Luận văn Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương (Phần 1)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
luan_van_van_dung_phuong_phap_day_hoc_theo_du_an_giang_day_m.pdf
Nội dung text: Luận văn Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương (Phần 1)
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TRẦN KẾ NHÂN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN GIẢNG DẠY MÔ ĐUN MÁY ĐIỆN I CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC – 601410 S K C0 0 4 7 4 7 Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10/2015
- BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TRẦN KẾ NHÂN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN GIẢNG DẠY MÔ ĐUN MÁY ĐIỆN I CHO HỌC SINH HỌC NGHỀ CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH DƯƠNG NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC – 601410 Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN TUẤN Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
- i LÝ LỊCH KHOA HỌC I. LÝ LỊCH SƠ LƯỢC Họ và tên: Trần Kế Nhân Giới tính: Nam Ngày sinh: 02/02/1975 Nơi sinh: Quảng Trị Quê quán: Quảng Trị Dân tộc: Kinh Địa chỉ: K.p 4, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức, Tp. HCM II. QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO Hệ đào tạo: Đại học Thời gian đào tạo: từ 11/2007 đến 11/2011 Nơi học: Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh Ngành học: Điện công nghiệp. Tên đồ án: Thiết kế nhà xưởng Người hướng dẫn: Th.S. Nguyễn Văn Bổn III. QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm Trường Trung cấp nghề Khu Giáo viên, Tổ Trưởng BM 1/ 2012- 12/2013 công nghiệp Bình Dương Điện công nghiệp Trường Trung cấp nghề Khu 1/2014 - 12/ 2014 Phó Trưởng phòng đào tạo công nghiệp Bình Dương Trường Trung cấp nghề Khu 1/2015 đến nay Phó Trưởng phòng đào tạo công nghiệp Bình Dương
- ii LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả viết trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tp. HCM, ngày tháng năm 2015 Học viên Trần Kế Nhân
- iii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện Luận văn, người nghiên cứu luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Quý thầy, cô Viện Sư phạm kỹ thuật, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc, người nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn đến quí thầy, cô Viện sự phạm kỹ thuật, trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám hiệu trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ người nghiên cứu với những chỉ dẫn khoa học quí báu trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương”. Người nghiên cứu xin ghi nhận công sức và đóng góp quí báu của học sinh học nghề Điện công nghiệp - Khóa T11,T12,T13 và quí thầy cô bộ môn Điện công nghiệp trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương đã hợp tác, giúp đỡ người nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu thực trạng dạy học mô đun Máy điện 1 và thực nghiệm sư phạm. Tác giả xin gởi lời cảm ơn đến bạn học viên lớp Lý luận và Phương pháp dạy học 2013 - 2015B. Đặc biệt là sự quan tâm, động viên giúp đỡ từ gia đình. Một lần nữa người nghiên cứu xin chân thành cảm ơn quí thầy cô, bạn bè, gia đình đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình trong quá trình hoàn thành Luận văn. Tp. HCM, ngày tháng năm 2015 Học viên Trần Kế Nhân
- iv TÓM TẮT Trong những năm gần đây, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đã tác động tích cực đến sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Chính điều này đã tác động đến sự thay đổi của thị trường lao động trên phạm vi cả nước.Trong bối cảnh đó, sự đổi mới trong giáo dục nói chung và giáo dục nghề nghiệp nói riêng nhằm trang bị cho người lao động những năng lực tự học, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, sự sáng tạo và khả năng làm việc độc lập, chính vì thế cần có sự đổi mới về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học là cần thiết. Chính vì vậy, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho HS học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương” nhằm mục đích giúp cho người học có những kỹ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong nghề nghiệp qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Cấu trúc luận văn gồm có 2 phần chính: Phần mở đầu: Nêu rõ lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Phần nội dung: Gồm có 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án + Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt nam + Một số khái niệm liên quan + Đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án Chương 2: Thực trạng giảng dạy mô đun Máy điện 1 tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương + Giới thiệu sơ lược về trường Trung cấp nghề KCN Bình Dương + Tìm hiểu về thực trạng hoạt động dạy và học mô đun Máy điện tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương Chương 3: Tổ chức dạy học theo dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 cho học sinh học nghề Điện công nghiệptại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương:
