Vận dụng dạy học theo dự án cho môn Điện dân dụng khối 11 tại Trung tâm GDTX, DN và Hướng nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận

pdf 14 trang phuongnguyen 90
Bạn đang xem tài liệu "Vận dụng dạy học theo dự án cho môn Điện dân dụng khối 11 tại Trung tâm GDTX, DN và Hướng nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfvan_dung_day_hoc_theo_du_an_cho_mon_dien_dan_dung_khoi_11_ta.pdf

Nội dung text: Vận dụng dạy học theo dự án cho môn Điện dân dụng khối 11 tại Trung tâm GDTX, DN và Hướng nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận

  1. VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN ĐIỆN DÂN DỤNG KHỐI 11 TẠI TRUNG TÂM GDTX, DN VÀ HƢỚNG NGHIỆP NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN PROJECT - BASED LEARNING IN ELEVENTH GRADE ELECTRICAL AT CONTINUING EDUCATION AND VOCATIONAL CENTER OF NINH SƠN DISTRICT NINH THUẬN PROVINCE TRƢỢNG THANH HÓA Viện Sƣ Phạm Kỹ Thuật TP. HCM TÓM TẮT Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế thị trường, nhu cầu lao động và dẫn đến sự thay đổi trong hệ thống giáo dục. Chính vì vậy, giáo dục tại Việt Nam và thế giới đang hướng vào phát triển năng lực của người học. Dạy học theo dự án là một trong những phương pháp dạy học góp phần phát triển năng lực học sinh. Vì trong quá trình thực hiện dự án, người học phải liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn, tư duy và hành động. Thông qua đó, năng lực được cải thiện. Chính vì vậy, để góp phần phát triển năng lực cho học sinh người nghiên cứu chọn đề tài : “Vận dụng Dạy học theo dự án cho môn Điện dân dụng khối 11 tại trung tâm GDTX, DN và Hướng nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận”. ABSTRACT In today society, science and technology developed fast to change the structure of the market economy, labor demand and education system. Therefore, countries in the world and Vietnam are moving education towards learners' competence development to help the students develop some important skills. 1
  2. To develop students’ ability, researcher has chosen the theme "Project - based Learning in eleventh grade Electrical at continuing education and vocational center of Ninh Sơn district Ninh Thuận Province" Key words: Dạy học theo dự án, project based learning I. ĐẶT VẤN ĐỀ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của ngƣời học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngƣời học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực ” Để thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước, một trong những cách tốt nhất giúp phát triển năng lực học sinh là đổi mới phương pháp giảng dạy. Chính vì vậy Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Việt Nam là một đất nước có nguồn lao động dồi dào. Tuy nhiên, nguồn lao động nước ta thiếu những kĩ năng quan trọng như: kỹ năng tích lũy kiến thức, liên hệ thông tin; ứng dụng kiến thức vào thực tiễn; kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm; khả năng thích nghi và hiểu rõ trách nhiệm của bản thân. Vì vậy, xã hội đặt ra những yêu cầu mới đối với nền giáo dục là đào tạo năng lực cho người học. Dạy học theo dự án (DHTDA) là một phương pháp dạy học phát huy năng lực người học đáp ứng được những yêu cầu trên. Trong quá trình thực hiện dự án học tập, học sinh có điều kiện phát triển một số kỹ năng như: thu thập và xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, thuyết trình, giao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm. Vì vậy, DHTDA đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. Hoạt động giáo dục nghề phổ thông được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào giảng dạy cho học sinh khối 8 và khối 11 nhằm định hướng cho học sinh trong việc 2
