Xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường Cao đẳng nghề LILAMA 2
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường Cao đẳng nghề LILAMA 2", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
xay_dung_mo_hinh_hoc_tap_tieng_anh_cong_dong_tai_truong_cao.pdf
Nội dung text: Xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường Cao đẳng nghề LILAMA 2
- XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC TẬP TIẾNG ANH CỘNG ĐỒNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LILAMA 2 BUILDING A MODEL OF COMMUNITY-BASED LEARNING ENGLISH AT LILAMA 2 TECHNICAL AND TECHNOLOGY COLLEGE Trịnh Thị Hiền, Dương Thị Kim Oanh Học viên cao học trường ĐHSPKT TPHCM, Giảng viên trường ĐHSPKT TPHCM TÓM TẮT Trong xu thế hội nhập và phát triển, tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu và có vai trò rất quan trọng đối với mọi quốc gia và cá nhân. Việc dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam đang dần chuyển từ dạy như một môn khoa học sang dạy một môn kỹ năng. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động trong đó sự thiếu hụt lớn về môi trường dạy học và sử dụng tiếng Anh nên năng lực tiếng Anh, đặc biệt là hai kỹ năng nghe và nói của sinh viên còn nhiều hạn chế. Chủ trương của Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 là thực hiện thành công đổi mới toàn diện dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nên việc xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng ngày càng phổ biến. Nghiên cứu này đã tiến hành xây dựng ba mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng chính tại trường Cao đẳng nghề LILAMA 2, đó là mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp, mô hình học tiếng Anh trực tuyến qua mạng xã hội facebook và mô hình tổ chức cuộc thi văn nghệ tiếng Anh. Các mô hình học tập cộng đồng này đều giúp sinh viên phát triển năng lực nghe nói tiếng Anh và tăng sự tự tin khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Từ khóa: mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng, tiếng Anh cộng đồng, môi trường tiếng Anh ABSTRACT In the trend of integration and development, English becomes the global language and has a very important role for all nations and individuals. The teaching and learning of foreign languages in Vietnam are moving from teaching as a science subject to teaching a skill. However, due to many factors in which the huge shortage of teaching and use of English environment, English competency of Vietnamese students is still at a low level, especially listening and speaking skills. The aim of the National Foreign Language Project 2020 is to do the teaching and learning of foreign languages successfully in the national education system; therefore, building a model of community-based learning English is more popular. This research has built three main models of community-based learning English for students at LILAMA 2 college. These are model of communicative English club, model of learning English online through Facebook and model of the singing contest in English. All of these models can improve English listening and speaking skills and help students to be more confident when communicating in English. Key words: model of community-based learning English, community-based English, English environment 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
- Ở Việt Nam, nghiên cứu về mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học như ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Thái Nguyên, ĐH Bách khoa TPHCM Các nghiên cứu về xây dựng mô hình tiếng Anh cộng đồng của trường ĐH Sư phạm TP HCM (2015) và triển khai thí điểm mô hình tiếng Anh cộng đồng tại ĐH Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng chất lượng học tập tiếng Anh của sinh viên trong trường cũng như nhận xét, đánh giá hoạt động của các hình thức học tập tiếng Anh hiện có tại trường, sau đó đề ra kế hoạch xây dựng thí điểm mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng cho sinh viên [3],[4]. Nhiều cộng đồng học tập ngoại ngữ đã được hình thành và phát triển ở các các cấp học, các cơ sở giáo dục đào tạo như mô hình Câu lạc bộ ngoại ngữ ở nhiều trường cao đẳng, đại học (ĐH Ngoại ngữ-ĐH Đà Nẵng, ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội, ĐH Thái Nguyên ); mô hình trại hè giao lưu, trao đổi văn hóa và học thuật với lưu học sinh, tình nguyện viên nước ngoài, và các kỳ thi Olympic ngoại ngữ, thi hùng biện ngoại ngữ cho học sinh các cấp và sinh viên khối chuyên ngữ và không chuyên ngữ (Sở GD và ĐT thành phố Hồ Chí Minh, Sở GD và ĐT Hà Nội, Sở GD và ĐT Thừa Thiên Huế, Sở GD và ĐT Thái Nguyên, Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai ); mô hình một sinh viên chuyên ngữ kèm sinh viên không chuyên (phối hợp giữa ĐH Sư phạm và ĐH Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội ); mô hình các cuộc thi văn nghệ tiếng Anh như: ca hát, kịch, guitar, karaoke, chiếu phim, (ĐH Bách Khoa TP.HCM ). Trên thực tế các cộng đồng