- v + Đề xuất các nguyên tắc vận dụng, qui trình và thiết kế giáo án để tổ chức dạy học theo dự án mô đun Máy điện 1. Thực nghiệm sư phạm có đối chứng để kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài + Thực nghiệm sư phạm + Kiểm nghiệm và đánh giá + Kết luận và kiến nghị
- vi ABSTRACT These years recent, requirement of development economic – social has contributed positive for quickly development of science, engineering and technology. This fact contributed for changing of labor market over our country. That social background, alterations in education and vocational training in particular make workers self-educated, solved problems complex ability, creativity and independent working. So that, author carried out this thesis “Applying the method of project based learning teaching module 1 for HS Electric Industrial Electrical apprenticeship at the Vocational Industrial Park, Binh Duong” point at purpose help students who can get skills to solve practical problems in their vocation hence enhance quality vocational training. Thesis structure includes 2 main parts: Preamble: Specify reason to choose a subject, objectives and tasks of research, the object and the object of study, research methods. The body is composed of three chapters Chapter 1: Rationale for project-based learning + Overview of research problems in the world and in Vietnam + Some concepts related + Features of teaching methods Project Chapter 2: Current status of the teaching module electric machine 1 at the Vocational Industrial Park in Binh Duong + Introduction to Vocational School of Binh Duong + Learn about the current status of teaching and learning activities modules Telephones vocational school in Binh Duong Industrial Zone Chapter 3: Applying teaching methods Project-Electric teaching modules for students in vocational training 1 Industrial Electrical Vocational School in Binh Duong Industrial Zone: + Recommend applying the principles, processes and design lesson plans to organize project-based learning modules 1. Electric controlled pedagogical experiment to test the hypothesis of topics
- vii + Experimental pedagogy + Testing and evaluation + Conclusions and Recommendations
- viii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ NGUYÊN VĂN 1 HS Học sinh 2 GV Giáo viên 3 PPDHTDA Phương pháp dạy học theo dự án 4 KĐB Không đồng bộ 5 DHTDA Dạy học theo dự án 6 ĐC Đối chứng 7 DH Dạy học Phương pháp 8 PP 9 TN Thực nghiệm 10 KCN Khu công nghiệp 11 SP Số phiếu Tỷ lệ 12 TL
- 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo và các nhà quản lý đặt ra từ lâu và cũng là vấn đề bức thiết của giáo dục Việt Nam, đặc biệt đối với hệ thống giáo dục đại học. Lấy người học làm trung tâm được khẳng định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà ngành giáo dục đang hướng đến. Điều 40.2 của Luật giáo dục Việt Nam, đã chỉ rõ: “Phương pháp giảng dạy đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, ứng dụng"1. Ngày 13 tháng 6 năm 2012, Quyết định số 711/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã phê duyệt: ”Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020" với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện. Một trong những giải pháp quan trọng của chiến lược này là cần phải: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học ”2 Theo đó, đổi mới phương pháp dạy học trong các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi giáo viên và học sinh có quyết tâm cao để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục nghề nghiệp của nhà trường. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Việc cốt yếu là phải tạo sự tự tin cho người học, trong đó vai trò của người giáo viên là người hướng dẫn, cố vấn cho người học tự tìm kiếm phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm hình thành ở HS tính độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn, mở rộng những tri thức lĩnh hội trong quá trình học tập. Mô đun Máy điện1 là một trong những môn học thuộc chương trình khung nghề Điện công nghiệp được giảng dạy trong chương trình đào tạo hệ Trung cấp nghề. Với đặc điểm của môn học gắn lý thuyết và thực hành, có tính phức hợp cao, rèn luyện kĩ năng '.Trích: “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10”. 2.Trích: Quyết định phê duyệt "chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020”.
