyên, kèm cặp em học Nhiệm vụ 3 Tìm hiểu biện pháp tạo môi trường TV trong cộng đồng 3.1. Suy nghĩ về ví dụ sau : − ở một trường tiểu học nọ, nhà trường đã kết hợp với Đoàn Thanh niên xã tổ chức một số hoạt động như : văn nghệ, thi đọc thơ/ kể chuyện nhân các ngày Quốc tế thiếu nhi, tết Trung thu, ngày Nhà giáo tại địa bàn xã có sự tham gia của cộng đồng. − Bạn hãy phân tích ảnh hưởng tích cực của các hoạt động trên đối với việc học TV của HS. − Thử nêu một số hoạt động tạo môi trường TV mà bạn nghĩ có thể thực hiện được tại địa phương. 3.2. Giả sử bạn được nhà trường giao nhiệm vụ phối hợp với đài phát thanh xã mở một chuyên mục dành cho thiếu nhi, bạn sẽ làm như thế nào ? − Hãy ghi các bước thực hiện nhiệm vụ trên. − Nếu chương trình được thực hiện, bạn thử hình dung HS và cộng đồng sẽ "đón tiếp" nó như thế nào ? 3.3. Đọc thông tin cơ bản và chia sẻ ý kiến của bạn với đồng nghiệp, cán bộ quản lí nhà trường. Thông tin cơ bản Tạo môi trường TV trong cộng đồng Giao thông, đường sá ở vùng dân tộc từng bước được cải thiện, nhiều vùng dân tộc đã có người Kinh sống xen kẽ, các phương tiện thông tin bằng TV ngày càng nhiều. Nhu cầu giao lưu văn hoá, trao đổi mua bán ngày càng phát triển. Do đó, số người biết TV trong cộng đồng ngày càng tăng. Có thể huy động cộng đồng tham gia vào việc tạo môi trường TV bằng cách : 1. Vận động cộng đồng giao tiếp với HS bằng TV − Phối hợp với Hội cha mẹ HS, chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động những người biết nói TV có ý thức giao tiếp bằng TV với HS trong sinh hoạt cộng đồng (đặc biệt là cán bộ xã, cán bộ các đoàn thể trong xã). − Hướng dẫn cộng đồng một số biện pháp giao tiếp đơn giản với HS như : + Khi gặp HS đi học về : nhắc các em chào bằng TV/chào các em bằng TV hoặc hỏi HS một số câu đơn giản như : Cháu học lớp mấy ? Cô nào dạy ? Hôm nay cháu được mấy điểm ? + Yêu cầu các em đọc các câu khẩu hiệu, áp phích, bảng tin, sách trong điều kiện có thể. 2. Mở chuyên mục phát thanh dành cho thiếu nhi GV kết hợp với tổng phụ trách đội cần thực hiện hoạt động này bằng cách :
  21. − Phối hợp với chính quyền địa phương, đài phát thanh xã để phát chương trình thiếu nhi hằng tuần vào một ngày cố định, giờ cố định. − Nội dung chương trình phát có thể là đọc truyện, kể chuyện, đọc thơ, hát, kịch, nêu gương tốt của HS − Chọn những HS có năng khiếu, tập dượt để thực hiện chương trình phát thanh. − Thông báo cho HS, GV toàn trường và phụ huynh về chương trình, thời gian để họ có ý thức lắng nghe. 3. Phối hợp với Đoàn Thanh niên xã tổ chức các hoạt động tập thể như : lễ hội, văn nghệ, thể thao, tổ chức cho HS tham gia dán, viết các khẩu hiệu, áp phích quảng cáo, tuyên truyền ở nơi công cộng hoặc yêu cầu HS đọc cho gia đình và người khác cùng biết. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ Câu 1. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng cho câu hỏi : Thế nào là môi trường học tiếng ? A. Là các điều kiện tự nhiên trong và ngoài nhà trường có tác động đến quá trình học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ. B. Là những tác động của con người nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi, tích cực giúp cho HSDT học TV. C. Là các điều kiện tự nhiên, xã hội, các phương tiện, hoạt động trong và ngoài nhà trường có tác động đến quá trình học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ. Câu 2. Bạn hãy viết vài ý để giải thích cho câu hỏi : Tại sao việc tạo môi trường TV cho HSDT lại cần thiết ? Câu 3. Hãy liệt kê các biện pháp tạo môi trường TV cho HSDT theo bảng sau : Trong nhà trường Ở gia đình HS Trong cộng đồng Câu 4. Tự đánh giá khả năng vận dụng từng biện pháp nêu trên vào thực tế giảng dạy theo các mức độ sau : Tốt, Khá, Đạt yêu cầu, Chưa đạt yêu cầu. Câu 5. Đánh dấu x vào ô trống trước lựa chọn của bạn cho câu hỏi sau : Bạn sẽ làm gì sau khi học xong bài học này ? Chưa biết phải làm gì. Xây dựng kế hoạch tạo môi trường TV.
  22. Trao đổi với đồng nghiệp về nội dung bài học, xây dựng và thực thi kế hoạch tạo môi trường TV cho HS lớp mình phụ trách. IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ Câu 1. Phương án C. Câu 2. Bạn đã nắm chắc kiến thức nếu phần viết của bạn có các ý sau : − Trẻ em dân tộc thường không có môi trường học TV thời kì trước tuổi đi học. Do vậy, thiếu sự tác động của môi trường TV tự nhiên hằng ngày. Tức là TV chưa được "thấm" vào trẻ hằng ngày để tạo nên nền tảng ban đầu. − Thời gian học TV bó hẹp trong thời gian học trên lớp, ở trường và một số hoạt động ngoài giờ học. − Không gian học TV thường bị hạn chế trong lớp học, trường học. − Không có nhiều cơ hội để thực hành sử dụng TV trong giao tiếp. Câu 3 : Bạn đã thành công nếu bạn ghi được như bảng sau : Trong nhà trường Ở gia đình HS Trong cộng đồng 1. Tạo cảnh quan TV trong 1. Vận động phụ huynh tạo 1. Vận động cộng đồng và ngoài lớp học. góc học tập cho con em. giao tiếp với HS bằng TV. 2. Hướng dẫn phụ huynh 2. Mở chuyên mục phát 2. Tăng cường hoạt động giao tiếp, kiểm tra việc học thanh dành cho thiếu nhi. giao tiếp trong và ngoài giờ của con em. 3. Phối hợp với Đoàn học. Thanh niên xã tổ chức các hoạt động tập thể. Câu 4. Bạn hãy trao đổi phần tự đánh giá của bạn với các đồng nghiệp để chia sẻ những kinh nghiệm tốt và tìm biện pháp khắc phục khó khăn. Câu 5. Nếu bạn chọn : "Trao đổi với đồng nghiệp về nội dung bài học, xây dựng và thực thi kế hoạch tạo môi trường TV", bạn đã thực sự có chuyển biến về ý thức và hành động sau khi học. Nếu bạn chọn : "Xây dựng kế hoạch tạo môi trường TV", bạn đã có chuyển biến về nhận thức nhưng cần cố gắng hiện thực hoá. Nếu bạn chọn : "Chưa biết phải làm gì", bạn hãy cố gắng học lại bài này và tìm sự giúp đỡ ở đồng nghiệp. Tin rằng bạn sẽ tìm được lời giải đáp. Phụ lục : Tạo môi trường Tiếng việt trong nhà trường 1. Tạo cảnh quan TV trong lớp học 1.1. Thư viện tí hon − Mục đích : Tủ sách nhỏ trong lớp học là biện pháp rất hữu ích giúp HS rèn luyện TV và hình thành thói quen đọc sách. GV cũng có thể sử dụng những tranh ảnh trong các truyện, sách đọc thêm để làm đồ dùng dạy học (ĐDDH) khi cần thiết.
  23. − Cách làm : Tuỳ vào điều kiện và khả năng của mỗi trường, mỗi GV để xây dựng tủ sách của lớp, trường. Có thể huy động cộng đồng góp công sức hoặc vật liệu để đóng tủ/giá đựng sách hoặc kêu gọi sự ủng hộ của chính quyền xã, các cơ quan, tổ chức ; tận dụng các thùng giấy to, bàn ghế hỏng để "chế tạo" ra tủ đựng sách Có thể "sưu tầm" sách, báo từ nhiều nguồn : Dự án cung cấp, đóng góp của GV, HS, ủng hộ của các cơ quan đoàn thể Nội dung, hình thức của sách báo phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi và có tính giáo dục. − Cách trưng bày : Tủ sách được đặt ở cuối lớp học (ở giữa hoặc hai bên góc phòng). − Cách tổ chức : • Đầu giờ học hoặc giờ ra chơi tổ chức cho các em mượn và đọc sách tại lớp. Nên cho mượn theo tổ, nhóm để các tổ trưởng, nhóm trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở và bảo quản sách. Khi HS đã thành nếp, GV có thể giao nhiệm vụ này cho cán bộ lớp. • Kết hợp với phụ trách Đoàn, Đội quy định "ngày đọc sách" toàn trường để GV và HS cùng chủ động thực hiện (trong tuần). • Trong các buổi sinh hoạt tập thể, HS kể lại những câu chuyện, thông tin đã đọc được cho cả lớp cùng nghe. • Trao đổi sách, báo với các lớp khác để HS tất cả các lớp có cơ hội đọc nhiều đầu sách. • Tổ chức HS sưu tầm tranh ảnh, truyện phục vụ cho các nội dung học. − Cần giáo dục HS ý thức bảo vệ, giữ gìn sách của thư viện : sắp xếp ngăn nắp, đọc xong để đúng vị trí cũ, không mang sách về nhà, giữ sách cẩn thận khi đọc 1.2. Danh sách lớp − Mục đích : Thực tế không ít HSDT chưa biết viết hoặc viết chưa chính xác tên của mình và tên của bạn (ngay cả những HS lớp 2, 3, 4). Việc trưng bày Danh sách lớp sẽ giúp HS biết được lớp học có bao nhiêu bạn, tên của mình và tên của các bạn được viết như thế nào, ngày sinh của bạn, vị trí ngồi của bạn, tên cô giáo và ngày sinh của cô Danh sách lớp cần thiết đối với tất cả các lớp, đặc biệt là các lớp đầu cấp. − Cách làm : Giấy khổ to (A0), nẹp gỗ hoặc tre, dây để treo hoặc hồ, băng dính để dán, bút nét to Có nhiều cách lập danh sách lớp : Theo thứ tự A,B,C, theo tổ, theo vị trí ngồi Danh sách lớp cần được viết với cỡ chữ to, rõ ràng, đúng mẫu và trang trí "bắt mắt". Tham khảo một số mẫu sau : Danh sách theo tổ : Lớp 1B chúng mình GVCN : Lê Văn Ngọc
  24. Danh sách theo sơ đồ lớp : Gia đình 2A GVCN : Nguyễn Thị Hoa Danh sách theo thứ tự A, B, C Tổ ấm 1A GVCN : Hoàng Thị Nga
  25. − Cách trưng bày : Danh sách lớp thường được treo, dán ở mặt tường đầu lớp hoặc cuối lớp (cũng có thể thay đổi vị trí cho phù hợp với điều kiện cụ thể). Chú ý đến vị trí và độ cao phải vừa tầm với HS để các em dễ quan sát. Có thể trưng bày danh sách lớp trong suốt năm?học. − Cách tổ chức : • Có thể chọn một số HS có chữ viết đẹp cùng làm danh sách lớp với GV. • Khi HS viết sai hoặc chưa chính xác tên của mình (trong các bài kiểm tra) GV hướng dẫn HS nhìn danh sách lớp để viết cho đúng. • Trong giờ ra chơi cho từng nhóm HS tìm đọc tên mình và tên các bạn. • Tổ chức trò chơi "Tìm bạn" (theo nhóm, cá nhân) : Hãy tìm tên bạn Sùng A Chính và viết/đọc lại tên bạn cho đúng. • Gợi ý để HS phát hiện sinh nhật của các bạn trong lớp và nói lời chúc mừng sinh nhật bạn. 1.3. Bảng chữ cái − Mục đích : Với các từ, hình ảnh minh hoạ sinh động, Bảng chữ cái sẽ giúp HS luyện phát âm, viết, nhận diện 29 chữ cái trong quá trình học tập trên lớp. − Cách làm : Giấy A0, nẹp gỗ/ tre, dây để treo hoặc hồ/băng dính để dán, bút màu Dựa theo bảng chữ cái trong SGK Tiếng Việt 1 để làm. GV có thể chọn các từ và hình ảnh gần gũi, phù hợp với HSDT. Các hình ảnh minh hoạ có thể tự vẽ phỏng theo SGK hoặc sưu tầm. − Cách trưng bày : Treo/dán lên tường, bảng ở một vị trí thích hợp để HS dễ dàng quan sát và đọc bảng chữ cái. Có thể trưng bày bảng chữ cái trong suốt năm học. − Cách tổ chức : • Khi dạy đến một âm, GV có thể dùng giấy màu/bông hoa đánh dấu vào âm ấy trên bảng chữ cái để thu hút sự chú ý của HS.