học tập ngoại ngữ này với những nét đặc trưng phong phú, hấp dẫn về nội dung, chương trình hoạt động cũng như cách thức tổ chức triển khai đã tạo nên sự bổ sung cần thiết bên cạnh các cách thức tổ chức dạy học và phương pháp xây dựng chương trình, tài liệu dạy học ngoại ngữ phổ biến trong môi trường lớp học truyền thống (lớp học đông, giáo viên nói, học sinh/sinh viên ghi chép), góp phần chuyển mạnh từ việc dạy học để biết ngoại ngữ sang hình thành các kỹ năng ngoại ngữ, nâng cao từng bước năng lực sử dụng ngoại ngữ của người dạy, người học [1]. Trường Cao đẳng nghề LILAMA 2 trực thuộc Bộ Xây Dựng, là trường đi tiên phong trong việc đào tạo nghề theo chất lượng quốc tế nhằm tạo ra đội ngũ lao động tay nghề cao có đủ năng lực ngoại ngữ để có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Hiện nay, trường đang thí điểm đào tạo hệ Kỹ sư thực hành cho ba ngành: cơ khí, điện tử công nghiệp, hàn theo chương trình đào tạo của Hội đồng nghề Anh Quốc do City & Guilds – Anh Quốc cấp bằng tốt nghiệp. Toàn bộ chương trình đào tạo bằng Tiếng Anh, sinh viên học bằng tiếng Anh, làm bài thi bằng tiếng Anh Trong khi thực tế, có nhiều sinh viên trong trường dù học xong ba học phần tiếng Anh vẫn chưa thể giao tiếp được bằng tiếng Anh, hoặc không tự tin nói tiếng Anh khi có khách là người nước ngoài đến giao lưu và làm việc tại trường. Bên cạnh đó, ngoài những giờ học lý thuyết trên lớp thì sinh viên không có tham gia hoạt động học tập nào ngoài không gian lớp học, dẫn đến sinh viên không có cơ hội thực hành tiếng, không tự tin trong giao tiếp tiếng Anh. Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là: Kỹ năng nghe và nói tiếng Anh của sinh viên hạn chế khi chỉ tham gia học tập trong không gian lớp học tại trường CĐN LILAMA 2. Kỹ năng nghe và nói tiếng Anh của sinh viên sẽ tiến bộ hơn khi tham gia các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường CĐN LILAMA 2.
- 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để xây dựng các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng cho sinh viên hệ KSTH tại trường CĐN LILAMA 2, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm phân tích, so sánh, khái quát hoá các tài liệu cũng như các văn bản pháp quy về giáo dục liên quan đến đổi mới các phương pháp dạy học tiếng Anh, mô hình dạy học tiếng Anh cộng đồng, năng lực tiếng Anh, vv đã được xuất bản trong các ấn phẩm trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát để tìm hiểu thực trạng dạy học môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên hệ KSTH khóa K01 tại trường CĐN LILAMA2 về các nội dung như nhận thức của sinh viên về việc học môn tiếng Anh giao tiếp, động cơ học môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên, kết quả học tập môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên, khó khăn và nguyên nhân sinh viên gặp phải khi học môn tiếng Anh giao tiếp, yếu tố ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên, nhu cầu của sinh viên về các biện pháp hỗ trợ việc học môn TAGT. Sau khi tìm hiểu thực trạng, người nghiên cứu tiếp tục sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn để tìm hiểu về kết quả áp dụng các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường CĐN LILAMA 2 về các nội dung nhận thức của sinh viên đối với môn tiếng Anh giao tiếp, thái độ học tập của sinh viên đối với môn tiếng Anh giao tiếp, động cơ học tập môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên, thái độ của sinh viên khi thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh, kết quả kỹ năng nghe, nói của sinh viên. Ngoài các phương pháp kể trên, đề tài còn sử dựng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục để đánh giá mức độ tiến bộ của sinh viên qua các hoạt động học tập. Các sản phẩm hoạt động giáo dục của sinh viên bao gồm các bài nói ngắn bằng tiếng Anh, các câu trả lời tiếng Anh của sinh viên, vở kịch, bài thi hùng biện tiếng Anh, đoạn văn ngắn bằng tiếng Anh, vv Phương pháp thực nghiệm được sử dụng để kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết khoa học: “Kỹ năng nghe và nói tiếng Anh của sinh viên sẽ tiến bộ hơn khi tham gia các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường CĐN LILAMA 2.” Cuối cùng, đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả khảo sát thực trạng dạy học môn Anh văn giao tiếp cho sinh viên hệ KSTH và kết quả thực nghiệm sư phạm. Phép thống kê sử dụng chủ yếu trong đề tài là phép tính phần trăm. 3. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 3.1. Học tập cộng đồng Đề tài sử dụng khái niệm “Học tập cộng đồng” được đề cập trong tài liệu “Kế hoạch xây dựng Mô hình tiếng Anh cộng đồng tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM”: “Học tập cộng đồng là một hệ thống các hình thức học tập trong môi trường cộng đồng, trong đó người học đóng vai tr chủ động và chi phối các hoạt động học tập. Trong mối liên hệ với cộng đồng, người học được tăng cường và phát triển năng lực học tập dựa trên phong cách học tập của mỗi cá nhân” [4].