- 2 thực hành.Từ đó, người học phát triển tư duy, sáng tạo trong việc nâng cao khả năng ứng dụng vào thực tiễn góp phần trong việc học tập và chuyên môn sau này. Qua thực tế dạy và học môn Máy điện 1 còn một số bất cập như GV chưa có sự đầu tư đúng mức cho môn học về phương pháp, kiểm tra đánh giá và ứng dụng những nội dung mang tính cập nhật. Bên cạnh đó HS chưa phát huy tính tự lực, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập. Phương pháp dạy học theo dự án (PPDHTDA) có đặc điểm định hướng vào người học, phát triển năng lực làm việc cộng tác, năng lực giải quyết vấn đề có tính phức hợp. Từ những lý do trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:“Vận dụng Phương pháp dạy học theo dự án giảng dạy môn Máy điện 1 cho HS nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương". 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: Vận dụng Phương pháp dạy học theo Dự án giảng dạy mô đun Máy điện 1 tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương. 3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nhiệm vụ thứ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA, cụ thể là: + Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu; + Định hướng đổi mới PPDH và các tiếp cận dạy học theo dự án. Nhiệm vụ thứ 2: Nghiên cứu thực trạng dạy và học mô đun Máy điện 1 tại Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Binh Dương, cụ thể là: + Giới thiệu khái quát về trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương + Nội dung chương trình mô đun Máy điện 1,thực trạng dạy và học mô đun Máy điện 1; Nhiệm vụ thứ 3: Vận dụng phương pháp DHTDA giảng dạy môn Máy điện 1; + Cấu trúc lại nội dung chương trình môn học mô đun Máy điện 1theo các dự án dạy học và thực nghiệm sư phạm. 4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Phương pháp dạy học theo Dự án, cụ thể là quy trình DHTDA và bộ công cụ đánh giá kết quả học tập mô đun Máy điện 1.
- 3 5. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU + Học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương. + Chương trình mô đun Máy điện 1, hệ Trung cấp nghề 6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Hiện nay, việc tổ chức dạy và học mô đun Máy điện 1 tại Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương chủ yếu là các phương pháp dạy học truyền thống nên chưa phát huy được tính tích cực, chủ động học tập ở học sinh, dẫn đến kết quả học tập chưa cao. Nếu vận dụng phương pháp DHTDA như người nghiên cứu đã đề xuất thì sẽ phát huy tính tích cực chủ động học tập, phát huy năng lực làm việc nhóm, năng lực thuyết trình, năng lực đánh giá và năng lực giải quyết vấn đề. 7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Triển khai PPDHTDA mô đun Máy điện 1tại Trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương; Thực nghiệm sư phạm PPDHTDA HS lớp T12-ĐCN và T13-ĐCN nghề điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương. 8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận + Nghiên cứu các văn kiện, văn bản pháp qui về đổi mới PPDH. + Các tạp chí giáo dục, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, số liệu thống kê, thông tin đại chúng có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiển 8.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi + Khảo sát bằng bảng hỏi đối với GV và HS học nghề Điện công nghiệp để tìm hiểu thực trạng dạy học mô đun Máy điện1 và những nguyên nhân hạn chế việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo của HS (Phụ lục 1, 2) + Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm (Phụ lục 3) + Phương pháp quan sát 8.2.2. Phương pháp quan sát Giáo viên quan sát các hoạt động của HS thông qua các dự án học tập. Từ đó, GV đánh giá kết quả về nhận thức, năng lực làm việc và hợp tác của HS trong học tập.
- 4 8.2.3. Phương pháp thực nghiệm + Thực nghiệm sư phạm hai dự án: Dự án hổn hợp, dự án Thực hành ở lớp thực nghiệm T12-ĐCN và lớp đối chứng T13-ĐCN tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết. + Xử lý kết quả thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. 8.3. Phương pháp thống kê toán học Người nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê toán học để: + Xử lý kết quả khảo sát thực trạng dạy và học mô đun Máy điện 1 cho HS học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương; + Kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài về sự hứng thú tính tích cực trong học tập, các kĩ năng, năng lực làm việc hợp tác và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.Từ đó người nghiên cứu phân tích, so sánh kết quả học tập cuối cùng của môn học để khẳng định giả thuyết nghiên cứu là đúng đắn. 9. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Kết quả nghiên cứu của đề tài nếu được áp dụng, sẽ: + Góp phần nâng cao chất lượng dạy học mô đun Máy điện1 cho HS học nghề Điện công nghiệp tại trường Trung cấp nghề Khu công nghiệp Bình Dương; + Vận dụng PPDHTDA cho các môn học khác trong Chương trình đào tạo nghề Điện công nghiệp hệ Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề + Hình thành các kĩ năng cho HS, để họ thích ứng nhanh với nhu cầu thực tiễn; + Đánh giá các kĩ năng làm việc hợp tác của HS qua việc thực hiện các dự án học tập.