  26. • Phân chia HS theo nhóm (3 − 4 em, mỗi nhóm nên có 1 HS khá làm nhóm trưởng), theo ngày để các em cùng nhau luyện phát âm các âm đã học trên bảng chữ cái. • Thi đua giữa các nhóm : tìm từ (trong bài hoặc ngoài bài) có chứa âm đã học (GV chỉ âm trên bảng chữ cái hoặc hướng dẫn HS điều khiển). 1.4. Bảng từ cùng vần − Mục đích : Bảng từ cùng vần có thể giúp HS nhớ được những từ đã học, biết được các nhóm từ có cùng vần và có thể luyện đọc, viết các vần, từ (Phù hợp với lớp 1, lớp 2). − Cách làm : Giấy A0 (nếu giấy cứng càng tốt), giấy màu, nẹp gỗ/ tre, dây để treo hoặc hồ/băng dính để dán, bút màu Xem mẫu sau : • Thẻ từ được làm với kích cỡ phù hợp với từ, khoảng 7 cm x 14 cm : Một thẻ từ • Thẻ vần làm với kích cỡ lớn tương tự như thẻ từ, vần được viết đậm hơn và có thể viết trên giấy màu để tạo sự "bắt mắt" đối với HS. Một thẻ vần − Cách trưng bày : Tương tự như Bảng chữ cái − Cách tổ chức : • Sau khi HS đã học 3 − 4 vần (1 tuần học) GV có thể chuẩn bị một số thẻ từ có chứa các vần đã học và phát cho HS (cá nhân hoặc nhóm). HS sẽ xác định và dán thẻ từ của mình vào ô vần phù hợp. • HS có thể viết ra các từ có cùng vần và gắn vào bảng trên khi các em gặp từ mới. • Có thể hướng dẫn HS đọc, tập viết trong những giờ các em được giải lao hoặc thi đọc đúng, viết đúng và đẹp các từ đã học. 1.5. Sản phẩm của HS − Mục đích : Trưng bày sản phẩm của HS (bài kiểm tra, tranh vẽ, sản phẩm thủ công) là biện pháp tốt để khích lệ tinh thần học tập, học hỏi lẫn nhau. − Cách làm : Chọn những vở sạch chữ đẹp, bài kiểm tra đạt điểm khá giỏi, tranh vẽ và các sản phẩm thủ công khéo tay. Dùng dây/kẹp để treo trên tường hoặc dành một góc trong giá tủ/giá sách để trưng bày
  27. − Cách tổ chức : • GV giải thích lí do chọn trưng bày và khen ngợi những "chủ nhân" của các sản phẩm. • HS xem và trao đổi về các sản phẩm. • Thường xuyên thay đổi, bổ sung các sản phẩm mới. Chú ý động viên những sản phẩm của HS có sự tiến bộ. Ngoài các vật dụng cơ bản trên, GV có thể trưng bày những ĐDDH khác phù hợp với nội dung dạy học của từng ngày, tuần, tháng của các môn học khác như Toán, Tự nhiên và Xã hội (Xem thêm phần Làm đồ dùng dạy học). Ví dụ : Tranh về các bộ phận trên cơ thể người : Tay, chân, mắt, mũi, đầu sẽ giúp HS củng cố các từ chỉ bộ phận cơ thể con người trong TV và nắm chắc hơn kiến thức của môn Tự nhiên và Xã hội. Tranh về các loài cây, hoa, con vật có ghi tên rõ ràng (tên có thể làm rời để HS có thể chơi trò gắn tên vào tranh vẽ con vật, loài hoa, cây ). Tranh về các con vật gắn liền với các phép tính 2. Tổ chức các hoạt động giao tiếp 2.1. Nhóm bạn − Phân thành nhóm bạn : Ban đầu nhóm 2, sau đó tăng thành nhóm 3 − 4. Các thành viên trong nhóm chuyện trò với nhau, trao đổi về các thông tin như gia đình, làng xóm, nội dung bài học, các chủ điểm học tập Các thành viên trong nhóm phải nắm được thông tin về "bạn" mình hoặc những nội dung đã trò chuyện, trao đổi với nhau. − GV "kiểm tra" bằng cách thỉnh thoảng đặt câu hỏi cho các thành viên trong nhóm : Ví dụ : Hôm qua nhóm Thỏ nâu trao đổi về việc gì ? Nhà bạn Nình ở đâu ? 2.2. Hộp thư cá nhân : Trao đổi bằng hình thức viết Cách làm : Mỗi thành viên trong lớp có một hộp thư, có thể kết hợp với Danh sách lớp theo mẫu sau : Tổ ấm 1A GVCN : Hoàng Thị Nga − Cách tổ chức : • Thỉnh thoảng GV viết câu hỏi bỏ vào một số hộp thư để các em viết câu trả lời. Nội dung câu hỏi phải đơn giản, ngắn gọn và phù hợp với trình độ của HS.
  28. • Hướng dẫn HS "viết thư" và gửi vào hộp thư cho bạn : Nội dung thư có thể chỉ là một câu hỏi ngắn hoặc một thông tin ngắn, một tranh vẽ đơn giản HS nào nhận được "thư" sẽ viết thư trả lời bạn. Ví dụ : 2.3. Giao tiếp với cán bộ nhân viên trong trường hoặc với khách − Tạo các cuộc gặp gỡ, giao tiếp giữa HS với cán bộ nhân viên trong trường bằng cách : + Cho từng nhóm HS/cả lớp chủ động đến gặp gỡ và trò chuyện với cán bộ nhân viên. GV hướng dẫn HS cách chào và đặt các câu hỏi phù hợp với đối tượng giao tiếp.
  29. + Mời cán bộ nhân viên trong trường đến lớp học giao tiếp với HS trong những giờ sinh hoạt tập thể. GV hướng dẫn cán bộ nhân viên trò chuyện với HS xung quanh các chủ đề về việc học tập, gia đình − Hướng dẫn HS giao tiếp với khách khi khách đến thăm trường/lớp : + Tạo ra tình huống giả định : GV đóng vai là người khách để giao tiếp với HS. + Tận dụng tình huống thực : GV cần tận dụng cơ hội cho HS thực hành trên tình huống thực khi có khách đến trường. Giao tiếp nhiều với các đối tượng trên sẽ giúp HS tự tin, mạnh dạn.
  30. CHỦ ĐỀ 3 (4 tiết) Sử dụng Tiếng Mẹ đẻ của học sinh dân tộc trong dạy học Tiếng Việt và các hoạt động giáo dục I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức − Nắm được sự cần thiết và cách thức sử dụng tiếng mẹ đẻ của HSDT (viết tắt là : TDT) trong dạy học TV và các hoạt động giáo dục. 2. Kĩ năng HV có khả năng vận dụng được hiểu biết của mình về phương pháp tận dụng TDT trong dạy học trên lớp và tổ chức giáo dục cho HSDT. 3. Thái độ − HV có ý thức sử dụng TDT có mức độ và liều lượng trong dạy học và giáo dục. Không lạm dụng TDT, cũng không cự tuyệt với TDT. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tìm hiểu sự cần thiết sử dụng TDT trong dạy học Nhiệm vụ 1. Thảo luận với đồng nghiệp − HSDT trong lớp bạn sử dụng TDT trong những tình huống nào ? − Hãy giải thích tại sao các em lại sử dụng TDT trong những tình huống đó ? − Những TDT nào thường được các em sử dụng ở trong lớp của bạn ? 2. Thiết lập danh sách HS lớp mình phụ trách theo các nội dung sau : Họ và tên Dân tộc Nói TDT Ghi chú Vàng A Chư Hmông Hmông Lò Thị Hiền Thái Hmông, Thái Sống ở bản người Hmông Hà Thị Lan Xinh - mun Thái Mẹ dân tộc Thái Thông tin cơ bản 1. Mỗi người đều có TMĐ của mình, thông thường, TDT của mỗi người là TMĐ của người đó. Ví dụ : em Sùng A Chua dân tộc Hmông, TMĐ của em là tiếng Hmông. Do tình trạng sống xen kẽ giữa các dân tộc đang phổ biến ở vùng dân tộc nên nhiều người?ngoài TMĐ của mình còn sử dụng được nhiều tiếng của các dân tộc khác. Ví dụ :
  31. em Lò Thị Hiền là người Thái, em có thể nói được tiếng Thái và cả tiếng Hmông, do em sống ở bản người Hmông. Để dễ phân biệt giữa TMĐ của HSDT (tiếng Thái, tiếng Hmông, tiếng Ê-đê ) với TV, người ta thường gọi chung là TDT. Sau đây sử dụng thuật ngữ TDT để chỉ TMĐ của HSDT và chỉ tiếng các dân tộc thiểu số (DTTS) nói chung. 2. HSDT thường sử dụng TDT trong các hoạt động ở trong và ngoài lớp, trong học tập và trong các hoạt động khác. Mức độ sử dụng TDT không đồng đều ở HSDT. Thông thường, HS ở các lớp đầu cấp sử dụng TDT nhiều và phổ biến hơn HS ở các lớp cuối cấp. HSDT thường sử dụng TDT ở trường, lớp do nhiều nguyên nhân : − TDT là TMĐ của các em. − Do các em chưa có đủ vốn TV. − Do các em chưa có ý thức sử dụng TV. 3. Việc sử dụng TDT trong dạy học TV và tổ chức các hoạt động giáo dục một cách hợp lí là tận dụng được vốn ngôn ngữ sẵn có của các em để tiếp nhận một ngôn ngữ mới (tiếng Việt) cũng như tiếp thu các kiến thức khác. Đồng thời, giúp các em khắc phục được tâm lí e ngại những ngày đầu tới lớp. Hoạt động 2. Tìm hiểu việc sử dụng TDT trong dạy học TV và các hoạt động giáo dục Nhiệm vụ 1. Hãy thảo luận với đồng nghiệp : TDT nào được lựa chọn để sử dụng trong dạy học ? − TDT có số HSDT đông nhất. − TDT của các dân tộc khác nhau. − TDT được nhiều HS các dân tộc sử dụng. 2. Hãy liệt kê các mẫu câu thường sử dụng bằng TDT trong điều khiển lớp, điền vào cột theo bảng sau : Trong giờ dạy TV Trong giờ dạy toán Trong điều khiển Trong các hoạt lớp động giáo dục khác 3. Thảo luận với đồng nghiệp :
  32. − Trong quá trình dạy học, bạn sử dụng TDT trong những trường hợp nào có hiệu quả nhất ? Hãy liệt kê những trường hợp đó. Sau đó đọc thông tin dưới đây để hoàn thiện ý kiến cá nhân. Thông tin cơ bản 1. ở mỗi vùng, khu vực thường có một thứ TDT được sử dụng phổ biến hơn cả. Người ta quen gọi đó là "tiếng phổ thông vùng". Ví dụ : ở Lai Châu tiếng Thái được nhiều dân tộc thiểu số trong vùng sử dụng. Như vậy, ở Lai Châu khi sử dụng tiếng Thái, nhiều người thuộc các DTTS khác cũng có thể nghe hiểu được. GV cần tận dụng được đặc điểm sử dụng ngôn ngữ này ở các vùng dân tộc trong dạy TV và tổ chức các hoạt động giáo dục khác. GV tìm hiểu HS lớp mình thuộc những dân tộc nào ? Nếu các em thuộc nhiều DTTS khác nhau thì DT nào chiếm đa số trong lớp ? TDT nào có thể được nhiều em nghe hiểu được ? Trên cơ sở đó GV lựa chọn lấy một TDT phổ biến nhất để hỗ trợ trong dạy học TV và tổ chức các hoạt động giáo dục khác. 2. GV có thể sử dụng vốn tiếng mẹ đẻ sẵn có của HSDT để trợ giúp các em học TV trong một số trường hợp : − Dịch một số câu lệnh sử dụng trong một số trường hợp : • Để tổ chức, ổn định lớp trong những ngày đầu HS tới lớp. Ví dụ : Các em xếp hàng ! Các em vào lớp ! Các em trật tự ! • Để điều khiển HS trong giờ dạy các môn học. Ví dụ : Các em giơ bảng ! Các em gấp sách lại ! − Cung cấp nghĩa từ với những từ không thể sử dụng các phương pháp khác trong các môn học. Ví dụ : Trong bài TV, dịch những từ như : đám cưới, lễ hội, chợ ; như thế nào ? Tại sao ? − Đối chiếu với cấu trúc câu, cấu tạo từ mà HS hay nói sai do ảnh hưởng cách cấu trúc câu và cấu tạo từ của TDT. Lưu ý : Chỉ sử dụng TDT trong những trường hợp không có phương pháp nào có thể giúp HS hiểu được. Không lạm dụng TDT trong quá trình tổ chức dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục. GV cần chuẩn bị trước những mẫu câu, vốn từ TDT sẽ sử dụng trước khi lên lớp. Hoạt động 3. Cách sử dụng TDT trong dạy học TV và tổ chức các hoạt động giáo dục Nhiệm vụ