- 3.2. Môi trường học tập Wener Sacher (2005) cho rằng: “Môi trường học tập là tập hợp những yếu tố vật chất, tài liệu và các yếu tố con người – xã hội xung quanh người học, có tiềm năng kích thích và khuyến khích quá trình học tập” [3, trang 19]. Theo Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường: “Môi trường học tập bao gồm những nội dung, tài liệu, phương tiện dạy học, các phương pháp làm việc của giáo viên và học sinh, các tình huống và nhiệm vụ học tập, yếu tố không gian, thời gian cũng như bối cảnh văn hóa. Chúng được thiết kế phù hợp với nhau nhằm khuyến khích và thúc đẩy các quá trình học tập của chủ thể” [3, trang 20]. 3.3. Mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng Từ khái niệm “mô hình” và “học tập cộng đồng”, người nghiên cứu cho rằng: “Mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng là hình thức diễn đạt ngắn gọn đặc trưng của các hình thức học tập tiếng Anh trong môi trường cộng đồng, trong đó người học chủ động và thực hiện các hoạt động học tập”. 3.4. Xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng Từ hai khái niệm “Xây dựng” và “Mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng” người nghiên cứu cho rằng “Xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng là hình thành các hình thức học tập tiếng Anh ngoài không gian lớp học, trong đó người học đóng chủ động và thực hiện các hoạt động học tập, dưới sự định hướng và tổ chức của người dạy”. 4. THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH GIAO TIẾP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LILAMA 2 4.1. Thực trạng hoạt động học môn TAGT tại trường CĐN LILAMA 2 Đề tài đã tiến hành khảo sát 51 sinh viên khóa K01 hệ Kỹ sư thực hành nhằm tìm hiểu về thực trạng hoạt động học môn TAGT tại trường CĐN LILAMA 2, kết hợp với phương pháp phỏng vấn và phương pháp quan sát sinh viên trong và ngoài giờ học. Kết quả thu được như sau: Nhận thức của sinh viên về vai trò của môn tiếng Anh giao tiếp và thái độ của sinh viên đối với môn học Kết quả thống kê cho thấy, có 10.9% SV cho rằng môn học rất quan trọng, 40% SV đánh giá môn học là quan trọng, 30.9% SV nhận thấy môn học ít quan trọng và 18.1% ý kiến cho rằng môn học không quan trọng. Về thái độ của sinh viên đối với môn TAGT, có 9.1% sinh viên có thái độ rất thích và 32.7% sinh viên trả lời là thích môn học TAGT. Trong khi đó, số lượng sinh viên có thái độ bình thường đối với môn học chiếm 23.6% và 34.5% còn lại không yêu thích môn học này. Điều này cho thấy phần lớn SV chưa tìm được niềm vui thích khi học môn TAGT. Động cơ học tập môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên Kết quả thống kê cho thấy, sinh viên học môn TAGT chủ yếu do đây là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo (49.1%) và để đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của trường (43.6%). Bên cạnh đó, có 29.1% SV học môn TAGT vì muốn đọc hiểu tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh, 27.3% SV học vì muốn tìm một công việc tốt sau khi ra trường, 21.8% ý kiến cho rằng học môn AVGT vì muốn giao tiếp được với người nước ngoài. Ngoài ra, có 14.5% SV học vì sở thích hay niềm đam mê và có 9.1 % SV học để đạt điểm cao trong các kỳ thi. Từ kết quả trên có thể nhận
- thấy rằng phần nhiều SV học môn TAGT vì áp lực học hành và thi cử do đây là môn học bắt buộc và phải hoàn thành đâù ra theo quy định của nhà trường. Số lượng SV học môn học này vì động cơ nhận thức khoa học và động cơ nghề nghiệp còn ít. Đa phần các em tiếp nhận môn học này một cách miễn cưỡng, thụ động. Chiến lược học tập môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn sinh viên học và rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc viết ở trên lớp theo sự hướng dẫn của giáo viên (chiếm tỷ lệ 74.5%), 29.1% sinh viên tự học ở nhà ngoài giờ học trên lớp với giáo viên và 5.5% sinh viên đi học thêm ở những trung tâm ngoại ngữ bên ngoài để rèn luyện thêm kỹ năng. Ngoài ra, số lượng sinh viên không quan tâm đến việc rèn luyện các kỹ năng tiếng Anh là 14.5%. Như vậy, đa số sinh viên hệ KSTH trường CĐN LILAMA 2 rất thụ động trong việc rèn luyện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh khi hầu hết các em chỉ học và củng cố theo các bài học trên lớp mà không chủ động tìm kiếm các hình thức học tập khác. Qua kết quả khảo sát trên, người nghiên cứu nhận thấy sinh viên hệ KSTH chưa có chiến lược học hiệu quả để rèn luyện các kỹ năng tiếng Anh, đặc biệt là 2 kỹ năng nghe và nói, dẫn đến năng