  3. lựa chọn nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông. Nhưng học sinh chưa thật sự hứng thú trong việc học nghề phổ thông. Một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa có hứng thú trong việc học nghề phổ thông là do giáo viên chưa vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù của môn nghề. Đa số GV vẫn còn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống nên không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, dẫn đến học sinh không có hứng thú trong việc học. Tóm lại, việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu mang tính cấp thiết. Để nâng cao chất lượng dạy học cho môn điện dân dụng khối 11 tại trung tâm GDTX, DN và HN Ninh Sơn người nghiên cứu đã chọn đề tài: “Vận dụng dạy học theo dự án cho môn điện dân dụng khối 11 tại trung tâm GDTX, DN và HN Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận”. II. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1. Khái niệm dạy học theo dự án Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng latinh (proiectum) được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong nghiên cứu khoa học [1]. Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt [1] Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, dự án là “một dự thảo, một văn kiện quan trọng về luật pháp hay kế hoạch” [2]. Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một hình thức hay phương pháp dạy học. Theo tác giả Nguyễn Văn Cường: “Trong DHTDA, người học tự lực thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý 3
  4. thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHTDA”[1]. Trong đề tài này, dạy học theo dự án được xem như một hình thức dạy học, vì khi thực hiện một dự án, có nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng. Người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm nhất định. Với hình thức này, người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục tiêu, lập kế hoạch, đến việc thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án. Giáo viên biến nội dung trong chương trình môn học thành các dự án và tổ chức thực hiện dự án qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ cho người học. 2. Đặc điểm dạy học theo dự án Theo tác giả Nguyễn Văn Cường, DHTDA có những đặc điểm chính sau: - Định hƣớng thực tiễn: Nhiệm vụ của dự án chứa đựng những vấn đề cần phải giải quyết. Vấn đề giải quyết này có thể xuất phát từ thực tiễn ở địa phương. Mặc khác, nhiệm vụ dự án phải phù hợp với khả năng và trình độ của người học. - Định hƣớng hứng thú ngƣời học: Nội dung học tập gắn với sở thích và nhu cầu của học sinh. Trong quá trình xây dựng các dự án học tập, nhiều khi ý tưởng của dự án được đề xuất từ phía người học. Trong trường hợp này, người học thường có nhu cầu bức thiết tham gia dự án. Do đó, dạy học dự án có vai trò quan trọng trong việc tạo hứng thú và giảm áp lực học tập cho người học. Người học được tham gia chọn đề tài, nghiên cứu một cách tương đối độc lập, nhiệm vụ học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của mỗi cá nhân. Hứng thú của người học còn được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. Đặc biệt là, người học được nghiên cứu ở môi trường thiên nhiên, được sử dụng công nghệ, phương tiện hiện đại, được bổ sung kiến thức, được phát triển về kỹ năng học tập, kỹ năng giải quyết vấn đề, cũng như các kỹ năng sống khác. - Định hƣớng hành động: 4