  33. 1. Hãy so sánh các cách sử dụng TDT trong câu điều khiển lớp : − Nói TDT trước, nói TV sau. − Nói TV trước, nói TDT sau. − Chỉ nói bằng TDT. − Chỉ nói bằng TV. Bạn sử dụng cách nào ? Tại sao ? 2. Thảo luận với đồng nghiệp : Làm thế nào để xác định được mức độ sử dụng TDT trong dạy học ? Sau đó đọc thông tin dưới đây để hiểu rõ việc sử dụng TDT trong dạy học. 3. Thử thiết kế bài dạy, trong đó có quy định những từ ngữ, câu cần sử dụng TDT. Thông tin cơ bản 1. Mục đích cuối cùng của việc sử dụng TDT trong dạy học là nhằm giúp HS hiểu TV tốt hơn, sử dụng TV thành thục hơn. Bởi vậy, cần thiết phải có quy trình cụ thể cho việc sử dụng TDT trong các trường hợp khác nhau. Có như vậy mới tránh được tình trạng GV sử dụng tràn lan TDT. Việc sử dụng tràn lan TDT sẽ dẫn tới tình trạng HS chậm sử dụng được TV, có thái độ ỷ lại vào vốn ngôn ngữ sẵn có của mình mà không cố gắng để nắm vững TV. 2. Để sử dụng TDT có hiệu quả, đạt mục đích, GV cần tiến hành một số việc làm cụ thể, theo các bước sau : − Đánh giá được trình độ TV của HS ở mỗi giai đoạn học tập, trong mỗi một bài lên lớp. − Phải tiên liệu trước những câu, từ ngữ TV nào gây khó khăn cho HS khiến HS không thể hiểu trong mỗi bài, mỗi tình huống ngôn ngữ cụ thể. − Xác định trước những câu, từ ngữ cần thiết phải dịch sang TDT. − Xác định chuẩn bị cách thức sử dụng TDT một cách có hiệu quả để giúp HS hiểu được câu, từ ngữ TV. 3. Sử dụng TDT trong các bài dạy và tình huống giáo dục khá đa dạng. GV phải căn cứ vào các điểm đã nêu ở mục 2 để quy định cách sử dụng TDT phù hợp. Chẳng hạn, với việc sử dụng TDT trong điều khiển lớp ở những lớp đầu cấp. − GV cần xác định các mẫu câu điều khiển lớp cần dịch sang TDT. Điều này được thể hiện trong bài soạn. − Khi sử dụng câu điều khiển lớp phải theo một số quy định : • Không dịch sang TDT quá nhiều câu điều khiển lớp trong một giờ lên lớp. Tối đa là 5 câu. Những câu này được sử dụng cố định, liên tục trong 3 - 4 bài. • Khi sử dụng mỗi câu điều khiển đó, đồng thời nói TV và dịch sang TDT. Trước khi làm việc này cần nhắc nhở để HS chú ý và chủ động với việc nghe bằng TV.
  34. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Trả lời câu hỏi : Sự cần thiết phải sử dụng TDT ? Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời đúng : Để HS hiểu được TV. Để giúp HS nói được TDT. Là cơ hội để GV nói được TDT. Để HS làm theo lệnh của GV. 2. Hãy chọn những từ ngữ sẽ sử dụng TDT trong giải nghĩa từ : con kiến, lá cây, con đường, ngày hội, lễ cưới, mùa xuân, hăng hái, tại sao, bỗng nhiên, lúng túng, con hổ. 3. Hãy liệt kê những câu điều khiển trong giờ Toán mà bạn sẽ sử dụng TDT khi lên lớp. IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Trả lời câu hỏi : Sự cần thiết phải sử dụng TDT ? Đánh dấu x vào ô trống 1 (Để HS hiểu được TV) và 4 (Để HS làm theo lệnh của GV). 2. Những từ ngữ có thể sử dụng TDT trong giải nghĩa từ : ngày hội, lễ cưới, mùa xuân, hăng hái, tại sao, bỗng nhiên V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy tiếng Việt cho HSDT ở trường tiểu học − Lê A, Mông Ký Slay, Đào Nam Sơn, Đào Ngọc − Bộ GD và ĐT, Vụ Giáo viên, H. 1993. 2. Hướng dẫn dạy tập nói TV cho HSDT− Mông Ký Slay (Chủ biên), Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đào Nam Sơn, Nguyễn Trí. (Phần I : Hướng dẫn chung) − NXBGD, H. 2002.
  35. CHỦ ĐỀ 4 (4 tiết) Phương pháp dạy Tiếng Việt trong các môn học khác I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Biết và hiểu sự cần thiết khi đặt vấn đề dạy TV trong các môn học khác, cách thức tiến hành dạy TV trong các môn học khác cùng những lưu ý khi dạy. 2. Kĩ năng Có khả năng vận dụng những điều đã học và thực tế giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả dạy các môn học khác, đồng thời nâng cao hiệu quả học TV. 3. Thái độ Hiểu việc dạy TV trong các môn học khác là một việc làm cần thiết. Từ đó quan tâm hơn đến việc dạy TV trong các môn học khác. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Giải thích tại sao phải dạy TV trong các môn học khác Nhiệm vụ 1. Làm việc cá nhân − Ghi lại những suy nghĩ của mình về lí do của việc dạy TV trong các môn học. − Trong thực tế giảng dạy bạn thấy trình độ TV của HSDT liên quan thế nào với việc tiếp thu kiến thức các môn học ? − Bạn hãy nêu những giải pháp của bạn nhằm giúp HS học tốt các môn học. 2. Làm việc theo nhóm − Trao đổi với đồng nghiệp về những nội dung trên. − Đọc thông tin dưới đây, đối chiếu và hoàn thiện suy nghĩ của mình. Thông tin cơ bản 1. HSDT trước khi đến trường hầu hết chưa biết TV. Một số em nhà ở gần thị xã, thị trấn do tiếp xúc với các bạn cùng trang lứa là người Kinh thì vốn TV có khá hơn. Nhưng theo điều tra của chúng tôi, ngay với đối tượng này khi theo học tới THPT thì vốn TV so với HS người Kinh còn một khoảng chênh lệch khá xa. Chính vì điểm xuất phát TV thấp cho nên với lời giảng của thầy, HS thường rơi vào tâm trạng ngơ ngác không biết thầy nói gì và mình phải làm gì. Các môn học và các hoạt động giáo dục trong trường đều sử dụng TV như một phương tiện để chuyển tải kiến thức tới HS. Do vậy, khi học các môn học khác HS cũng phải sử dụng TV, thông qua đó mà những kĩ năng sử dụng TV được thành thạo. Ví dụ : trong khi học Toán, các kĩ năng sử dụng TV cũng được sử dụng theo các biểu hiện sau :
  36. − Nói : HS được nói những điều HS nghe, nhìn thấy ; được nêu thắc mắc hoặc phát hiện vấn đề thành lời ; được nói khi trao đổi với bạn và hỏi GV xung quanh bài học. − Đọc : HS được đọc thành tiếng các số, quan hệ số, thao tác đếm, phép tính, biểu thức toán, bài toán có lời văn Đọc thầm các lệnh, câu hỏi, mệnh đề, bài toán, đếm, tính nhẩm, thao tác tính viết, bảng cộng trừ. Đọc hiểu các lệnh, câu hỏi, mệnh đề, phép tính, câu trong toán có văn cũng như quan hệ số, thứ tự số, các kí hiệu. − Viết : Các em được viết các số và biểu thức toán, phép tính, đơn vị. Tập viết câu trong bài toán có lời giải, đáp số Trong chương trình Tiểu học, các môn học được thiết kế theo những nguyên tắc và phương pháp đặc trưng của môn học, nhưng chưa tính tới trình độ TV, khả năng tiếp nhận của HSDT. Việc tiếp nhận kiến thức các môn học phụ thuộc rất nhiều vào trình độ TV của HS. Nếu các em sử dụng TV kém thì chắc chắn cũng học không tốt các môn học khác. HSDT do chưa sử dụng TV thành thạo, lại càng xa lạ hơn với những khái niệm, thuật ngữ trong các môn học, do vậy kết quả học tập của các em hạn chế. Cần phải có những phương pháp phù hợp để giúp HS hiểu TV trong các môn học nhằm nâng cao chất lượng học tập. Việc giúp HS hiểu TV trong các môn học vừa nhằm tăng cường kĩ năng sử dụng TV, vừa trực tiếp giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản của bài học, môn học. Chẳng hạn trong giờ Toán, GV và HS không chỉ giao tiếp với nhau bằng các con số và bằng các phép tính. Nếu chỉ có như vậy thì những con số, những phép tính ấy cũng phải đọc lên thành tiếng rồi liên kết lại bằng lời. Cho nên, trong giờ học toán, GV phải tháo gỡ những vướng mắc về ngôn ngữ trong lời giảng và ngôn ngữ chứa đựng trong chính phép tính. Có như vậy, con đường đi đến kết quả học tập môn Toán mới khai thông. 2. Về vốn từ tiếng TV, nếu chỉ trông chờ vào vốn từ được trang bị trong sách giáo khoa thì chưa đủ. Những chủ điểm trong sách giáo khoa TV có đầy đủ đến mấy cũng khó đáp ứng được nhu cầu học tập và nhu cầu của cuộc sống. Trong các môn học, có nhiều từ (khái niệm) của môn học và nhiều từ ngữ của đời sống thường ngày (nhằm dẫn dắt HS đến với các khái niệm môn học). Do vậy, việc tăng cường TV trong các môn học khác cũng là một biện pháp tốt để nâng cao trình độ TV nói chung của HSDT. Học ngôn ngữ cần có môi trường. Môi trường học TV của HSDT lại rất hạn hẹp. Học TV trong các môn học khác là hình thức mở rộng môi trường học tiếng và đưa các tri thức TV các em đã học được trong môn TV vào thực hành. 3. Theo tinh thần đổi mới trong chương trình Tiểu học, HS phải chủ động tiếp thu tri thức trên cơ sở định hướng và giúp đỡ của thầy ; HS phải có tư duy độc lập. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ mẹ đẻ dẫu có nhưng nghèo nàn, ngôn ngữ TV mới được học chưa đủ để nghe, để tư duy và trình bày lại những gì mình hiểu. Vì vậy, dạy TV trong các môn học khác không chỉ là đòi hỏi của môn TV mà còn chính là đòi hỏi