lực giao tiếp tiếng Anh còn rất hạn chế. Do đó, nhà trường và khoa Ngoại ngữ cần tổ chức xây dựng các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng với nhiều hình thức hoạt động khác nhau để tạo ra sân chơi vừa lành mạnh và bổ ích, vừa tạo cơ hội thực hành ngôn ngữ cho SV. Kết quả tự đánh giá năng lực tiếng Anh của SV Sinh viên gặp khó khăn ở hai kỹ năng nghe và nói chiếm tỷ lệ cao nhất (không thể nghe hiểu tiếng Anh chiếm 69.1% và không nói được bằng tiếng Anh chiếm gần 64%). Bên cạnh đó, có 43.6% sinh viên không có từ vựng hoặc vốn từ yếu, 36.4% SV không thể viết được bằng tiếng Anh và số sinh viên không nắm được ngữ pháp tiếng Anh chiếm 32.7%. Để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên hệ KSTH, đề tài tiếp tục khảo sát về thái độ của sinh viên khi thực hành nghe, nói bằng tiếng Anh, với 3 tiêu chí: rất tự tin, tự tin, chưa tự tin. Kết quả thu được cho thấy, có 5.5% sinh viên rất tự tin và 14.5% cảm thấy tự tin khi nghe nói bằng tiếng Anh. Trong khi đó, số lượng sinh viên chưa tự tin khi thực hành giao tiếp tiếng Anh chiếm tỷ lệ rất cao (80%). Như vậy, qua số liệu khảo sát và chia sẻ của sinh viên, người nghiên cứu thấy rằng việc xây dựng một môi trường thực hành tiếng ngoài không gian lớp học với những hoạt động vừa học vừa chơi sẽ vừa tạo hứng thú và tự tin cho sinh viên khi giao tiếp bằng tiếng Anh, vừa tạo cơ hội cho sinh viên vận dụng từ vựng và các mẫu câu được học trên lớp. Có như vậy, kỹ năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên mới được cải thiện. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến năng lực tiếng Anh của sinh viên. Kết quả thống kê cho thấy, có 40% sinh viên không có động cơ học tập môn tiếng Anh giao tiếp. Nói cách khác, đây là những sinh viên chưa nhận thức rõ được vai trò và tầm quan trọng của môn học này. Tiếp theo, có 29.1% sinh viên chưa có phương pháp học tập đúng đắn, đồng nghĩa với việc những sinh viên này chưa tìm ra phong cách học tập phù hợp để tiếp thu bài hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, có 38.2% sinh viên cho rằng do kết quả học tiếng Anh ở phổ thông chưa tốt nên các em bị mất căn bản và rất khó tiếp thu bài học. Nguyên nhân do thiếu môi trường
- và các hoạt động thực hành tiếng Anh chiếm tỷ lệ khá cao (67.3%) dẫn đến nhiều sinh viên nói và nghe tiếng Anh còn hạn chế. Ngoài ra, không có đủ thời gian đầu tư cho tiếng Anh (18.2%), thiếu trang thiết bị sách vở tài liệu (12.7%) cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng tới năng lực tiếng Anh của sinh viên. Mong muốn của sinh viên về các biện pháp nâng cao năng lực tiếng Anh. Kết quả thống kê cho thấy, các biện pháp liên quan tới việc tổ chức các hoạt động học tập tiếng Anh ngoài không gian lớp học được nhiều sinh viên lựa chọn. Có 70.9% sinh viên mong muốn nhà trường tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, tr chơi bằng tiếng Anh và 52.7% ý kiến cho rằng nhà trường cần xây dựng một môi trường học tập có sử dụng tiếng Anh cho sinh viên. Ngoài việc tổ chức các hoạt động ngoài không gian lớp học, sinh viên cũng mong muốn nhà trường tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề bằng tiếng Anh (40%) và mở thêm những lớp học tiếng Anh tăng cường (36.4%). Bên cạnh đó, đầu tư cải tiến trang thiết bị, cơ sở vật chất (25.5%) và tăng thêm số học phần bắt buộc học tiếng Anh (16.4%) cũng là những mong muốn của sinh viên nhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ. 4.2. Thực trạng hoạt động dạy môn tiếng Anh giao tiếp tại trường CĐN LILAMA 2 Song song với việc nghiên cứu thực trạng hoạt động học, đề tài đi tìm hiểu về thực trạng hoạt động dạy môn tiếng Anh giao tiếp tại trường CĐN LILAMA 2. Vì số lượng giáo viên tiếng Anh tại trường có 7 người, các phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn, quan sát) đã được sử dụng để thu thập các thông tin về hoạt động dạy môn tiếng Anh giao tiếp tại trường CĐN LILAMA 2. Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy môn tiếng Anh giao tiếp của giáo viên cho thấy, tất cả giáo viên đều hiểu rõ về vai trò và tầm quan trọng của việc dạy môn TAGT tại trường CĐN LILAMA 2. Qua phỏng vấn, khi đánh giá về năng lực ngoại ngữ của sinh viên trong trường, các giáo viên đều nhận định bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Anh của sinh viên vẫn còn yếu kém. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra bên cạnh một số phương pháp dạy học tích cực như làm nhóm, chơi tr chơi, phương pháp dạy học truyền thống (ngữ pháp-dịch) được giáo viên sử dụng phổ biến hơn cả. Ngoài giờ học, giáo viên chưa tổ chức được hoạt động học tập nào cho sinh viên thực hành giao tiếp tiếng Anh. Từ đó, các giáo viên cũng đã đề xuất nhà trường cần tổ chức thêm các hoạt động học tập tiếng Anh ngoài giờ học trên lớp cho sinh viên nhằm tạo môi trường tiếng Anh cho sinh viên học tập và rèn luyện. 5. XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC TẬP TIẾNG ANH CỘNG ĐỒNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ LILAMA 2 5.1. Các định hướng khoa học để xây dựng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường Cao Đẳng Nghề LILAMA 2 Để việc tổ chức các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng đạt hiệu quả cao nhất cần chú trọng đến các định hướng khoa học: Bám sát mục tiêu và nhiệm vụ của Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020: Theo công văn số 45/CV-ĐANN ngày 17/03/2016 của Ban Quản lý Đề án NNQG 2020 đã quy định 7 nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 của Đề án NNQG. Trong số đó, nhiệm vụ số 5 nêu rõ cần xây dựng môi trường thuận lợi hỗ trợ việc dạy và học ngoại ngữ, tạo điều kiện xã hội hóa
- việc dạy-học ngoại ngữ, tạo động cơ học tập ngoại ngữ của thế hệ trẻ Việt Nam. Theo nhiệm vụ này, cần hoàn thiện và nhân rộng mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng trong các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học; nhân rộng mô hình câu lạc bộ ngoại ngữ cộng đồng đã triển khai thí điểm tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trong các cơ sở giáo dục thường xuyên Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý người học: Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, người nghiên cứu cho rằng khi tổ chức bất cứ một hoạt động học tập nào cho người học, giáo viên cần quan tâm đến yếu tố đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi để thiết kế các hoạt động học tập sao cho hợp lý, thu hút sinh viên tham gia tích cực đồng thời tác động đến tình cảm, thái độ của sinh viên và đem đến cho họ niềm vui và thoải mái trong học tập. Phù hợp với thực tiễn của cơ sở đào tạo: gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập; thực trạng dạy học và năng lực tiếng Anh của sinh viên cũng như nhu cầu của họ về các hoạt động học tập cộng đồng; sự thống nhất cao giữa ban giám hiệu nhà trường và toàn thể giáo viên trong vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, vv Tất cả các yếu tố trên góp phần tạo nên tính hiệu quả của một số mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng được đề xuất tại trường CĐN LILAMA 2 trong việc phát triển năng lực ngoại ngữ cho sinh viên. 5.2. Thiết kế mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường Cao đẳng nghề LILAMA 2 5.2.1. Mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp Mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp giúp sinh viên làm quen với việc sử dụng tiếng Anh vì mục đích giao tiếp và rèn luyện kỹ năng nghe-nói, hỗ trợ sinh viên trong việc hoàn thành chuẩn đẩu ra B1 của Nhà trường, giúp sinh viên tự tin hơn khi giao tiếp bằng tiếng Anh, hình thành được kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng tranh biện. Nội dung sinh hoạt của mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp là các chủ đề bài học mà sinh viên đã được học trên lớp, các bài thực hành nói của một kỳ thi quốc tế cụ thể (KET hoặc PET), tuỳ thuộc vào chủ đề, ban chủ nhiệm câu lạc bộ có thể thiết kế các hoạt động học tập khác nhau cho sinh viên tham gia câu lạc bộ. Cách thức tổ chức mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp gồm ba bước: Bước 1: Thành lập nhóm và làm quen. Bước 2: Tham gia hoạt động chính. (Chơi tr chơi, thảo luận nhóm, thuyết trình, phỏng vấn, đóng vai, luyện tập phần thi Nói của các kì thi quốc tế vv ) Bước 3: Nhận xét, đánh giá 5.2.2. Mô hình cộng đồng học tập tiếng Anh trực tuyến qua mạng xã hội facebook Việc xây dựng mô hình cộng đồng học tập tiếng Anh trực tuyến qua mạng xã hội facebook nhằm mục đích tạo thêm môi trường luyện tập tiếng Anh ngoài giờ lên lớp cho sinh viên. Đây là một môi trường mở giúp kết nối giáo viên và người học để từ đó có sự trao đổi dễ dàng hơn về các chủ đề liên quan tới việc học tiếng Anh nói chung, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho việc dạy và học tiếng Anh. Ngoài ra, thông qua trang web học tập này, nguời học có thể chia sẻ cho nhau ý tưởng, kinh nghiệm hay khó khăn trong việc học tiếng Anh, giúp đỡ cùng nhau tiến bộ.
