Thực trạng hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học Phổ thông Phước Long, quận 9, TP. HCM
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học Phổ thông Phước Long, quận 9, TP. HCM", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
thuc_trang_huong_nghiep_cho_hoc_sinh_truong_trung_hoc_pho_th.pdf
Nội dung text: Thực trạng hướng nghiệp cho học sinh trường Trung học Phổ thông Phước Long, quận 9, TP. HCM
- THỰC TRẠNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHƯỚC LONG, QUẬN 9, TPHCM. Bùi Thị Mai Tóm tắt Bài báo được đề cập đến thực trạng hoạt động hướng nghiệp cho học sinh của trường THPT Phước Long, Quận 9, TPHCM và một số giải pháp mà người nghiên cứu đưa ra nhằm nâng cao chất lượng công tác của trường. Kết quả nghiên cứu được thực hiện dựa trên phiếu lấy ý kiến của 142 học sinh của 4 lớp khối 10 và khối 12, 40 giáo viên, 35 Cán bộ quản lý làm công tác hướng nghiệp trong năm học 2013- 2014. “Công tác hướng nghiệp là một bộ phận quan trọng của giáo dục phổ thông” đã được Bộ Giáo Dục & Đào Tạo xác định, công tác này cũng được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong quyết định 126/CP của Hội đồng Chính phủ. Bên cạnh đó cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông, có những giải pháp triển khai nhằm nâng cao chất lượng công tác hướng nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn mang tính cấp thời chưa đạt hiệu quả. Người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra và phỏng vấn sau đó phân tích số liệu để tìm hiểu về thực trạng hoạt động hướng nghiệp của trường THPT Phước Long, Quận 9, TPHCM. Vocation education is very important in the process of education. This vocation education was defined in 126/ CP by Ministry Education and Training, Government. And having piece of reseach about this, however,vocation education have not adapted demand on society and development of economy. Thus, the researcher use to investigation method, interview,analysis method and to study about vocation education of Phuoc Long high school in district 9, HCM city. Thực trạng nhận thức về vai trò hoạt động giáo dục hướng nghiệp của giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh . Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan trọng 80% 60% 40% 67% 59% 50% 20% 33% 41% 0% 0% 0% 0% 15%29% 7% 0% Giáo Viên Cán bộ quản lý Học sinh Biểu đồ 1:Nhận thức của GV, CBQL và học sinh về hoạt động hướng nghiệp 1
- Giáo viên : Có 67% giáo viên cho rằng hoạt động giáo dục hướng nghiệp “ Rất quan trọng” cho học sinh, 33% giáo viên cho rằng hoạt động giáo dục hướng nghiệp có vai trò “quan trọng” . Cán bộ quả lý: Có 59% cán bộ quản lý cho rằng hoạt động giáo dục HN thì có vai trò “rất quan trọng” và 41 % thì cho rằng hoạt động giáo dục HN có vai trò quan trọng. Không có giáo viên cũng như cán bộ quản lý nào cho rằng hoạt động giáo dục hướng nghiệp hiện nay là bình thường và không có tầm quan trọng đối với học sinh. Như vậy, có thể thấy rằng tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp được giáo viên và cán bộ quản lý nhận thức một cách đúng đắn và đó cũng dấu hiệu thuận lợi để công tác hướng nghiệp của trường có những giải pháp mới cho học sinh. Trong khi đó chỉ có 15% học sinh cho rằng hoạt động giáo dục hướng nghiệp là rất quan trọng, 29% cho rằng “ Quan trọng”, có đến 50% học sinh nhận xét hoạt động GDHN là bình thường và 7% cho rằng không quan trọng. Và để tìm hiểu kỹ hơn về việc nhận thức của học sinh về hoạt động HN, phỏng vấn học sinh được biết rằng : “hoạt động HN là hoạt quan trọng nhưng các em chỉ có thể lựa chọn nghề nghiệp qua các phương tiện thông tin, bạn bè, cha mẹ khi chuẩn bị nộp hồ sơ thi ĐH, các em tham gia nhưng không dựa vào hoạt động đó”. 