  5. Khác hình thức tổ chức dạy học khác, trong DHTDA nhất thiết phải có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn. - Định hƣớng sản phẩm: DHTDA phải tạo ra sản phẩm. Sản phẩm của dự án cũng rất đa dạng. Sản phẩm có thể là bản báo cáo kết quả nghiên cứu, mô hình, bản vẽ hoặc sản phẩm vật chất cụ thể. - Đòi hỏi tính tự lực cao của ngƣời học: Trong DHTDA, người dạy là người tổ chức, điều khiển người học tiến hành dự án, người học trực tiếp tham gia dự án. Hiệu quả của dạy học dự án càng cao, khi người dạy càng khuyến khích được tính trách nhiệm và sự sáng tạo của người học ở mọi khâu của DHTDA. - Tính phức hợp: Khi giải quyết một vấn đề trong nội dung của dự án phải kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực, nhiều môn học khác nhau. Vì vậy, DHTDA mang tính phức hợp. Nhiệm vụ học tập của dự án thường được tiến hành theo nhóm. Vì vậy, DHTDA còn mang tính xã hội, đòi hỏi sự cộng tác làm việc. Một dự án có thể được chia ra làm nhiều công đoạn, mỗi công đoạn do một nhóm thực hiện. DHTDA kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học, học sinh chủ động tiếp nhận kiến thức nên kiến thức được lưu giữ lâu hơn. Tuy nhiên, DHTDA thường cần nhiều thời gian, vật chất và kể cả tài chính và không phải nội dung kiến thức nào cũng có thể được tổ chức DHTDA. III. VẬN DỤNG DHTDA VÀO DẠY HỌC MÔN ĐIỆN DÂN DỤNG KHỐI 11 TẠI TRUNG TÂM GDTX, DN VÀ HN NINH SƠN TỈNH NINH THUẬN Dựa vào cấu trúc, nội dung chương trình môn điện dân dụng 11, người nghiên cứu cấu trúc nội dung môn học thành 6 dự án học tập và đã tiến hành thực nghiệm được 2 dự án sau: - Tính toán, thiết kế máy biến áp và quấn máy biến áp một pha công suất nhỏ - Tính toán, thiết kế mạng điện cho một phòng ở 5
  6. 1. Vận dụng DHTDA vào dạy học môn điện dân dụng khối 11 tại trung tâm GDTX, DN VÀ HN Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận Người nghiên cứu đã lựa chọn tiến trình dạy học theo dự án 5 bước để tổ chức dạy học theo dự án cho môn điện dân dụng 11. Các bƣớc khi thực hiện dự án Bƣớc 1: Phát hiện vấn đề trong thực tiễn, chọn đề tài và xác định mục tiêu của dự án Vai trò của giáo viên - Giới thiệu chủ đề và ý tưởng thực hiện dự án, trình bày mục tiêu dự án, giới thiệu những bài học có nội dung liên quan được lựa chọn để thực hiện dự án. - GV và HS cùng tham gia đề xuất, lựa chọn chủ đề dự án - GV trình bày những yêu cầu về sản phẩm của dự án, thời gian hoàn thành và công khai tiêu chí đánh giá. GV giới thiệu thêm một số tài liệu tham khảo về dự án. Vai trò của học sinh - HS lắng nghe, ghi chép khi GV trình bày ý tưởng thực hiện dự án, mục tiêu dự án và những nội dung liên quan. Sau đó, HS sẽ cùng GV tham gia đề xuất, lựa chọn chủ đề dự án. - HS ghi chép những yêu cầu của sản phẩm, cách đánh giá, tài liệu tham khảo. Bƣớc 2: Lập kế hoạch thực hiện dự án GV và HS cùng nhau lập kế hoạch thực hiện dự án cụ thể: thời gian, nội dung công việc Bƣớc 3: Thực hiện kế hoạch Vai trò của giáo viên - Giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành phân chia nhóm. Mỗi nhóm phải đảm bảo những yêu cầu sau: + HS giỏi, khá, trung bình và yếu chia đều trong nhóm + Các bạn trong nhóm có điều kiện liên lạc thuận tiện. Các thành viên trong nhóm không có sự bất đồng. + Thành viên trong nhóm phải có bạn biết về CNTT 6
  7. - GV hướng dẫn hoạt động của HS: + Hướng dẫn HS xác định mục tiêu cụ thể trong dự án. + Hướng dẫn phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm bằng cách cung cấp bảng phân công nhiệm vụ. - GV kiểm tra ý tưởng và tính khả thi trong kế hoạch thực hiện dự án của HS. - GV trao đổi với từng nhóm về những khó khăn HS gặp phải trong việc xây dựng dự án để kịp thời hỗ trợ. - GV giám sát quá trình thực hiện dự án của HS, tạo mọi điều kiện giúp đỡ HS thực hiện. GV kiểm tra sản phẩm trước khi HS tiến hành báo cáo. Vai trò của học sinh - Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phân chia nhóm. - HS xác định mục tiêu cụ thể trong dự án và tiến hành thảo luận xây dựng ý tưởng thực