- Để tạo hứng thú cho sinh viên theo dõi nội dung trên trang acebook của cộng đồng, rất cần phải có những nội dung mang tính thu hút, tạo được sự t m và không kém tính giải trí. Do đó, trang acebook học tiếng Anh trực tuyến sẽ cập nhật những nội dung lớn sau đây: Thông tin/Học tập; Những bài Quiz ngắn; Các cuộc thi online. Hình thức tổ chức xây dựng trang facebook học tiếng Anh cho sinh viên gồm ba bước: Bước 1: Thiết lập trang facebook học tiếng Anh Bước 2: Thiết kế giao diện Bước 3: Đăng bài, quản lý hoạt động của trang facebook 5.2.3. Mô hình tổ chức cuộc thi văn nghệ tiếng Anh Mô hình tổ chức các cuộc thi văn nghệ tiếng Anh có thể được xem là một trong các hoạt động ngoại khoá bổ ích, tạo ra sân chơi lành mạnh cho sinh viên sau những giờ học căng thẳng. Tham gia cuộc thi, SV kết hợp giữa giải trí, thoả mãn niềm đam mê và năng khiếu âm nhạc với học tập thông qua các bài hát tiếng Anh, đồng thời nâng cao kỹ năng nghe nói, sử dụng tiếng Anh trong ngữ cảnh cuộc sống. Các thí sinh tự do chọn lựa các hình thức văn nghệ tiếng Anh như hát, nhạc kịch Đặc biệt, sau mỗi phần trình diễn, thí sinh phải phát biểu được lý do, cảm nghĩ về bài hát vừa thể hiện bằng tiếng Anh. Việc tổ chức cuộc thi hát tiếng Anh đ i hỏi phải có sự đầu tư, chuẩn bị nhiều về thời gian cũng như phải có kinh phí hoạt động nên không thể tổ chức thường xuyên, thường để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm như Ngày Nhà giáo Việt Nam, Ngày thành lập đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Lễ quốc khánh 5.3. Thực nghiệm sư phạm Trong tổng số 55 sinh viên khóa K01 hệ Kỹ sư thực hành tham gia vào khảo sát thực trạng, đề tài chọn ngẫu nhiên 30 sinh viên của lớp Chế tạo thiết bị cơ khí và lớp Hàn để tham gia thực nghiệm. Trong khoảng thời gian 2 tháng, 30 sinh viên này đã tham gia vào các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng kể trên. Sau quá trình tham gia thực nghiệm, người nghiên cứu đã tiến hành phát phiếu khảo sát ý kiến và phỏng vấn SV nhằm mục đích thu tập kết quả thực nghiệm để phân tích và đánh giá tính khả thi của một số mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng được tổ chức tại trường CĐN LILAMA 2. Riêng đối với mô hình tổ chức cuộc thi hát tiếng Anh, tất cả sinh viên hệ KSTH nói riêng cũng như sinh viên toàn trường nói chung đều được khuyến khích tham gia hoạt động ngoại khóa này. 5.4. Kết quả thực nghiệm Nhận thức và thái độ của sinh viên về môn học TAGT trước và sau thực nghiệm Kết quả khảo sát cho thấy, nếu trước thực nghiệm có 13.3% sinh viên cho rằng môn TAGT rất quan trọng và 36.7% cho rằng quan trọng thì sau thực nghiệm số sinh viên cho rằng môn TAGT rất quan trọng chiếm 30% và 63.3% ý kiến đánh giá môn học quan trọng. Bên cạnh đó, trước khi tham gia vào một số mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường có 30% sinh viên nhận thấy môn học ít quan trọng và 20% sinh viên cho rằng không quan trọng. Sau thực nghiệm, chỉ c n 6.7% sinh viên đánh giá môn TAGT ít quan trọng và không có sinh viên nào cho rằng môn học không quan trọng. Kết quả thống kê còn cho thấy, không chỉ nhận thức tốt hơn về vai trò của môn TAGT,sinh viên còn có những chuyển biến tích cực về thái độ yêu thích môn học. Cụ thể, không
- có sinh viên nào sau thực nghiệm không thích học môn TAGT và có 10% sinh viên có thái độ bình thường. Số đông sinh viên c n lại sau thực nghiệm đều cảm thấy thích (63.3%) và rất thích (26.7%) môn học này. Kết quả này khác hẳn với trước thực nghiệm khi có 36.7% sinh viên không thích học môn TAGT và 23.3% có thái độ bình thường. Qua đó, có thể nhận thấy, việc tham gia sinh hoạt CLB tiếng Anh, cuộc thi văn nghệ bằng tiếng Anh và theo dõi các thông tin học tập trên trang facebook Trung tâm ngoại ngữ LILAMA 2 đã kích thích niềm say mê học tập, giúp sinh viên có thái độ yêu thích môn