  37. của bản thân môn học. Như là một hệ quả, ở những môn học khác, nếu như HS được học TV một cách bài bản, có ý thức thì chất lượng học TV nói chung của HS được tăng lên. Hoạt động 2. Thực hành cách dạy TV trong các môn học khác Nhiệm vụ 1. Làm việc cá nhân − Đọc tài liệu "Hướng dẫn tăng cường TV cho HSDT lớp 1" – (Ban Chỉ đạo thử nghiệm Chương trình Tiểu học mới). − Soạn một bài giảng thuộc bộ môn Toán hoặc TN-XH trong đó có vận dụng việc dạy TV trong môn học. − Thử vận dụng giáo án này dạy thử cho lớp mình phụ trách. 2. Làm việc theo nhóm − Trao đổi những suy nghĩ của mình về cách dạy TV trong các môn học khác với đồng nghiệp trong nhóm. − Giới thiệu kết quả tiết dạy có áp dụng phương pháp mới. 3. Đọc thông tin cơ bản dưới đây và đối chiếu với phần thực hành của mình, rút kinh nghiệm cá nhân. Thông tin cơ bản 1. Dạy TV trong các môn học khác là dạy những gì ? Do TV là ngôn ngữ giảng dạy nên để cung cấp kiến thức các môn học, tất yếu cần dùng TV. Tuy nhiên, TV ở đây gắn với kiến thức các môn học cụ thể. Ví dụ : − Với môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1) : • Những từ ngữ liên quan tới nội dung các chủ đề : Con người và sức khoẻ, Xã hội, Tự nhiên. Đó là các từ ngữ chỉ tên gọi, đặc điểm, tính chất của các sự vật, hiện tượng ; chỉ các dạng hoạt động và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng. • Các mẫu câu liên quan tới cách diễn đạt những kiến thức môn học, hệ thống các câu hỏi, các "lệnh" trong bài học − Trong môn Toán (lớp 1) : • Hệ thống từ ngữ liên quan tới số học và một số yếu tố đại số ; đại lượng và các từ liên quan ; từ liên quan đến phép cộng, phép trừ ; từ liên quan đến giải toán • Hệ thống câu : Các mệnh đề thường gặp (Ví dụ : a cộng b, a trừ b, a lớn hơn b, a nhỏ hơn b, số a gồm ) ; câu mô tả phép tính (thuật toán) ; câu mô tả thứ tự số, số lượng, quan hệ, đếm ; câu mô tả thực hiện phép tính (+, −, tính nhẩm, tính viết) ; câu trong toán có lời văn ; một số loại mẫu câu về số, phép tính đo lường, giải toán Mỗi môn học có đặc trưng riêng và có nhiệm vụ riêng phải hoàn thành theo mục tiêu môn học. Không phải vì TV có tầm quan trọng đối với HSDT mà biến giờ dạy các môn
  38. học khác thành giờ dạy TV. Trong quá trình giảng giải cho HS hiểu các khái niệm của môn học, cách diễn đạt cũng đã là giúp HS nâng cao trình độ TV. 2. Về cách dạy a) Tuân thủ các bước lên lớp của bộ môn. b) Với những hiện tượng của TV (thuật ngữ, câu ) cần làm rõ thì cần quan tâm đầy đủ đến các hoạt động : − Dạy các em nghe (lời giới thiệu, mô tả của GV). ở khâu này, GV phải diễn giảng chậm rãi, nhấn giọng vào các từ ngữ khó, từ ngữ chính. Vừa diễn giảng GV vừa sử dụng các thao tác, các tranh vẽ, vật thật để HS hiểu được lời nói của thầy. Gặp các từ cần giải thích thì phải vận dụng như phương pháp giải nghĩa từ trong môn học TV. − Cung cấp cho các em các câu mẫu đơn giản, ngắn gọn. Ví dụ : Đây là trò chơi Rồng rắn lên mây. Tham gia trò chơi này có mấy bạn ? Tham gia trò chơi này có 10 bạn v.v. − Hướng dẫn HS nói theo mẫu và tham gia trả lời câu hỏi. c) Trong các môn học khác nhau cần có các hoạt động tương ứng để giúp HS hiểu bài. Chẳng hạn, với môn Toán, GV cần quan tâm tới một số hoạt động : − Cung cấp từ ngữ, mẫu câu, hiện tượng ngôn ngữ trong dạy học toán. GV chú ý cung cấp vốn ngôn ngữ đời sống gần với HS và ngôn ngữ toán nhằm giúp HS phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức toán theo hướng : GV xác định từ ngữ, mẫu câu, kí hiệu, các mệnh đề, câu liên quan tới môn Toán để tập trung giải quyết vốn ngôn ngữ phục vụ học toán ở từng lớp cho HS. Theo thống kê ban đầu, số từ của Toán 1 khoảng trên 200 từ và gần 18 mệnh đề, mẫu câu − GV hướng dẫn HS chọn từ, mệnh đề, câu khi trình bày các vấn đề liên quan tới bài toán. Có nhiều trường hợp HS không chọn được cách trình bày hợp lí những nội dung liên quan tới bài học do thiếu vốn TV. GV cần gợi ý các từ ngữ, mẫu câu để giúp HS khi trình bày các nội dung môn Toán. Nếu HS diễn đạt bằng TDT những vấn đề cần trình bày thì GV cần giúp HS chuyển dịch sang TV. ở những lớp đầu cấp, GV không nên ép buộc HS tư duy những vấn đề về toán bằng TV khi vốn TV còn kém. GV nên hướng dẫn HS cách trình bày cụ thể từng vấn đề, câu bắt đầu, câu kết thúc khi trình bày các nội dung môn Toán. Như vậy, trong việc dạy các môn học, GV cần quan tâm tới việc giải thích cho HS hiểu những khái niêm, những cấu trúc câu liên quan tới bài học và môn học. Có như vậy mới đảm bảo cho HS hiểu bài, nắm vững bài. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Thử xác định hiệu quả đem lại cho HS khi dạy TV trong các môn học khác. Đánh dấu x vào ô trống trước câu bạn cho là đúng. HS sẽ hiểu bài hơn.
  39. HS lúng túng vì nhiều kiến thức quá. HS học TV tốt hơn. HS không hiểu bài. 2. Dạy TV trong các môn học khác là dạy những gì ? Những cách tiến hành để dạy có hiệu quả. IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Bạn hãy đánh dấu vào ô thứ 1 và 3. 2. Bạn hãy đọc mục 2. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy TV cho HS dân tộc ở trường tiểu học − Lê A, Mông Kí Slay, Đào?Nam?Sơn – Bộ GD và ĐT, Vụ Giáo viên, H. 1993. 2. Hướng dẫn dạy tập nói TV cho HS dân tộc − (Phần I : Hướng dẫn chung) − Mông Ký?Slay (Chủ biên), Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đào Nam Sơn, Nguyễn Trí − NXBGD, H. 2002.
  40. CHỦ ĐỀ 5 (4 tiết) Sử dụng tiếng Việt trong điều khiển lớp I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức Nắm được một số mẫu câu, mẫu lời nói TV và cách thức sử dụng chúng để điều khiển lớp trong các buổi học, tiết học. 2. Kĩ năng Biết vận dụng cách thức sử dụng TV trong điều khiển lớp để hướng dẫn HS tổ chức hoạt động học tập và rèn kĩ năng nghe nói TV cho HSDT. 3. Thái độ Xác định được sự cần thiết của việc điều khiển lớp học bằng TV như là một hoạt động cần thiết để hướng dẫn HS học tập có kết quả, có ý thức tôn trọng HS trong hoạt động điều khiển lớp học. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tìm hiểu về điều khiển lớp học trong dạy học Nhiệm vụ 1. Làm việc cá nhân − Hình dung một lớp học hay một buổi học trên lớp. Theo bạn, sẽ có những hiện tượng gì xảy ra đối với HS khi bạn : + Yêu cầu HS thực hiện một số hoạt động để ổn định lớp học. + Hướng dẫn HS tổ chức một hoạt động học tập nào đó. + Nêu câu hỏi thảo luận nhóm. + Đề nghị trả lời câu hỏi hay trình bày kết quả thảo luận. − Ghi lại các hiện tượng mà bạn cho là sẽ xảy ra. 2. Trao đổi nhóm để chia sẻ với đồng nghiệp và đọc thông tin dưới đây nhằm bổ sung thêm ý kiến mà bạn chưa đề cập đến. − Ghi lại các ý kiến bổ sung : Thông tin cơ bản 1. Điều khiển lớp học trong dạy học Trong quá trình tổ chức dạy học trên lớp, GV thường hướng dẫn HS ổn định lớp học, ổn định chỗ ngồi khi phải học theo nhóm, giao nhiệm vụ học tập cho HS, nêu yêu cầu
  41. để HS thực hiện các hoạt động học tập cần thiết Có thể coi các hoạt động trên đây của GV là hoạt động điều khiển lớp học. Như vậy, điều khiển lớp học được hiểu như là hoạt động tổ chức, hướng dẫn HS học tập có hiệu quả của GV trong từng buổi học, từng tiết học. GV thường sử dụng nhiều hình thức để điều khiển lớp : bằng cử chỉ, động tác ; bằng kí hiệu ghi trên bảng ; bằng lời nói 2. Việc thực hiện lệnh của GV trong giờ dạy học ở vùng dân tộc − Việc điều khiển lớp bằng lời nói được thực hiện theo các câu lệnh. GV thường dùng lệnh điều khiển lớp trong các khâu của quá trình tổ chức dạy học trên lớp : ổn định lớp trước tiết học, buổi học, hướng dẫn học cá nhân, học theo nhóm, nêu yêu cầu và nhiệm vụ học tập của HS, tổ chức các hoạt động trò chơi học tập Trong trường học, ngôn ngữ dạy học là TV nên điều khiển lớp cũng sử dụng TV là chủ yếu. Tuy nhiên, ở các vùng dân tộc thiểu số, điều hiển nhiên này gặp nhiều trở ngại. Khi GV dùng TV để tổ chức, hướng dẫn học tập cho HS, thường gặp các hiện tượng sau : • HS không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu của GV do chưa nghe hiểu điều GV nói. • HS thường chỉ trao đổi với nhau bằng TMĐ xem GV nói gì, yêu cầu gì. • Khi được yêu cầu trả lời hay trình bày một nhiệm vụ học tập nào đó, HS thường lúng túng, e ngại hoặc chỉ nói "không biết !", thậm chí các em còn sử dụng TMĐ để trả lời và trình bày. • HS thường mặc cảm, không tự nhiên, không thoải mái, lo sợ bị chê cười vì phát âm không chuẩn, dùng từ không đúng, nói sai câu, sai lời Các hiện tượng trên chứng tỏ trình độ TV, khả năng nghe hiểu TV cũng như khả năng giao tiếp TV của HS còn yếu. Hiện tượng này ảnh hưởng tới việc triển khai các hoạt động dạy học trên lớp. Nhiều khi do HS không hiểu lệnh của GV nên nhiệm vụ học tập của các em không hoàn thành. Hoạt động 2. Tìm hiểu về sự cần thiết của việc sử dụng TV trong điều khiển lớp Nhiệm vụ 1. Làm việc cá nhân : − Bạn nghĩ sao khi được hỏi : Vì sao phải sử dụng TV để điều khiển lớp học đối với HSDT ? − Dựa vào một số ý kiến sau để làm sáng tỏ vấn đề : + Trình độ TV và khả năng giao tiếp TV của HSDT ? + ảnh hưởng của TMĐ trong giao tiếp TV của HSDT ?