- 5 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1. 1.TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1.1. Lịch sử phát triển của phương pháp dạy học theo Dự án trên thế giới Phương pháp DHTDA có nguồn gốc từ Châu Âu thế kỉ XVI ở Ý và Pháp. Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, DHTDA được các nhà sư phạm Mỹ (John Dewey, William Heard Kilpatrick, ) xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và được xem đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống; và được đưa vào sử dụng chủ yếu trong dạy học tích hợp các mô đun Kĩ thuật. Cùng với sự ứng dụng ngày càng rộng rãi, các dự án dạy học sau đó được sử dụng ở hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội. Ngày nay PPDHTDA được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương tây. Phương pháp DHTDA là một trong những PPDH mới được thực hiện trong vài thập kỷ gần đây, chủ yếu trong các trường THPT và Đại học ở các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Canada, và là một trong những PPDH hướng vào người học, tích cực hóa người học. Các công trình nghiên cứu đã được công bố của các nhà nghiên cứu như sau: + William Heard Kilpatrick nhà sư phạm Mỹ với bài viết“Phương pháp dự án“ (Theproject method) công bố 1918. Ông đã miêu tả chi tiết về DHTDA3. + Regie Stites (Viện Nghiên cứu quốc tế SRI, Mỹ) đã phân tích hiệu quả của DHTDA trên một số đối tượng người học nhất định4. + Susan J. Wolff (Đại học Bang Oregon, Mỹ) đã đưa ra 32 kiểu môi trường học tập tự nhiên đặc trưng thích hợp cho dạy học hợp tác và DHTDA ở bậc Cao đẳng cộng đồng5. 3. William Heard Kilpatrick (1918), The Project Methode, Teachers College, (Record 19), trang 319 - 334. 4 Regie Stites, “Evaluation of Project Based Learning. What does research say about outcomes from project-based learning? ”, SRI International. 5. Susan J. Wolff, Ed.D, “Relationships among People and Spaces: Design Features for the Optimal Collaborative, Project - Based Learning Experience “, Oregon State University.
- 6 + Viện nghiên cứu giáo dục Buck (USA) tổ chức đào tạo và xuất bản sổ tay hướng dẫn các GV trung học tích hợp DHTDA vào chương trình học. + Tổ chức Phát triển giáo dục Quốc gia (USA): Cuốn Gắn kết các mảnh nhỏ (2000) bao gồm một chương về “Dạy học theo dự án và công nghệ thông tin”. + Cách tiếp cận dự án: Trang web được duy trì bởi Sylvia Chard, Giáo sư trường Đại học Alberta (Canada) và đồng tác giả cuốn kích thích óc tư duy của trẻ: Cách tiếp cận dự án (2000). Quá trình lịch sử nổi bật của dạy học theo dự án được chia thành 5 giai đoạn như sau6: + Từ 1590 - 1765: Khởi đầu SV được làm việc theo dự án tại các học viện kiến trúc Châu Âu. + Từ 1765 - 1880: dự án đã trở thành một PPDH và lan tỏa ở khắp nước Mỹ. + Năm 1880 - 1915: Dự án được làm việc ở trường kỹ thuật và các trường học công. + Năm 1915 - 1965: Định nghĩa DHTDA và đưa DHTDA từ Mĩ quay lại Châu Âu. + Từ 1965 - nay: Làn sóng thứ 3 PPDA được lan rộng trên quốc tế 1.1.2. Lịch sử phát triển của dạy học theo Dự án ở Việt Nam Ở Việt Nam, các đồ án môn học, đồ án tốt nghiệp từ lâu đã được sử dụng trong đào tạo Đại học trước hết là các Trường Đại học Kỹ thuật. Hiện nay các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận thực hiện trong các Trường Đại học rất gần gũi với DHTDA. Trong lĩnh vực lý luận, DHTDA bước đầu được quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây. Cụ thể một số kết quả nghiên cứu ở Việt Nam như sau: Từ năm 2004, DHTDA được Bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp với tập đoàn Intel triển khai thí điểm tại 20 trường học thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước trong chương trình (Intel Teach to the Future, Teach Essentials, Teach Elements) nhằm giúp các GV khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kĩ năng hợp tác đối với học sinh. Năm 2005, Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, chương trình hội thảo tập huấn“Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới”. Tháng 6 Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3.http: //edutechwiki.unige. ch/en/Project-based_learning