TAGT hơn trước rất nhiều. Động cơ học tập môn tiếng Anh giao tiếp của sinh viên trước và sau thực nghiệm Kết quả khảo sát cho thấy, sau thực nghiệm nhiều sinh viên đã tìm được động cơ học tập đúng đắn, trong đó nhóm động cơ nhận thức- khoa học, động cơ nghề nghiệp tăng cao rõ rêt so với trước thực nghiệm. Cụ thể, có 86.7% sinh viên muốn học tiếng Anh để có thể giao tiếp với người nước ngoài và 80% học tiếng Anh vì muốn ra trường tìm được việc làm tốt. Bên cạnh đó, tỷ lệ sinh viên học tiếng Anh vì sở thích (83.3%), để đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của trường để đạt điểm cao khi thi cử (63.3%), muốn đọc hiểu được tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh (60%) cũng là những động cơ học môn TAGT của nhiều sinh viên hệ KSTH sau thực nghiệm. Ngoài ra, nếu trước thực nghiệm có tới 43.3% sinh viên học môn TAGT vì đây là môn học bắt buộc thì sau thực nghiệm, tỷ lệ sinh viên cảm thấy việc học này là bắt buộc đã giảm chỉ còn 26.7%. Thái độ của sinh viên khi giao tiếp bằng tiếng Anh trước và sau thực nghiệm Trước và sau thực nghiệm, các em đã có những thay đổi tích cực trong thái độ khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Cụ thể, nếu trước thực nghiệm chỉ có 6.7% sinh viên cảm thấy rất tự tin, 20% sinh viên cảm thấy tự tin và có đến hơn 73% SV chưa tự tin khi giao tiếp tiếng Anh thì sau thực nghiệm, tỷ lệ này đã chuyển biến đáng kể khi có 16.7% sinh viên cảm thấy rất tự tin và 43.3% đã tự tin để nói chuyện, trả lời, nghe nói bằng tiếng Anh. Số sinh viên sau thực nghiệm cảm thấy chưa tự tin khi nghe nói tiếng Anh giảm xuống còn 40%. Kết quả năng lực giao tiếp tiếng Anh của sinh viên trước và sau thực nghiệm Thứ 1: Mô hình câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp Tỉ lệ sinh viên sau khi tham gia sinh hoạt các chủ đề ở câu lạc bộ tiếng Anh giao tiếp hoàn thành được mục tiêu của bài học tăng cao rõ rệt so với trước thực nghiệm. Cụ thể ở chủ đề “Phim ảnh”, có 40% sinh viên trước thực nghiệm thuộc và phát âm chính xác từ vựng, sau thực nghiệm tỉ lệ này tăng lên hơn gấp đôi đến 83.3%. Về kỹ năng nghe ở chủ đề này, nếu trước thực nghiệm có 30% sinh viên nghe hiểu được nội dung chính của một bộ phim ngắn ở tốc độ nói chậm, rõ ràng thì sau thực nghiệm con số này tăng lên gần 67%. Còn về kỹ năng nói, trước thực nghiệm có 16.7% sinh viên hoàn thành được mục tiêu trình bày quan điểm, nhận định cá nhân về bộ phim trong khoảng 5 câu, biết sử dụng các tính từ mô tả bộ phim hợp lý, nói trôi chảy thì sau thực nghiệm có tới 53.3% người học làm được điều này. Sự thay đổi về tỉ lệ này chứng tỏ sinh viên đã có sự cố gắng và tiến bộ hơn ở hai kỹ năng nghe và nói sau thực nghiệm. Đối với chủ đề “Ở nhà hàng”, sau khi thực nghiệm sinh viên cũng có sự tiến bộ đáng kể về mức độ đạt được mục tiêu của bài học so với trước thực nghiệm. Ở mục tiêu gọi tên được ít nhất 5 món ăn, 5 loại đồ uống và 5 món tráng miệng trong thực đơn nhà hàng, nếu trước thực nghiệm có 50% sinh viên hoàn thành tốt thì sau thực nghiệm, tỷ lệ này tăng lên gần 97%. Điều
- này chứng tỏ gần như tất cả sinh viên sau thực nghiệm đều thuộc và đọc được chính xác tên các món ăn, đồ uống và món tráng miệng. Thứ 2: Mô hình học tiếng Anh qua trang facebook Trung tâm ngoại ngữ LILAMA 2 Đối với mô hình học tiếng Anh trên trang facebook Trung tâm ngoại ngữ LILAMA 2, sau thực nghiệm, có nhiều sinh viên đã đạt được sự tiến bộ về kỹ năng giao tiếp tiếng Anh so với trước thực nghiệm. Cụ thể, ở chủ đề “Đồ ăn, thức uống”, trước thực nghiệm có 16 sinh viên có thể phát âm chính xác tên 10 món ăn, thức uống bằng tiếng Anh thì sau thực nghiệm tất cả 30 sinh viên có thể thực hiện được yêu cầu này. Về kỹ năng nghe nói tiếng Anh, khi giáo viên yêu cầu sinh viên nói về thói quen ăn uống hằng ngày của bản thân, tối thiểu 5 câu và sau đó trả lời hai câu