  42. + Tác động tới việc tăng cường TV và rèn kĩ năng nghe nói TV cho HSDT như thế nào ? − Ghi lại những ý kiến của bạn. 2. Chia sẻ ý kiến với đồng nghiệp − Xem các ý kiến đưa ra có xác đáng và giống nhau không ? − Trao đổi thống nhất về những ý kiến không giống nhau. 3. Đọc những thông tin ở phần dưới để so sánh và xác định nhận thức ban đầu của bạn đã đúng chưa ; nếu chưa, bạn sẽ có cơ hội để điều chỉnh. Thông tin cơ bản Do trình độ TV của HSDT có hạn, để điều khiển các hoạt động dạy học, ở những lớp đầu cấp nhiều GV dạy đã sử dụng TDT để điều khiển lớp. Việc sử dụng TDT trong điều khiển lớp mặc dù có hiệu quả trong một số trường hợp cụ thể, nhưng nếu sử dụng không có mức độ, không có phương pháp sẽ ảnh hưởng tới khả năng tiếp nhận TV của HS. Việc sử dụng TV trong điều khiển lớp là rất cần thiết. Các câu lệnh bằng TV được sử dụng trong lớp có tác dụng giúp HS : • Có tâm thế sử dụng TV trong giao tiếp và học tập ngay từ đầu buổi học và tiết học. • Tạo thói quen nghe hiểu TV và rèn luyện kĩ năng nghe nói TV. • Tạo được môi trường TV ngay trong các giờ dạy, HS có nhiều cơ hội hơn trong rèn luyện TV. • Khắc phục được hiện tượng sử dụng TDT trong quá trình dạy học ở trên lớp. Hoạt động 3. Liệt kê các loại câu lệnh dùng trong điều khiển lớp Nhiệm vụ 1. Đọc tài liệu − Đọc các bài 1, 2, 3, 5, 6 (trang 11 - 26) thuộc phần Hướng dẫn cụ thể trong cuốn sách Hướng dẫn dạy tập nói TV cho HSDT − NXB GD, H. 2002. 2. Ghi lại các mẫu câu TV dùng để tổ chức và hướng dẫn HS học tập trong các bài vừa đọc ở trên. Ví dụ : − Bài 1 : Các em vào lớp ! Các em đứng lên ! Các em ngồi xuống ! 3. Bạn hãy liệt kê những mẫu câu thường dùng để làm câu điều khiển lớp trong các giờ?dạy : Toán, TV, Tìm hiểu Tự nhiên và Xã hội. Đọc thêm thông tin dưới đây, đối chiếu với những loại câu mà bạn đưa ra và điều chỉnh. Thông tin cơ bản − Câu lệnh (hay còn gọi là câu mệnh lệnh, câu cầu khiến) được sử dụng trong dạy học để yêu cầu HS thực hiện một việc gì đó phục vụ cho mục tiêu bài dạy. Câu lệnh có tính chất biểu đạt yêu cầu, nguyện vọng, khuyên bảo, sai khiến, thúc giục người nghe hoạt động.
  43. − Câu lệnh được sử dụng trong nhiều hoạt động giáo dục và dạy học. Tương ứng với mỗi hoạt động lại có những câu lệnh đặc trưng và phù hợp. GV cần thống kê những câu lệnh hay sử dụng và sử dụng chúng đúng mục đích, theo những bước cụ thể. Có thể chia các loại câu lệnh theo các hoạt động đặc thù. Ví dụ : + Để ổn định lớp : Các em vào lớp ! Các em ngồi theo nhóm ! Các em giữ trật tự ! Các em nhìn lên bảng ! + Để dạy học môn TV : Các em nói theo cô ! Các em đọc từ khoá ! Các em chú ý nghe cô nói ! Các em chú ý theo dõi bạn đọc bài ! + Để dạy học môn Toán : Các em hãy đếm que tính ! − Các câu lệnh phải nhất quán mỗi khi sử dụng thì HS mới có thể ghi nhớ và làm theo lệnh. Nếu thay đổi cấu trúc các câu lệnh, HS sẽ bị phân tán và không thể nhớ để thực hiện. Hoạt động 4. Tìm hiểu và trao đổi cách thức sử dụng lệnh trong điều khiển lớp Nhiệm vụ 1. Ghi lại ý kiến của bạn về vấn đề sau : − Để HS hiểu và làm đúng theo yêu cầu của GV, bạn thường sử dụng các lệnh trong điều khiển lớp như thế nào ? − Bạn sử dụng TDT trong những trường hợp nào ? 2. Trao đổi với đồng nghiệp về các mẫu câu TV và cách thức sử dụng chúng trong điều khiển lớp. Đọc thông tin dưới đây để hiểu rõ các hình thức sử dụng lệnh trong điều khiển lớp. Thông tin cơ bản 1. Các hình thức sử dụng lệnh − Để các câu lệnh đưa ra HS thực hiện được, GV phải tiến hành theo một quy trình nhất định. Khi hướng dẫn HS thực hiện lệnh, GV cần nói mẫu, làm mẫu, có thể có động tác, cử chỉ để HS thực hiện theo. Do mục đích của các câu lệnh là nhằm tới HS, muốn HS thực hiện được các câu lệnh thì trước hết HS phải hiểu các câu lệnh đó. ở những lớp đầu cấp, trình độ TV của HSDT còn hạn chế, do vậy cần thiết phải sử dụng TDT trong việc cung cấp câu lệnh. Việc sử dụng TDT chỉ nhằm mục đích giúp HS hiểu được lệnh, theo cách : một vài lần đầu sử dụng một lệnh nào đó, GV có thể dịch sang TDT. Sau khi HS hiểu lệnh và đã có thể thực hiện theo lệnh, GV chỉ sử dụng TV. − Quy trình khép kín của việc sử dụng các lệnh điều khiển lớp thường là :
  44. + Lựa chọn câu lệnh phù hợp với từng hoạt động giáo dục, dạy học. + Cung cấp câu lệnh, làm cho HS hiểu câu lệnh. + Hướng dẫn HS thực hiện theo lệnh. + Kiểm soát các hoạt động của HS để đánh giá tính đúng đắn của việc lựa chọn và hướng dẫn ở trên. 2. Một số lưu ý khi sử dụng TV trong điều khiển lớp − Cần lựa chọn những câu lệnh có cách diễn đạt dễ hiểu, biểu đạt được tình cảm của GV với HS. Với đối tượng là HSDT, GV cần thể hiện tình cảm thân thiện, gần gũi, khuyên bảo và tôn trọng các em. Nhờ vậy mà không khí lớp học thoải mái, cởi mở, tiết học diễn ra một cách tự nhiên, nhẹ nhàng. − Đối với HS lớp đầu cấp (lớp 1), GV cần lựa chọn các câu lệnh ngắn, gắn với các hoạt động cụ thể, dễ thực hiện. − Đối với các câu khó, nội dung gắn với nhiều hoạt động thì GV có thể sử dụng có mức độ TDT của HS để giúp các em hiểu chính xác nội dung câu, thực hiện các hoạt động học tập theo đúng yêu cầu. Tuy nhiên, không nên lạm dụng TDT của HS để điều khiển lớp làm ảnh hưởng đến tâm thế học TV của các em. − Mỗi tiết dạy không nên đưa ra quá nhiều câu lệnh. Như vậy sẽ làm cho HS khó nhớ. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Theo bạn, vì sao phải sử dụng TV để điều khiển lớp ? Đánh dấu x vào ô trống trước ý đúng. Chuẩn bị tâm thế nghe nói TV cho HS trước khi vào bài học. Tạo thói quen và rèn kĩ năng nghe nói TV cho HS. Tăng cường khả năng tự tổ chức các hoạt động học tập của HS trong nhóm. Giúp HS khắc phục được ảnh hưởng tiêu cực của TMĐ. 2. Theo bạn, sử dụng TV ở khâu nào trong điều khiển lớp có hiệu quả nhất ? Chọn đáp án đúng : A. Tổ chức và ổn định lớp học. B. Hướng dẫn các hoạt động học tập của HS. C. Củng cố kiến thức bài học và giao nhiệm vụ học tập tiếp theo. 3. Ghi lại các bước sử dụng TV trong điều khiển lớp. 4. Sửa lại các câu lệnh sao cho có sắc thái tình cảm gần gũi, thân mật. − Hãy nói theo cô ! -> − Hãy nói bằng TV ! -> − Hãy đặt sách vở lên bàn ! -> IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ
  45. Câu 1. Các ý đúng là : + Tạo thói quen và rèn luyện kĩ năng nghe nói TV cho HS. + Tăng cường khả năng tự tổ chức các hoạt động học tập của HS trong nhóm. Câu 2. Đáp án B. Câu 3. Các bước sử dụng TV trong điều khiển lớp : + Chọn câu phù hợp với loại hình hoạt động của HS. + Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung câu. + Tổ chức cho HS luyện tập thực hành theo các tình huống giả định. Câu 4. Cần thêm các đại từ chỉ người (em, các em, bạn, các bạn ) vào đầu câu và lược bỏ từ hãy. V. TÀI LIỆU THAM KHẢO − Hướng dẫn dạy tập nói TV cho HS dân tộc − (Phần I : Hướng dẫn chung) − Mông Ký Slay (Chủ biên), Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đào Nam Sơn, Nguyễn Trí − NXBGD, H. 2002. • Phần 1 : Giới thiệu chung (tr.3-10). • Phần 2 : Hướng dẫn cụ thể (tr.11-26).