- 7 5/2006 chương trình hội thảo của Việt - Bỉ, “Nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng GV Tiểu học và Trung học cơ sở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”. Tập đoàn Microsoft đã triển khai chương trình PIL (Partners in learning) tập huấn cho các GV về một số phương pháp dạy học thế kỉ XXI, trong đó có phương pháp DHTDA. Đầu năm 2009, để hỗ trợ các tỉnh miền núi phía Bắc thực hiện tốt đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy và học tích cực, dự án Việt - Bỉ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm phát triển, nâng cao năng lực sư phạm, hình thành kĩ năng, kĩ xảo về dạy và học tích cực cho giáo viên, trong đó DHTDA cũng được chú trọng và giới thiệu chi tiết. Gần đây nhất vào tháng 10 năm 2012, chương trình đào tạo GV hướng tới việc nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp trung học cơ sở tại 5 tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam và Quảng Ngãi) thông qua việc hỗ trợ thúc đẩy Dạy học tích cực. VVOB (VVOB là Tổ chức Hợp tác Phát triển và Hỗ trợ Kĩ thuật vùng Fla - măng, Vương quốc Bỉ, một tổ chức phi lợi nhuận. Đại diện cho chính phủ vùng Fla-măng và chính phủ Vương quốc Bỉ) hỗ trợ các trường Cao đẳng/Đại học Sư phạm tại năm tỉnh này trong việc điều chỉnh cách đào tạo, đảm bảo SV có được năng lực cần thiết để trở thành những thầy cô dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm. Đồng thời, VVOB cũng hỗ trợ các trường trong việc phát triển tài liệu cho dạy học tích cực. Công nghệ thông tin và Giáo dục môi trường được coi là phương tiện thích hợp để khởi động quá trình này. Dạy học theo dự án được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, nghiên cứu sinh, giáo viên của các bậc học khác nhau từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề, cao đẳng đại học trên cả nước quan tâm nghiên cứu: Tác giả Nguyễn Thị Diệu Thảo, “DHTDA và vận dụng trong đào tạo GV trung học cơ sở môn Công nghệ”,luận án Tiến sĩ giáo dục học, Hà Nội, 2009. Trong luận án, tác giả đã khái quát hóa và làm sáng tỏ vấn đề liên quan đến lý luận DHTDA. Tác giả đã xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV môn Kinh tế gia đình và vận dụng DHTDA trong đào tạo GV môn Công nghệ. Nguyễn Như Khương, “Áp dụng DHTDA vào quá trình dạy học môn Giáo dục học ở trường Đại học Sư Phạm Kĩ thuật Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ giáo dục học, TP.HCM, 2009. Nội dung luận văn của tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tính tích cực, độc lập của SV có sự hỗ trợ của đa phương tiện, đặc biệt là công nghệ
- 8 thông tin và thiết kế một số dự án học tập lý thuyết cho môn học Giáo dục học của SV trường Đại học Sư phạm Kĩ thuật - Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Kim Nhụy (2012),“Vận dụng phương pháp DHTDA cho Công nghệ lớp 12 tại trường THPT Trần Văn Ơn Tỉnh Bình Dương", luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP. HCM,. Tác giả đã vận dụng DHTDA để phát huy tư duy phê phán, kĩ năng học tập hợp tác và đã thiết kế được hai dự án học tập vào môn Công nghệ 12 của trường THPT Trần Văn Ơn tỉnh Bình Dương. Phạm Hồng Bắc,“Kinh nghiệm đưa DHTDA vào dạy học Hóa học vô cơ Trung học phổ thông có hiệu quả”, tạp chí Giáo dục số 282 (kỳ 2-3/2012), trang 42. Tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm về DHTDA đó là cách lựa chọn chủ đề, việc chọn nhóm và cách trình bày