hiện. - HS tiến hành thực hiện nhiệm vụ theo bảng phân công. - HS tiến hành công việc theo kế hoạch đã đề ra. HS tiến hành thực hiện kế hoạch theo sự phân công công việc ban đầu để tạo sản phẩm. Bƣớc 4: Tổng hợp kết quả và báo cáo Vai trò của giáo viên - GV chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ cho HS: máy tính, máy chiếu, - GV theo dõi quá trình báo cáo, thảo luận của nhóm và đặt câu hỏi kiểm tra nhóm. Vai trò của học sinh - Mỗi nhóm chuẩn bị kết quả thu thập được, thực hiện báo cáo và giới thiệu sản phẩn trước lớp. Phần trình bày của nhóm khoảng 10 phút. - HS lắng nghe các nhóm báo cáo, chuẩn bị câu hỏi thảo luận và tiến hành góp ý, chia sẻ kinh nghiệm khi thực hiện dự án. Bƣớc 5: Đánh giá dự án Gồm 3 công đoạn đánh giá: Nhóm trình bày sẽ nhận được sự đánh giá từ các nhóm khác, nhóm tự đánh giá, GV đánh giá theo tiêu chí đã đề ra: quá trình làm 7
  8. việc của nhóm về cách tổ chức làm việc nhóm, nội dung nhóm thực hiện, trình bày báo cáo, mô hình sản phẩm. 2. Kết quả thực nghiệm 2.1 Kết quả thực nghiệm về mặt định tính Kết quả ý kiến học sinh lớp TN về tác động của DHTDA được thể hiện ở bảng 2.1 Bảng 2.1 Kết quả ý kiến HS về cách thức dạy học mà GV đã sử dụng Rất đồng Đồng ý Ít đồng ý Không Nội dung ý đồng ý 1. Gây hứng thú học tập cho HS 3 18 2 1 13% 75% 8% 4% 2. Phát huy được khả năng tư duy, 4 16 2 2 tích cực, độc lập và sáng tạo trong 17% 67% 8% 8% học tập ở HS 3. Giúp HS lĩnh hội kiến thức bài 3 19 1 1 học một cách phong phú 13% 79% 4% 4% 4. HS có điều kiện giúp đỡ nhau 8 14 2 0 trong học tập 33% 58% 8% 0% 5. Tăng khả năng báo cáo, giao 5 15 1 3 tiếp, hợp tác làm việc 21% 63% 4% 13% 6. Giúp HS làm quen với việc lập 4 18 0 2 và thực hiện công việc theo kế 17% 75% 0% 8% hoạch 7. Giúp HS tự tin hơn khi tham gia 10 14 0 0 giải quyết các tình huống có vấn đề 42% 58% 0% % 8. Quan hệ giữa GV – HS, HS – HS 6 12 4 2 cởi mở, tin cậy 25% 50% 17% 8% 8
  9. 9. Tốn nhiều thời gian 16 4 2 2 67% 17% 8% 8% 10. Đòi hỏi nhiều phương tiện, điều 5 15 3 1 kiện dạy học 21% 63% 13% 4% 11. Kiến thức bài học chỉ bó hẹp 0 3 1 20 trong phạm vi sách giáo khoa 0% 13% 4% 83% 12. Kiến thức lĩnh hội thiếu tính hệ 8 12 2 2 thống 33% 50% 8% 8% Qua bảng 2.1 ta nhận thấy sau khi GV sử dụng cách dạy học mới thì HS lớp TN tỏ ra hứng thú trong học tập, tính tích cực và sáng tạo của học sinh cũng tăng lên, kiến thức học sinh lĩnh hội được cũng phong phú hơn. Học sinh tự tin hơn khi giải quyết các tình huống có vấn đề, làm quen với việc lập và thực hiện công việc theo kế hoạch. Khoảng cách giữa GV và HS ngày càng thu hẹp. Bảng 2.2 Kết quả ý kiến HS về mức độ hứng thú khi học theo PPDH GV sử dụng Lớp TN Lớp ĐC Mức độ hứng thú Số HS Tỉ lệ % Số HS Tỉ lệ % Rất hứng thú 4 17 0 0 Hứng thú 16 67 3 13 Ít hứng thú 2 8 19 79 Không hứng thú 2 8 2 8 Qua bảng 2.2 ta thấy có 17% HS lớp TN rất hứng thú và 67% HS hứng thú với PPDH của GV. Trong khi đó có đến 79% HS lớp ĐC ít hứng thú và 8% không hứng thú với PPDH của GV. Điều này cho thấy rằng, khi GV vận dụng DHTDA 9
  10. cho môn Điện dân dụng 11 thì HS sẽ hứng thú học tập hơn khi GV chỉ sử dụng các PPDH truyền thống. Bảng 2.3 Kết quả ý kiến về kĩ năng HS đạt được khi học theo PPDH GV sử dụng Lớp TN Lớp ĐC Kĩ năng Có Không Có Không 1. Lập kế hoạch tự học của cá nhân, của nhóm 18 6 5 19 75% 25% 21% 79% 2. Thu thập thông tin từ nhiều nguồn phục vụ 20 4 8 16 nhiệm vụ tự học 83% 17% 33% 67% 3. Phân tích, lựa chọn, sắp xếp thông tin phù 17 7 0 0 hợp với yêu cầu của nhiệm vụ học tập do GV đề xuất 71% 29% 0% 0% 4. Phát hiện vấn đề và đặt đúng câu hỏi ở chỗ 18 6 7 17 có vấn đề 75% 25% 29% 71% 5.Viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu 19 5 3 21 79% 21% 13% 88% 6. Xác định các ý chính trong khi làm việc 16 8 8 16 nhóm 67% 33% 33% 67% 7. Phối hợp, giúp đỡ bạn trong nhóm học tập 18 6 8 16 75% 25% 33% 67% Kết quả từ bảng 2.3 cho ta thấy các kĩ năng mà HS lớp TN có được như: lập kế hoạch; thu thập thông tin phục vụ cho học tập; phân tích, lựa chọn, sắp xếp thông tin; phát hiện vấn đề; viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu đều chiếm tỉ lệ cao hơn rất nhiều so với lớp ĐC. Như vây, để giúp HS lớp ĐC có các kĩ năng trên thì GV cũng nên vận dụng DHTDA. 