1. Thực trạng nhận thức của học sinh về hoạt động giáo dục hướng nghiệp. 1.1 Thực trạng nhận thức mức độ ảnh hưởng công tác hướng nghiệp của trường với học sinh. 10% 3% 50% 37% Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết Biểu đồ 1.1: Mức độ ảnh hưởng của công tác HN với học sinh Để tìm hiểu về mức độ ảnh hưởng của công tác hướng nghiệp đối với học sinh thì người nghiên cứu đặt câu hỏi : “Bạn nhận thấy hoạt động hướng nghiệp có cần thiết hay không?” và kết quả là có 50% học sinh nhận thức rằng hoạt động hướng nghiệp là “ Rất cần thiết”, 37% học sinh nhận thấy rằng hoạt động HN là “ Cần thiết”, 10% học sinh nhận thức rằng hoạt động HN là “ Bình thường” và 3 % là “Không cần thiết”. Qua câu hỏi này, người nghiên cứu nhận thấy rằng học sinh cũng nhận thức được mức độ cần thiết của hoạt động HN đối với bản thân, các em rất khao khát tìm được sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai một cách đúng đắn, không bị sai lệch, không chọn sai nghề. 1.2. Đánh giá của học sinh về các hình thức hướng nghiệp của nhà trường. 2
- 28% 20% 22% 30% Hướng nghiệp qua môn văn hóa Sinh hoạt buổi tư vấn hướng nghiệp dưới cờ vào sáng thứ 2 Tham quan công ty, làng nghề, khu công nghiệp, khu chế xuất Tham quan tìm hiểu các trường ĐH, CĐ, TCCN, Biểu đồ 1.2: Các hình thức hướng nghiệp giúp học sinh chọn nghề Hình thức hướng nghiệp mà các em học sinh có thể tiếp cận nhiều nhất để lựa chọn ngành nghề, trong đó có 30% học sinh dựa vào hình thức tư vấn hướng nghiệp dưới cờ, 22% học sinh lựa chọn nghề dựa vào hình thức tham quan công ty, làng nghề , 28 % học sinh lựa chọn hướng ngành nghề do các trường ĐH, Cao Đẳng hướng nghiệp. Để tìm hiểu thực tế vấn đề này, người nghiên cứu đã phỏng vấn học sinh: Các em khối lớp 10 thì thích nghe giới thiệu về các ngành nghề trong xã hội, yêu cầu, đặc điểm của nghề. Những em khối lớp 12 thì thích đi tham quan trực tiếp công ty, Khu công nghiệp, Các trường Đại học: yêu cầu tuyển sinh, ngành đào tạo, điểm sàn, Nhìn chung các em không quan tâm sâu sắc đến sở thích, yêu cầu, đặc điểm của từng ngành nghề có phù hợp với bản thân hay không vì các em chưa xác định được. Các em chỉ quan tâm các trường ĐH, CĐ đào tạo ngành nào, việc làm sau khi tốt nghiệp, thu nhập. 1.3. Đánh giá của học sinh về hình thức lồng ghép hướng nghiệp vào môn học. 13% 27% 16% 44% Rất thuận lợi Thuận lợi Bình thường Không thuận lợi Biểu đồ 1.3: Biểu đồ nhận thức của học sinh về việc lồng ghép qua môn học Về việc lồng ghép HN vào môn học cho các em HS thì có 44% số học sinh khảo sát nhận thức rằng“ Rất thuận lợi” cho việc lồng ghép, 27% HS trả lời “ Thuận lợi”, và 16% nhận thức rằng việc lồng ghép vào môn học cho các em là “ Bình thường”, 13 % cho rằng “ Không thuận lợi”, vấn đề này rất thuận lợi cho công tác HN của trường khi áp dụng theo hình thức này. Và vấn đề này được người nghiên cứu phỏng vấn HS: “Các em thỉnh thoảng được Thầy/ Cô hướng nghiệp qua một số bài học và các em rất thích nghe tìm hiểu thông qua hình thức này, học sinh dễ hiểu ngành nghề liên quan đến bài học và qua đó giúp các em dễ nhớ bài hơn”. Nhận thức của học sinh về mức độ lồng ghép hướng nghiệp của giá viên trong chương trình học. 3