  46. CHỦ ĐỀ 6 (4 tiết) Tận dụng các phương tiện nghe nhìn và hoạt động trợ giúp cho dạy học Tiếng Việt I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức − Học viên xác định được một số phương tiện và hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp cho việc dạy học TV ở vùng dân tộc. 2. Kĩ năng − HV biết cách thức sử dụng các phương tiện nhằm trợ giúp việc dạy học TV. − Vận dụng được những hiểu biết để tổ chức các hoạt động nhằm giúp HSDT học TV có hiệu quả. 3. Thái độ − Có nhận thức mới về các phương tiện và hoạt động trợ giúp, coi đó là những chỗ dựa để giúp việc dạy học TV cho HSDT đạt hiệu quả cao. Từ đó GV có ý thức tận dụng các phương tiện trợ giúp trong dạy TV cho HSDT. II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tận dụng các phương tiện nghe nhìn trong dạy học TV cho HSDT Nhiệm vụ 1. Bạn hãy liệt kê những phương tiện nghe nhìn có tác động tới việc dạy học TV ở vùng dân tộc. 2. Thảo luận cùng bạn : So sánh hai cách tiến hành giờ sinh hoạt tập thể. • GV nhận xét lớp. HS phát biểu. • Lớp trưởng nhận xét lớp. GV bổ sung. GV cho HS nghe băng một câu chuyện kể thiếu nhi thu từ đài phát thanh. Nội dung câu chuyện có liên quan tới nội dung sinh hoạt. Cho HS nhắc lại nội dung chính của câu chuyện. 3. Bạn hãy thử thiết kế 1 tiết dạy Tập làm văn có sử dụng các phương tiện nghe nhìn. Trong thiết kế có nêu rõ : sử dụng phương tiện nào ? nhằm mục đích gì ? trong thời điểm nào của tiết dạy ? dự kiến tác dụng Thông tin cơ bản − Trong cuộc sống hiện đại có nhiều phương tiện nghe nhìn nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin, giải trí của con người. ở vùng dân tộc cũng có một số phương tiện nghe nhìn khá phổ biến như : ra đi ô, cát sét, ti vi, sách, báo Chúng ta có thể tận dụng được các phương tiện nghe nhìn trong quá trình dạy học TV cho HSDT. • ưu điểm của các phương tiện nghe nhìn : Nội dung được phản ánh khá phong phú, có nhiều nội dung phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, với nội dung bài học ; Ngôn ngữ sử dụng trong các phương tiện này chuẩn mực, có thể làm mẫu để HS học theo.
  47. • Tác dụng của việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn : HS có thêm điều kiện được tiếp cận với TV, khắc phục được tình trạng thiếu môi trường TV ở vùng DT ; các giờ học tăng thêm phần hấp dẫn ; được tiếp xúc với các hình thức sử dụng TV phổ biến trong cuộc sống hằng ngày nhờ đó kích thích hứng thú học TV của HSDT ; những kĩ năng nghe đọc của HS được rèn luyện thường xuyên − Một số gợi ý về cách tận dụng các phương tiện nghe nhìn trong dạy học TV. • Ra đi ô : dùng để rèn luyện kĩ năng nghe TV cho HS. Nội dung nghe nên là những chương trình liên quan tới thiếu nhi của Đài TNVN hoặc Đài địa phương. Thời điểm chọn nghe đài cần phải linh hoạt, có thể cho HS nghe đài trong giờ sinh hoạt tập thể, đầu giờ lên lớp Sau khi cho HS nghe có thể cho kể lại, nói lại nội dung vừa nghe • Cát sét : dùng để rèn luyện kĩ năng nghe TV đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Nội dung băng nghe nên là : các bài hát, bài thơ, câu chuyện có liên quan tới nội dung bài học, nội dung các hoạt động giáo dục của lớp. GV có thể sử dụng trong giờ sinh hoạt tập thể, giờ học một cách linh hoạt và hợp lí. Để có được những đoạn băng như vậy, HV có thể ghi lại từ Đài TNVN, từ Đài địa phương hoặc từ bản thân GV. • Sách, báo : dùng để rèn luyện kĩ năng đọc cho HS. GV nên chọn trước một số bài trong các tờ báo viết cho thiếu nhi để hướng dẫn HS đọc. Những bài này có nội dung liên quan tới bài học hoặc tới nội dung sinh hoạt theo chủ điểm của thiếu nhi. Việc hướng dẫn có thể tiến hành theo các cách : GV đưa bài và đưa yêu cầu (kể lại, nêu ý chính, chú ý một số từ ). Hoặc GV yêu cầu HS tự chọn bài đọc, sau đó GV hỏi HS về nội dung bài đọc. Hoạt động 2. Tổ chức các hoạt động nhằm trợ giúp HSDT học TV Nhiệm vụ 1. Hãy liệt kê những hoạt động ở lớp mà bạn đã tận dụng để trợ giúp HSDT học TV. Đọc thông tin dưới đây và đối chiếu với phần liệt kê của bạn, bổ sung cho ý kiến của bạn. 2. Thảo luận với bạn để thêm các công việc cần thiết cho hoạt động Viết báo tường có thể hỗ trợ HSDT học TV : − GV chọn chủ đề cho HS viết. − Hướng dẫn, phân công HS viết. − Cho HS lựa chọn bài để trưng bày ở lớp. − Cho HS lựa chọn bài để trình bày trong sinh hoạt lớp. 3. Thử chọn các hoạt động sau cho các nhóm lớp 1, 2, 3, 4, 5 một cách hợp lí. − Quan sát (môi trường, thiên nhiên, sinh hoạt ) và kể lại. − Nghe người già kể chuyện và kể lại.
  48. − Dạ hội TV, văn học. − Viết báo tường. − Sưu tầm văn học dân gian. − Ghi chép những điều nghe được, đọc được. 4. Thử lập kế hoạch cho hoạt động : Sưu tầm văn học dân gian. Thông tin cơ bản − Ngoài thì giờ dành cho học tập theo chương trình đã được quy định, HSDT còn một số thời gian dành cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp (ở trường và ở nhà). GV cần biết tận dụng những cơ hội đó để tổ chức các hoạt động cho HS, hướng các em vào việc học tập, trước hết vào việc học TV. Thông qua những hoạt động này, có thể giúp các em có kĩ năng sử dụng TV ngày càng tốt hơn, có ý thức sử dụng TV thường xuyên hơn. − Có thể tận dụng nhiều hoạt động ngoài giờ lên lớp để hỗ trợ HSDT học TV như : Dạ hội TV, viết báo tường, sưu tầm văn học dân gian, ghi chép những điều nghe được, đọc được Tuỳ thuộc vào người tham gia, thời gian tiến hành hay mục đích của các hoạt động mà ta có thể chia như sau : • Hoạt động thực hiện trong một, hai giờ (Dạ hội văn học) ; hoạt động cần thực hiện trong thời gian dài (Sưu tầm văn học dân gian, ghi chép những điều đọc được, nghe được ). • Hoạt động có sự tham gia của nhiều HS, phải có sự chỉ đạo trực tiếp của GV (Dạ hội văn học ) ; nhưng cũng có hoạt động chỉ cần GV gợi ý, HS tự làm việc cá nhân (ghi chép những điều đọc được, nghe được). • Có các hoạt động đòi hỏi HS phải có một kĩ năng sử dụng TV tương đối thành thạo (Sưu tầm văn học dân gian, ghi chép những điều đọc được, nghe được đọc thông viết thạo), nhưng cũng có các hoạt động chỉ cần HS nghe hiểu được TV là đã có thể thực hiện được (Quan sát : môi trường, thiên nhiên, sinh hoạt và kể lại). Điều quan trọng là GV phải biết lựa chọn những hoạt động phù hợp với HS lớp mình − Để các hoạt động diễn ra có hiệu quả, GVphải xây dựng chương trình cụ thể, trong đó lưu tâm tới một số vấn đề sau : • Mục đích tổ chức hoạt động. Phải chú ý tới mục đích chính là nhằm rèn luyện kĩ năng TV cho HS. Cần xác định kĩ năng nào là chính ? Nếu rèn luyện kĩ năng viết, nên chọn hình thức hoạt động chủ yếu là viết (nghe và ghi lại ). • Nội dung hoạt động. Những nội dung hoạt động liên quan tới mục đích của hoạt động. Nếu cần rèn luyện các kĩ năng TV thì chọn các nội dung hoạt động mang tính tổng hợp như dạ hội văn học. GV cũng cần tổ chức các hoạt động liên quan tới chương trình học của HS.
  49. • Đối tượng tham gia. Cần lưu tâm tới tất cả các đối tượng HS mà mình phụ trách, đảm bảo mỗi hoạt động đều thu hút được mọi HS tham gia. • Thời gian thực hiện cần được tính toán cụ thể. Đảm bảo hoạt động diễn ra không ảnh hưởng tới thời gian học tập của HS. Tận dụng được cao nhất thời gian trong ngày, thời gian ở nhà của HS. Thời gian chuẩn bị cũng được tính vào quá trình tiến hành một hoạt động. − Đề cương một chương trình hoạt động cần phải cụ thể, phản ánh được cơ bản những công việc chính cần làm cho một hoạt động. Trên cơ sở đề cương được thống nhất giữa các thành viên, việc thực hiện sẽ có nhiều khả năng thành công. Một bản đề cương có thể có các mục sau : I. Mục đích II. Đối tượng tham gia III. Các bước tiến hành a) Chuẩn bị b) Nội dung c) Hình thức tiến hành d) Thời gian IV. Phân công thực hiện Với một số hoạt động cần sự tham gia của nhiều người, cần nhiều công việc khác nhau lại cần phải có những đề cương cho từng công việc, do các thành viên phụ trách soạn thảo và thực hiện. Chẳng hạn, để tiến hành một cuộc dạ hội văn học, ngoài đề cương chung, cần có kế hoạch riêng cho đêm dạ hội, kịch bản của dạ hội Trong các bản kế hoạch, kịch bản có những nội dung cụ thể để có thể thực hiện được. III. CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Trả lời câu hỏi : Những phương tiện nghe nhìn nào có thể trợ giúp việc dạy học TV cho HSDT ? Đánh dấu x vào ô trống trước câu trả lời đúng : ra đi ô chiếu bóng video cát sét sách, báo in tơ nét 2. Hãy xây dựng kịch bản một đêm dạ hội văn học cho khối HS lớp 3. 3. Hãy nối các hoạt động với lớp một cách hợp lí.
  50. IV. THÔNG TIN PHẢN HỒI VỀ CÂU HỎI TỰ ĐÁNH GIÁ 1. Trả lời câu hỏi : Những phương tiện nghe nhìn nào có thể trợ giúp việc dạy học TV cho HSDT ? Đánh dấu vào ô trống trước các phương tiện : ra đi ô, video, sách, báo, chiếu bóng, cát sét. 2. Tự xây dựng kịch bản một đêm dạ hội văn học cho khối HS lớp 3 theo các gợi ý đã hướng dẫn trong bài. 3. Trên nguyên tắc, các hoạt động có thể tổ chức cho các khối lớp hoặc cho tất cả các lớp trong cấp học. Nếu một hoạt động tổ chức cho nhiều trình độ khác nhau thì nhất thiết phải có nội dung hoạt động phù hợp với từng đối tượng ở các lớp. Nếu chỉ tổ chức cho một khối lớp thì nội dung hoạt động sẽ đơn giản hơn. Tuy nhiên, có những hoạt động nếu tổ chức ở khối lớp này thì sẽ có kết quả hơn ở khối lớp kia. Ta có thể lập phương án tổ chức các hoạt động phù hợp với các lớp một cách hợp lí như sau : − Quan sát (môi trường, thiên nhiên, sinh hoạt ) và kể lại (Lớp 1, 2). − Nghe người già kể chuyện và kể lại (Lớp 1, 2, 3, 4, 5). − Dạ hội TV (Lớp 1, 2, 3, 4, 5 ). − Viết báo tường (Lớp 2, 3, 4, 5). − Sưu tầm văn học dân gian (Lớp 4, 5). V. TÀI LIỆU THAM KHẢO − Phương pháp dạy TV cho HS dân tộc ở trường tiểu học − Lê A, Mông Ký Slay, Đào?Nam?Sơn – Bộ GD và ĐT, Vụ Giáo viên, H. 1993.