2.2 Kết quả thực nghiệm về mặt định lƣợng Từ điểm số của lớp TN và lớp ĐC ta tính được giá trị trung bình và độ lệch tiêu chuẩn của lớp TN (24HS) và lớp ĐC (24HS) như trong bảng 2.1 10
  11. Bảng 2.4 Giá trị trung bình và độ lệch tiêu chuẩn qua hai lần TN LẦN 1 LẦN 2 Mean SD (Standard - Mean SD (Standard - Deviation) Deviation) LỚP TN 7.0 0.83 8.3 0.62 LỚP ĐC 6.1 0.90 6.3 0.56 Từ bảng 2.4, ta có thể so sánh kết quả học tập của hai lớp TN và ĐC như sau: Lớp thực nghiệm: - Điểm trung bình bài kiểm tra lần hai cao hơn lần 1, chứng tỏ học sinh lớp TN có tiến bộ trong học tập. - Độ lệch tiêu chuẩn lần 2 thấp hơn lần 1, chứng tỏ trình độ học sinh phân tán ít, học sinh học đồng đều hơn lần 1. Lớp đối chứng: - Điểm trung bình bài kiểm tra 2 lần đều tương tương nhau, chứng tỏ học sinh lớp ĐC chưa có tiến bộ trong học tập. Từ kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, ta nhận thấy rằng điểm trung bình hai bài kiểm tra của lớp TN đều cao hơn lớp ĐC. Chứng tỏ HS lớp TN có sự tiến bộ trong học tập nhiều hơn so với lớp ĐC. Gọi: 1 là điểm trung bình dân số HS lớp TN được GV dạy theo PPDHDA. 2 là điểm trung bình dân số HS lớp ĐC được GV dạy theo PPDH truyền thống. 1. Trị số dân số: 1 , 2 2. Lập giả thuyết: H0: 1 - 2 = 0: là không có sự khác biệt về điểm kiểm tra giữa HS lớp TN và lớp ĐC. 11
  12. H1: 1 - 2 0: là có sự khác biệt về điểm kiểm tra giữa HS lớp TN và lớp ĐC. 3. Mức ý nghĩa: =0.01 4. Trị số mẫu: ̅ ̅ 5. Phân bố mẫu là phân bố bình thường 6. Biến số kiểm nghiệm Z 7. Vùng bác bỏ: - Với = 0.01, tra bảng Z ta được Zα = 2.58 - Nếu Z 2.58, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1 - Nếu 2.58 Z 2.58 , ta chấp nhận H0 8. Áp dụng dữ kiện: Ta có: + Lần TN 1: Z = 3.61 + Lần TN 2: Z = 11.73 Như vậy, cả hai lần TN thì Z > Zα , ta bác bỏ H0 chấp nhận H1, nghĩa là có sự khác biệt về điểm số kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC IV. KẾT LUẬN Kết quả kiểm nghiệm thống kê cho người nghiên cứu kết luận: PPDH mới được GV sử dụng ở lớp TN hiệu quả hơn PPDH truyền thống dạy ở lớp ĐC, nghĩa là khi vận dụng DHTDA vào giảng dạy môn Điện dân dụng 11 thì chất lượng dạy và học được nâng cao hơn. Qua kết quả thực nghiệm có thể khẳng định chất lượng dạy và học tăng lên đặc biệt là chất lượng học tập, thái độ học tập, những kỹ năng HS đạt được, tính tích cực chủ động, phát triển tư duy của HS lớp thực nghiệm tốt hơn lớp đối chứng dưới sự tác động của dạy học theo dự án. Đây chính là kết quả bước đầu mà người nghiên cứu thực hiện được, cho thấy việc vận dụng DHTDA đã mang lại hiệu quả tốt cho việc dạy và học. Vì vậy, DHTDA cần được nhân rộng ra cho các môn học khác. 12
  13. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm 2. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Bộ giáo dục và đào tạo, trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội. Thông tin liên hệ : Họ tên tác giả: Trượng Thanh Hóa Địa chỉ liên hệ: Hậu Sanh – Phước Hữu Ninh Phước – Ninh Thuận Điện thoại: 0933868033 Email: truonghoa.ktthhnns@ninhthuan.edu.vn XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN 13
  14. BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2017-2018 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.