sản phẩm của dự án trong môn học Hóa học vô cơ trung học phổ thông có hiệu quả. Lê Khoa, “Tổ chức DHTDA một số kiến thức Vật lý về sản xuất điện năng ở trường Trung học phổ thông”, tạp chí Giáo dục số 290 (kỳ 2 -7/2012), trang 52. Tác giả đã xây dựng qui trình DHTDA với 4 giai đoạn, 03 dự án và bộ câu hỏi định hướng cho HS. Thực nghiệm 3 dự án trên và kết quả HS đã biết vận dụng kiến thức đã học được vào việc thiết kế, chế tạo máy phát điện và phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong học tập đồng thời hình thành năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Các đề tài trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo Dự án, thực trang dạy và học các mô-đun tại các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề đồng thời tiến hành thực nghiệm sư phạm. Ngoài ra, các tác giả còn đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả của việc tổ chức dạy học như: Biên soạn nội dung dạy học trong các môn học/mô-đun theo hướng “tiếp cận kỹ năng”, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của giáo viên, trang bị bổ sung đầy đủ và kịp thời (phương tiện dạy học) trang thiết bị dụng cụ, nguyên vật liệu cho kịp theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, việc đổi mới phương pháp dạy học là một quá trình lâu dài, phức tạp và rất nhiều khó khăn nó đòi hỏi cả người dạy và người học phải phấn đấu không ngừng, kiên quyết từ bỏ những thói quen, kinh nghiệm đã có từ lâu đời trong dạy học. Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng việc tiến hành đổi mới phương pháp dạy học đã đem lại nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu đã quan tâm đến sự phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Cho đến nay, các trường học trong
- 9 cả nước nói chung và đặc biệt là các trường đào tạo nghề tiếp tục hưởng ứng và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng cho nền giáo dục Việt Nam. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao hơn trong việc đào tạo con người thích ứng với thời đại mới. 1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.2.1. Dạy học và hoạt động dạy học. + Dạy học: Theo từ điển tiếng Việt: dạy để nâng cao trình độ văn hóa và phẩm chất đạo đức, theo chương trình nhất định7. Dạy và học là hai mặt trong một quá trình có mối quan hệ mật thiết tương tác với nhau. Dạy học là một dạng hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học. Đó là sự vận động của một hoạt động kép, trong đó diễn ra hai hoạt động có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: hoạt động dạy và hoạt động học.8 + Hoạt động dạy: là một quá trình tác động đến người học có mục đích, có kế hoạch, để truyền thụ, tổ chức nhận thức kiến thức, kinh nghiệm xã hội và nghề nghiệp cho người học. Nhằm hình thành và phát triển nhân cách nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng. Hoạt động dạy không chỉ hướng đến yêu cầu truyền thụ kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ nghề nghiệp đúng đắn ở người học mà còn góp phần phát triển tính tích cực và tổ chức các hoạt động học tập của HS. + Hoạt động học: là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan. Hoạt động học, chủ thể là người học, hướng vào đối tượng học, tiếp nhận và chuyển hóa nó, biến thành của riêng, qua đó phát triển chính bản thân mình. 1.2.2. Phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp (PP) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methods) có nghĩa là con đường đi đến mục đích. Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học. 7 . Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm, Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, 1999, trang 305. 8 . Nguyễn Văn Tuấn, PPDHĐH theo hướng tích cực hóa người học,TP.HCM, 2007, trang 30.