  51. TIỂU MÔ ĐUN 2 (16 tiết) Dạy âm vần Tiếng Việt A. MỤC TIÊU 1. Kiến thức − Giúp HV nắm được sự khác biệt giữa dạy âm vần cho HSDT với HS người Kinh. − Xác định một số phương pháp, biện pháp và hình thức chủ yếu để dạy âm vần TV cho HSDT. − Hệ thống được một số loại lỗi phát âm mà HSDT thường mắc. − Nắm được một số biện pháp để sửa lỗi phát âm cho HSDT. 2. Kĩ năng − HV có thể sử dụng một số phương pháp dạy âm vần có hiệu quả cho HSDT. − Vận dụng một số biện pháp để sửa lỗi phát âm cho HSDT. 3. Thái độ − Có ý thức sửa lỗi phát âm TV cho HSDT trong các tình huống ngôn ngữ khác nhau. B. GIỚI THIỆU Nội dung Tiểu môđun 2 gồm 3 chủ đề. Nội dung chính của Tiểu môđun này liên quan tới việc rèn luyện cho HSDT phát âm TV đúng. Bao gồm các phương pháp dạy HSDT phát âm TV đúng trong các giờ dạy TV ; các phương pháp hướng dẫn HSDT sửa lỗi phát âm TV cũng như dạy HSDT phát triển lời nói trong các bài học âm, vần. Cùng với tài liệu in, còn có băng hình cho bài học "Dạy HSDT phát âm đúng TV". Thời gian dành cho Tiểu môđun 2 là 14 tiết. Cách học : Các bài chủ yếu được thiết kế để tự học và học theo nhóm. Để học với băng hình, HV cần sử dụng thêm tài liệu hướng dẫn học theo băng hình. C. BÀI HỌC
  52. CHỦ ĐỀ 7 (6 tiết) Dạy Học sinh dân tộc phát âm đúng Tiếng Việt I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức − Nắm được tầm quan trọng của việc dạy HSDT phát âm đúng TV ; một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát âm của HSDT. − Hiểu được một số nội dung cần luyện tập, một số phương pháp, biện pháp và hình thức để dạy cho HSDT phát âm đúng TV. 2. Kĩ năng Sử dụng có hiệu quả một số phương pháp và hình thức dạy phát âm đúng TV cho HSDT. Biết vận dụng trong các bài dạy, đặc biệt là trong bài dạy học vần. 3. Thái độ − Quan tâm đến những khó khăn của HSDT khi học phát âm TV để tìm ra những cách thức hỗ trợ HS phát âm đúng. − Chú ý luyện phát âm cho HSDT đúng phương pháp . II. NỘI DUNG Hoạt động 1. Tìm hiểu về tầm quan trọng của việc dạy HSDT phát âm đúng TV Nhiệm vụ 1. Trả lời câu hỏi − Bạn đã bao giờ học ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai chưa ? Nếu đã học bạn thử nhớ lại xem việc học phát âm ngôn ngữ đó của bạn ra sao ? − Theo bạn việc học để phát âm đúng có vai trò quan trọng như thế nào với người học ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai ? − Việc dạy HSDT phát âm đúng TV có vai trò quan trọng như thế nào ? 2. Trao đổi với đồng nghiệp − Bạn có thể trao đổi với đồng nghiệp về những vấn đề nêu trên ; ghi lại ý kiến của đồng nghiệp vào vở học tập. − Đọc thông tin cơ bản và đối chiếu ý kiến của cá nhân và nhóm thảo luận. Thông tin cơ bản 1. Bất kì một ngôn ngữ nào cũng bao gồm hệ thống ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Để nắm được một ngôn ngữ nào đó, trước hết phải nắm được hệ thống ngữ âm. Người học phải phát âm được các âm đơn lẻ cũng như những đơn vị cao hơn là tiếng, từ rồi
  53. câu. Cuối cùng là cách sử dụng chúng để người khác hiểu thông qua ngôn ngữ nói và viết. Mục đích của việc học một ngôn ngữ nào đó là để có thêm một phương tiện giao tiếp, để học tập Người sử dụng ngôn ngữ chỉ có thể sử dụng được một ngôn ngữ khi nắm vững và sử dụng chúng một cách thành thạo. Việc học phát âm và phát âm đúng chính là điều kiện cơ bản đầu tiên để đảm bảo cho người học chiếm lĩnh được ngôn ngữ đó. Nếu phát âm không đúng trước hết làm cho người khác không hiểu được điều mình nói. Từ phát âm lệch chuẩn dẫn tới viết sai. Như vậy người học sẽ không sử dụng có hiệu quả ngôn ngữ mà mình đang học. 2. Một đứa trẻ bắt đầu học nói tiếng mẹ đẻ khi được một năm tuổi. Đứa trẻ được bố mẹ, ông bà, anh chị dạy nói từng âm, từng từ. Như vậy, đứa trẻ được lớn lên trong môi trường ngôn ngữ đó một cách rất tự nhiên. Nó bắt đầu biết nói những mẫu câu đơn giản để bày tỏ ý muốn của mình. Đến sáu tuổi đứa trẻ đã có một vốn từ khá phong phú và những mẫu câu cơ bản để có thể giao tiếp được trong môi trường sống của mình. Người lớn và cộng đồng luôn là người hướng dẫn đứa trẻ trong quá trình sử dụng tiếng mẹ đẻ. HSDT khi tới trường mới bắt đầu tiếp xúc, làm quen và học tập bằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới là TV. Các em không có thời gian để học nói TV trước, cũng không có điều kiện để tiếp xúc, để được mọi người xung quanh dạy nói một cách tự nhiên như HS người Kinh. Ngay lập tức khi tới trường, các em phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Các em phải làm quen với một hệ thống âm không hoàn toàn giống với TMĐ. Với ngưười học NN 2 thì khâu phát âm đóng vai trò quan trọng, khi đã quen với cách phát âm thì những khâu tiếp theo như đọc tiếng, từ, câu sẽ dễ dàng hơn. Bởi vậy, cần phải dạy cho các em phát âm đúng ngay từ khi học âm vần TV. HSDT học TV bắt đầu bằng việc học vần. Mỗi bài học vần với thời lượng 70 phút, các em được học từ một đến hai âm, vần mới, một đến hai tiếng mới, từ mới ; được làm quen và học đọc từ bốn đến sáu từ ứng dụng cùng một bài đọc ngắn từ một đến ba hoặc bốn câu. GV cần quan tâm tới việc phát âm đúng với những âm, vần, tiếng, từ cụ thể ngay từ những bài học âm, vần đầu tiên. Nếu các em phát âm không tốt sẽ ảnh hưởng tới chất lượng đọc, viết và ảnh hưởng tới chất lượng các môn học khác. Để phát âm đúng đòi hỏi các em phải được hướng dẫn theo những phương pháp phù hợp, có thời gian thực hành luyện tập. GV là người có vai trò quan trọng trong các hoạt động tiếp nhận hệ thống âm vần TV của các em, ngoài ra sự nỗ lực của bản thân người học cũng rất cần thiết. Hoạt động 2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát âm đúng TV của HSDT Nhiệm vụ 1. Trả lời câu hỏi
  54. − Bạn đã dạy lớp 1 ở vùng dân tộc và miền núi chưa ? Nếu đã dạy bạn hãy nhớ lại xem việc dạy HSDT phát âm đúng TV bạn đã gặp những khó khăn gì ? Nếu chưa dạy bạn có thể trao đổi với đồng nghiệp để tìm câu trả lời. − Theo bạn những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến việc phát âm đúng TV của HSDT ? − Đối tượng HS của bạn thuộc vùng phương ngữ nào ? Bạn biết gì về phương ngữ ấy ? Khi dạy HS phát âm TV bạn đã chú ý tới điều đó như thế nào ? 2. Trao đổi với đồng nghiệp − Bạn có thể trao đổi thêm với đồng nghiệp và ghi lại ý kiến vào vở học tập. − Đọc thông tin dưới đây và hoàn thiện ý kiến cá nhân và nhóm thảo luận. Thông tin cơ bản 1. Với HSDT việc phát âm thường gặp một số khó khăn cơ bản như sau : − Khả năng nghe để phân biệt về mặt âm thanh ngôn ngữ của HS yếu, đặc biệt là những âm, vần, tiếng, từ đọc gần giống nhau. − Khó thực hiện các thao tác phát âm với những âm khó hoặc những âm khác lạ với tiếng mẹ đẻ của các em như điểm đặt lưỡi, cách bật hơi, độ mở của miệng − Sự điều khiển luồng hơi và các bộ phận của bộ máy phát âm chưa nhịp nhàng linh hoạt. 2. Có thể kể ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát âm của HS như sau: 2.1. Yếu tố tâm sinh lí Mỗi kí hiệu ngôn ngữ (từ hoặc hình vị) đều có sự biểu đạt bằng âm thanh của nó. Sự biểu đạt này bao giờ cũng mang những đặc trưng ngữ âm khác nhau. Chẳng hạn : "ta" khác với "đa" chỉ bằng đặc trưng khi phát âm dây thanh có hoạt động hay không (tức là đặc trưng vô thanh và hữu thanh) của 2 phụ âm t và d. Đặc trưng này phân biệt phụ âm này khác phụ âm kia. Việc phát âm của mỗi người đều chịu sự tham gia của các cơ quan phát âm. Cụ thể là : * Cơ quan hô hấp Gồm hai lá phổi nằm trong lồng ngực cung cấp lượng không khí cần thiết cho phát âm. Không khí ở phổi đi ra làm dây thanh rung động, tiếp đó lượng không khí cọ xát vào các bộ phận phát âm ở khoang miệng, khoang mũi tạo nên âm thanh. * Thanh hầu Gồm 2 tổ chức cơ nằm song song nhau ở trong thanh hầu. Luồng không khí thoát ra ngoài thành những đợt đều đặn tạo nên sóng âm. Dây thanh dày mỏng khác nhau và tuỳ theo sự chấn động nhanh hay chậm khác nhau mà cho ta những âm thanh cao thấp khác nhau. Những âm thanh do dây thanh tạo nên khi đi lên qua những khoang rỗng ở thanh hầu (khoang yết hầu, khoang mũi) còn bị biến đổi nhờ hiện tượng cộng hưởng. Nếu dây thanh hoạt động đều, ta có những âm có chu kì và tần số xác định tạo nên âm hưởng êm tai, dễ nghe. Đó là các tiếng thanh (nguyên âm cấu tạo bằng các tiếng thanh). Nếu dây thanh hoạt động ít hoặc không hoạt động ta có những chu kì và tần số không xác định gọi là tiếng động (phụ âm cấu tạo bằng những tiếng động).