hỏi của giáo viên về chủ đề này có 33.3% sinh viên trước thực nghiệm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí chấm điểm. Sau thực nghiệm, tỷ lệ sinh viên hoàn thành được yêu cầu nói chính xác, trôi chảy và nghe hiểu để trả lời lưu loát câu hỏi của giáo viên đã tăng lên này 56.7%. Thứ 3: Mô hình cuộc thi văn nghệ tiếng Anh Kết quả khảo sát ở bảng 3.5 cho thấy, sau khi tham gia mô hình cuộc thi văn nghệ tiếng Anh, nhiều sinh viên đã có sự tiến bộ về kỹ năng nghe nói tiếng Anh. Ở chủ đề “Âm nhạc”, nếu trước thực nghiệm có 36.7% sinh viên có thể phát âm chính xác 6 thể loại nhạc và 6 loại nhạc cụ bằng tiếng Anh thì sau thực nghiệm có 86.7% sinh viên thực hiện tốt yêu cầu này. Với yêu cầu phát biểu trôi chảy cảm nghĩ của bản thân về một bài hát hay một ca sĩ thần tượng; sử dụng động từ khuyết thiếu phù hợp và chính xác, trước thực nghiệm có 23.3% sinh viên nói được. Sau khi tham gia cuộc thi văn nghệ, 60% sinh viên hoàn thành tốt nhiệm vụ này. 6. KẾT LUẬN Trước và sau khi sinh viên tham gia vào một số mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng nêu trên, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và phỏng vấn sinh viên và giáo viên tiếng Anh về tính hiệu quả của mô hình. Kết quả thu được cho thấy sinh viên đã có những thay đổi tích cực về nhận thức, thái độ, có động cơ học tập đúng đắn và tự tin hơn khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Thêm vào đó, kỹ năng nghe-nói tiếng Anh của sinh viên sau thực nghiệm cũng có tiến bộ đáng kể. Điều này chứng tỏ tính khả thi của việc tiến hành tổ chức xây dựng các mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng tại trường CĐN LILAMA 2. 7. KIẾN NGHỊ Đề cao vai trò chủ động của thành viên tham gia cộng đồng, đẩy mạnh mô hình tự học trong sinh viên nhằm tạo sự chủ động và môi trường học tập tích cực trong sinh viên. Xây dựng bộ tiêu chí và công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của cộng đồng tiếng Anh, trong đó cần tập trung đến các tiêu chí về tính thực tiễn, tính tương tác, tính cộng đồng. Mô hình học tập tiếng Anh cộng đồng cần được song hành với chiến lược phát triển đào tạo và nghiên cứu của nhà trường để các mục tiêu hướng đến có sự tương tác, kết nối nhau theo chiến lược phát triển chung của nhà trường. Có chiến lược thu hút xã hội tham gia hỗ trợ, tài trợ, đẩy mạnh các hoạt động tiếng Anh cộng đồng lan tỏa đến các cơ sở giáo dục trong địa bàn cũng như các tổ chức học tập cộng đồng ở xã, phường, quận.
- Có sự chỉ đạo, quan tâm, đồng thuận của lãnh đạo trường, cấp kinh phí đối ứng thường niên của đơn vị để hỗ trợ và duy trì các hoạt động học tập tiếng Anh cộng đồng. Giáo viên tiếng Anh nói riêng và giáo viên dạy nghề nói chung không ngừng trau dồi, nâng cao năng lực tiếng Anh, tích cực sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy hàng ngày để tạo môi trường giao tiếp thật sự cho sinh viên. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Vũ Thị Tú Anh (2014), Cộng đồng học tập ngoại ngữ và vai trò của Ban quản lý đề án ngoại ngữ quốc gia 2020, ĐH Ngoại Ngữ - ĐHQGHN 2. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2014), Lý luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm. 3. Trường Đại học Đà Nẵng (2015), Kế hoạch triển khai thí điểm mô hình tiếng Anh cộng đồng tại trường Đại học Ngoại Ngữ- Đại học Đà Nẵng 4. Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (10/2015), Kế hoạch xây dựng Mô hình tiếng Anh cộng đồng tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM Thông tin liên hệ tác giả chính Họ tên: Trịnh Thị Hiền Đơn vị: Học viên cao học lớp GDH 2015B Điện thoại: 0968135326 Email: hientrinh.llm2@gmail.com Xác nhận của GVHD PGS.TS. DƯƠNG THỊ KIM OANH
- BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2017-2018 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.