- 10 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang:"PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kĩ năng, kĩ xảo một cách tự giác, tích cực, tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học ". Theo tác giả Hà Thế Truyền,"PPDH là những cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của GV và SV hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học"9 Theo tác giả Võ Thị Xuân, PPDH là cách thức hoạt động của GV và SV sao cho phát huy được tính tích cực, tự lực, tự giác của HS để đạt mục tiêu dạy học; bản chất của PPDH là hoạt động của GV và SV.10 Tóm lại: PPDH là những cách thức, là con đường để tiến hành hoạt động dạy và học nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Cho đến nay chưa có sự thống nhất về định nghĩa PPDH. Khái niệm PPDH ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các PPDH, các mô hình hành động cụ thể. PPDH cụ thể là những cách thức hành động của GV và SV nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể.Phương Pháp DH cụ thể bao gồm những phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộ môn. Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, trực quan, có thể kể một số phương pháp khác như: phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp học tập theo tra cứu Và PPDH còn được hiểu theo nghĩa rộng, là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và SV trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt được mục tiêu dạy học. 1.2.2.1. Dự án: + Theo từ điển Tiếng việt: Dự thảo văn kiện luật pháp hoặc kế hoạch11. + Thuật ngữ “Dự án” tiếng Anh: “project” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “projecere”, "Progetto" theo tiếng Ý, "Projet" tiếng Pháp, "Projekt" tiếng Đức và "Proekt" tiếng Nga: phác thảo, dự thảo hay một kế hoạch và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch.12 9 . Hà Thế Truyền,Gỉáo dục học đại học, Hà nội. 2006, trang 88. 10. Võ Thị Xuân, Phương pháp dạy học chuyên ngành kĩ thuật,Tạp chí giáo dục, số 283 (kì 1 - 4/2012), trang 29. 11 Minh Tân, Thanh Nghi, Xuân Lãm, Từ điển tiếng Việt, NXB Thanh Hóa, 1999, trang 337. 12 Michael Knoll, The Project Method: Its Vocational Education Origin and International Development, University of Bayreuth, Volume 34, Spring 1997, Number 3. http: //edutechwiki.unige. ch/en/Project-based_learning
- 11 + Khái niệm “Dự án” được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn là một phương pháp hay hình thức dạy học. + Theo tiêu chuẩn DIN (Deutsches Institut fuer Normung) 69901 của cộng đồng Châu Âu:dự án là một kế hoạch, một dự tính, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy nhất của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện trước; phân biệt với các dự án khác; có tổ chức dự án chuyên biệt.13 Như vậy, khái niệm dự án có thể hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, vật chất, nhân lực cần được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra14. 1.2.2.2.Dự án học tập Dự án học tập (DAHT) là một dự án, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành; kết hợp kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. + Mục tiêu của dự án học tập tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu được và đây là con đường để đạt mục tiêu dạy học. + Đặc điểm của dự án học tập: Dự án học tập (DAHT) do HS trực tiếp lựa chọn và thực hiện; Dự án học tập có quy mô nhỏ so với dự án trong thực tiễn; Gắn liền với nội dung chương trình của môn học; Tạo ra sản phẩm có thể giới thiệu được; Học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết những vấn đề, những tình huống có trong đời sống. 1.2.2.3.Dạy học theo dự án Dạy học theo dự án có tên gốc tiếng Anh là Project - based learning (viết tắt là PBL), đôi khi được gọi tắt “dạy học dự án", hoặc “học tập dựa trên dự án", “phương pháp DHTDA". Có nhiều định nghĩa về DHTDA như sau: Một số nhà nghiên cứu về DHTDA của Hoa Kỳ như Thomas, Mergendoller hay Michaelson,“DHTDA là một mô hình tổ chức học tập xung quanh dự án. Các dự án có 13. Bechler K.J, Lange D. (Hrsg), DIN Normen in Projektmanagement. Bonn (2005). 14 . Prof. Dr. Bernd Meier - Dr. Nguyễn Văn Cường, Cơ sở đổi mới phương pháp dạy học, POTSDAM, Hà Nội, 2011, trang 69.
- S K L 0 0 2 1 5 4