  55. Như vậy, theo đặc điểm sinh học, các âm được phân thành nguyên âm và phụ âm. Sự khác biệt giữa nguyên âm và phụ âm được nhận diện chủ yếu qua cách phát âm. Giữa nguyên âm và phụ âm có một loại trung gian vừa mang tính chất của nguyên âm vừa mang tính chất của phụ âm. Đó là bán nguyên âm (ví dụ : /i/, /u/ trong từ "đại" và "khâu"). Đặc điểm cơ bản của cơ chế phát âm phụ âm là tiếng động. Song trong khi phát âm một số phụ âm, dây thanh cũng hoạt động và cung cấp thêm tiếng thanh. Tuỳ theo tỉ lệ tiếng động và tiếng thanh mà người ta chia phụ âm thành các loại khác nhau. + Phụ âm vô thanh chỉ được cấu tạo bằng tiếng động mà thôi (ví dụ : /p/, /t/, /k/). + Phụ âm hữu thanh ngoài tiếng động còn xen tiếng thanh (ví dụ : /b/, /d/ ). + Phụ âm vang : tỉ lệ tiếng thanh lớn hơn tiếng động (ví dụ : /m/, /n/, nh, ng). Khoang miệng và khoang mũi là 2 cộng minh trường tiếp theo của bộ máy phát âm. Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc. Các bộ phận của bộ máy phát âm của người chia làm hai loại : + Loại hoạt động được : lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi. + Loại không hoạt động được : răng, lợi, ngạc. Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự tham gia của lưỡi và môi có thể thay đổi thể tích bất cứ lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau. Việc tìm hiểu cấu tạo của bộ máy phát âm giúp cho bạn hiểu được vai trò của từng bộ phận khi tham gia vào việc phát âm. Nếu bộ phận nào đó có khiếm khuyết ví dụ như lưỡi ngắn, lưỡi dài, răng thưa, môi hếch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc phát âm đúng của HS. Nếu có HS mắc những khiếm khuyết như vậy GV cần có những phương pháp luyện tập phù hợp. 2.2. Yếu tố tiếng mẹ đẻ Trong giao tiếp, chúng ta có thể nhận biết một cách tương đối dễ dàng khi nghe một người nước ngoài nói TV, người Việt Nam nói tiếng nước ngoài hay người dân tộc thiểu số nói TV, bởi vì, dù người nói đã đạt đến một trình độ tương đối chuẩn xác thì vẫn khó tránh khỏi những đặc trưng ngữ âm tiếng mẹ đẻ của họ nằm ở đâu đó trong chuỗi lời nói. Khi học TV, HSDT có xu hướng chuyển những chuẩn mực và thói quen phát âm tiếng mẹ đẻ tới quá trình học phát âm TV. Cơ quan phát âm của các em đã quen với những thao tác khi phát âm TDT khó tránh khỏi những sai lệch khi phát âm TV. 2.3. Yếu tố xã hội HSDT có rất ít môi trường để thực hành giao tiếp bằng TV. Việc luyện phát âm cho HS đứng trước một thách thức lớn, giữa một bên chủ yếu trông vào người thầy ở trên lớp với một lượng thời gian ít ỏi và một bên là sự chi phối của cả môi trường sống đang bao quanh HS, đó là gia đình và cả cộng đồng xã hội đều giao tiếp với nhau bằng TDT.
  56. Những nơi có thể giao tiếp bằng TV như họp chợ, hội họp thì tuổi các em lại chưa có thể thường xuyên tham gia. Bên cạnh đó việc học phát âm của các em còn chịu ảnh hưởng của phương ngữ TV. GV cần nắm được đặc điểm phương ngữ nơi mình công tác để hướng dẫn HS cách phát âm đúng. Phương ngữ chỉ được chấp nhận về mặt phát âm khi giao tiếp bằng lời nói, còn khi viết đòi hỏi phải đảm bảo theo chuẩn chữ viết. Điều đó yêu cầu GV phải cố gắng luyện để phát âm chuẩn, đặc biệt khi đọc chính tả cho HS viết. Hoạt động 3. Tìm hiểu một số nội dung cần luyện tập để dạy HSDT phát âm đúng TV Nhiệm vụ 1. Trả lời câu hỏi : − Bạn cho rằng cần luyện tập để dạy HSDT phát âm đúng TV theo những nội dung nào ? − Trong thực tế dạy học, bạn đã luyện cho HS những nội dung nào để HS phát âm đúng ? 2. Hãy trao đổi với đồng nghiệp và đọc thông tin cơ bản dưới đây nhằm làm rõ về những vấn đề trên. Thông tin cơ bản 1. Luyện khả năng tri giác âm thanh ngôn ngữ cho HS Khi nghe phát âm, âm thanh ngôn ngữ truyền đến tai HS tạo ra những xung động ở bán cầu đại não khiến HS nhận biết và phân biệt được các âm thanh ngôn ngữ khác nhau. Hoạt động đó được gọi là sự tri giác âm thanh ngôn ngữ. Trẻ chỉ có thể phát âm lại được khi nó nghe được một cách chính xác, rõ ràng, vì vậy việc luyện kĩ năng nghe cho trẻ là hết sức quan trọng. Mục tiêu môn TV ở Tiểu học là dạy cho HS cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong SGK của chương trình Tiểu học mới, kĩ năng nghe thường xuất hiện dưới dạng yêu cầu nghe và kể lại nội dung một đoạn truyện hay một câu chuyện nào đó trong giờ kể chuyện Với HSDT việc rèn kĩ năng nghe là yêu cầu quan trọng hàng đầu bởi nghe có một vai trò hết sức quan trọng. Nếu không nghe tốt, HS không thể nhận diện được âm, tiếng, từ, câu để phát âm lại. HS phải nghe và hiểu tốt mới có thể tiếp thu bài học và có thể giao tiếp được. Để rèn luyện kĩ năng này, cần phải có một số bài tập bổ trợ, đặc biệt là những lớp đầu cấp tiểu học. GV có thể thông qua những trò chơi vận động, khởi động đầu giờ, giữa giờ, trò chơi học tập để rèn kĩ năng nghe, hiểu, xử lí thông tin nhanh và phản xạ ngôn ngữ cho HS. Nội dung các bài tập có thể là :
  57. + Nghe và phân biệt các thanh trong các từ có âm vần giống nhau : be, bè, bé, bẻ, bẽ, bẹ + Nghe và nhận diện hai âm, vần gần nhau : cái kẻng/ cái xẻng + Nghe và nhận biết các vần có trong tiếng, từ + Nghe và ghép đúng các mảnh thẻ từ được cắt rời thành tiếng, từ Để HS nhận biết chính xác các âm thanh ngôn ngữ đòi hỏi việc phát âm mẫu của GV phải chuẩn xác, tròn vành rõ tiếng, HS được thực hành luyện tập nghe nhiều và thường xuyên. Trong giao tiếp với HS, lời nói của GV phải chậm rãi rõ ràng, dễ hiểu, nên sử dụng nhiều câu đơn hơn là câu phức, nhiều thành phần để HS dễ nghe, dễ hiểu. 2. Luyện vận động các bộ phận của cơ quan phát âm Cơ quan phát âm gồm : phổi, các dây thanh, lưỡi, răng, môi, ngạc cứng, ngạc mềm. Các âm được phát ra chuẩn chỉ trên cơ sở các bộ phận của bộ máy phát âm hoàn chỉnh và HS có khả năng điều khiển bộ máy phát âm. Một trong những bộ phận nào đó của cơ quan phát âm có khuyết tật như lưỡi ngắn, môi hớt, răng thưa sẽ làm cho sự phát âm trở nên khó khăn, các âm được phát ra sẽ thiếu chính xác. Trước khi hướng dẫn HS phát âm, GV cần phát âm mẫu nhiều lần, thật chậm để HS quan sát khuôn miệng cũng như cách cử động của môi, lưỡi, hàm của GV. GV nên hướng dẫn HS vận động các bộ phận của cơ quan phát âm như : độ uốn của lưỡi, độ mở của miệng, hình dạng của môi, độ mạnh của hơi trước khi tập phát âm một âm, vần cụ thể nào đó. 3. Luyện giọng để phát âm tròn vành rõ tiếng Cường độ âm thanh khi phát âm rất quan trọng để phát âm tròn vành rõ tiếng. Phát âm nhỏ quá luồng hơi không thoát ra hết sẽ rất khó nghe. Phát âm quá to sẽ gây cảm giác chói tai khó chịu cho người nghe mà vẫn không rõ. Cần luyện giọng phát âm vừa phải, phát âm bằng chính giọng thật của mình, không lí nhí trong cổ họng, không the thé Muốn HSDT phát âm đúng, cần luyện cho các em cách lấy hơi, bật hơi, há miệng chuẩn xác. Hoạt động 4. Tìm hiểu một số phương pháp và hình thức dạy phát âm đúng TV cho HSDT Nhiệm vụ 1. Trả lời câu hỏi − Bạn hãy kể tên một vài phương pháp mà bạn thường sử dụng để dạy phát âm đúng TV cho HSDT ? − Bạn có thể lấy một bài học vần cụ thể làm ví dụ minh hoạ cho phương pháp của mình ? − Theo bạn với HSDT phương pháp nào được coi là chủ đạo và không thể thiếu trong mỗi giờ học vần ? 2. Bạn hãy trao đổi với đồng nghiệp, sau đó đọc thông tin dưới đây nhằm làm rõ thêm về những vấn đề trên. Thông tin cơ bản
  58. 1. Phương pháp luyện tập theo mẫu Mẫu có thể từ băng hình, băng tiếng hoặc là giọng phát âm mẫu của GV. Với vùng dân tộc, miền núi do thiếu các phương tiện dạy học thì mẫu phổ biến nhất là phát âm trực tiếp của GV. Đây là một phương pháp chủ đạo trong việc dạy phát âm cho HSDT. Thực hiện phương pháp này, khi dạy phát âm, GV phát âm mẫu vài ba lần một âm hoặc một từ nào đó, miệng hướng về phía HS cho tất cả HS đều thấy và nghe rõ. GV yêu cầu HS nhắc lại nhiều lần (cá nhân và đồng thanh). GV theo dõi HS phát âm và sửa lỗi phát âm cho HS. Được trực tiếp quan sát, nghe và bắt chước cách phát âm của GV, HS sẽ nhanh chóng học được cách phát âm đúng. Việc luyện tập phát âm được tiến hành với các mức độ khác nhau : phát âm âm, vần rời, phát âm tiếng, từ có chứa âm vần đó, đọc câu, bài khoá có tiếng chứa âm, vần đó. Bởi vì trong thực tế giao tiếp âm, vần TV không đứng độc lập riêng lẻ mà nằm trong các đơn vị ngôn ngữ trên nó. Khả năng bắt chước của trẻ rất lớn. GV cần động viên HS nghe và tập phát âm theo thầy, cô ; nghe và tập phát âm theo bạn ; tập phát âm trong giờ học, ngoài giờ học thông qua các tình huống giao tiếp cụ thể, thông qua các trò chơi Để thay đổi hình thức hoạt động, tăng sự hấp dẫn đối với học trò, GV có thể sử dụng băng, đĩa cát sét có ghi âm sẵn cho các em nghe và luyện tập theo. 2. Phương pháp quan sát và giải thích cách phát âm Với những âm, tiếng khó phát âm, khi phát âm GV có thể mô tả bằng cách : nêu rõ cách đặt lưỡi, vị trí của lưỡi với răng, độ mở của môi ở giai đoạn đầu học TV của HS, do khả năng nghe TV của HSDT chưa tốt nên GV cần sử dụng các từ ngữ mô tả dễ hiểu, kết hợp với việc cho HS quan sát GV phát âm. Thông qua quan sát GV phát âm, kết hợp với việc điều chỉnh các bộ phận của cơ quan phát âm của mình, HS sẽ dễ dàng phát âm đúng một âm nào đó. 3. Phương pháp tổ chức trò chơi học tập Trò chơi học tập là một phương pháp cung cấp kiến thức hoặc củng cố khắc sâu nội dung kiến thức của bài thông qua một trò chơi. Có thể tận dụng trò chơi học tập để luyện phát âm cho HS. Trò chơi học tập là hình thức hoạt động rất phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của HS tiểu học. Trò chơi phù hợp, gắn với nội dung bài, hấp dẫn sẽ có tác dụng tốt với việc luyện phát âm của HS. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học, trò chơi học tập được coi là một nội dung học tập, một hoạt động không thể thiếu trong mỗi giờ học. Các trò chơi học tập nhằm luyện phát âm rất phong phú đa dạng và sinh động. Từ một mô hình trò chơi, GV có thể sáng tạo ra rất nhiều trò chơi để vận dụng cho từng bài cụ thể. Ví dụ : − Trò chơi nghe và đọc vần, tiếng, từ theo giai điệu : cao, thấp, nhanh, chậm − Nghe và nhận biết các vần có trong tiếng, từ và đọc lại