- 15% 9% 24% 52% Thường xuyên Đôi khi Hiếm khi Không bao giờ Biểu đồ 1.4: Mức độ nhận thức của HS về việc GV lồng ghép HN trong giờ học Có 52% học sinh trả lời “ Đôi khi” thì Thầy/ Cô mới áp dụng hình thức này cho các em HS, 24 % học sinh trả lời “ Hiếm khi” trong năm học Thầy/ Cô lồng ghép cho các em. Chỉ có 9% HS cho rằng Thầy/ Cô thường xuyên áp dụng hình thức này cho các em trong tiết học. Điều này cho thấy rằng các em học sinh có nhu cầu được tìm hiểu kiến thức hướng nghiệp qua môn học nhưng trên thực tế giáo viên khó thực hiện vì còn hạn chế về điều kiện thời gian và chương trình học của học sinh. 2. Đánh giá của của Giáo viên về hoạt động giáo dục hướng nghiệp. 0% 0% 33% 67% Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan trọng Biểu đồ 2.1: Nhận thức của giáo viên vai trò của hoạt động giáo dục HN Có 67% GV cho rằng hoạt động GDHN là “ Rất quan trọng”, và 33% GV cho rằng “ Quan trọng”. Điều này cho thấy rằng đa số giáo viên của trường đều nhận thức rằng hoạt động GDHN không thể thiếu trong quá trình giáo dục cho HS, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, nhằm giúp cho học sinh có sự lựa chọn đúng đắn trong nghề nghiệp tương lai. Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ 26 30 22 23 25 21 17 17 1517 20 12 11 15 8 8 8 7 8 7 10 9 7 10 3 4 3 2 5 3 3 4 5 0 0 Lồng Sinh hoạt Sinh hoạt Tham Tọa đàm Tư vấn Sinh hoạt ghép vào dưới cờ giờ chủ quan ngoại các môn nhiệm khóa học Biểu đồ 2.2: Các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp 4
- Qua biểu đồ 2.2 cho thấy rằng nhà trường chỉ đạo thực hiện các hình thức hướng nghiệp cho học sinh với nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo cho các em sự đa dạng và phong phú trong việc lựa chọn ngành nghề tương lai.Trong đó các giờ sinh hoạt chủ nhiệm và sinh hoạt dưới cờ được đánh giá là thường xuyên hơn các hoạt động khác. Và để rõ hơn người nghiên cứu phỏng vấn để lấy ý kiến Ban giám hiệu như sau: “Trong chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT thì trong một năm học gồm có 9 tiết hướng nghiệp, và với thời lượng như thế ban giám hiệu nhà trường cũng như các Thầy/ Cô làm công tác hướng nghiệp cố gắng để tổ chức những hình thức khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào những giờ sinh hoạt hướng nghiệp toàn trường vào những buổi sinh hoạt dưới cờ và giờ sinh hoạt chủ nhiệm để có thể tư vấn hướng dẫn cho các em, còn các hình thức khác thì hạn chế hơn”. Thực trạng hoạt động tổ chức công tác hướng nghiệp cho học sinh của giáo viên. Để công tác hướng nghiệp phong phú và góp phần tạo hứng thú cho các em giáo viên đã lồng ghép HN vào một số môn học, đánh giá của giáo viên về việc lồng ghép như sau 13% 20% 22% 45% Rất phù hợp Phù hợp Bình thường Chưa phù hợp Biểu đồ 2.3: Biểu đồ mức độ lồng ghép hướng nghiệp vào môn học Có 45% giáo viên cho rằng việc lồng ghép HN vào môn học “ Phù hợp” cho học sinh, 20% giáo viên cho rằng “ Rất phù hợp” trong việc lồng ghép HN. 22 % GV nói rằng lồng ghép HN vào môn học cho các em là “ Bình thường” và 13 % GV có ý kiến việc lồng ghép HN là “ Chưa phù hợp”. Để tìm hiểu về vấn đề này người nghiên cứu có phỏng vân các Thầy Cô như sau: “HN là rất quan trọng đối với HS cấp III nhất là các em ở cuối cấp chuẩn bị cho lựa chọn cho mình một trường nghề phù hợp với năng lực của các em, nhưng việc lồng ghép vào môn học thì còn hoạn chế ở điều kiện thời gian không đủ, và nội dung chương trình quá nặng nên không thể lồng ghép cho các em. Nếu có điều kiện về thời gian và sắp xếp nội dung chương trình phù hợp thì công tác HN thông qua lồng ghép vào các môn học cho các em sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn”. Thực trạng về nội dung và hình thức hướng nghiệp tác động đến việc tìm hiểu ngành nghề của học sinh. 5
- 23% 37% 30% 10% Lồng ghép hướng nghiệp vào từng môn học Tham quan thực tế công ty, cơ sở sản xuất Sinh hoạt theo chủ đề hướng nghiệp Tư vấn hướng nghiệp Biểu đồ 2.4: Hình thức HN có mức độ ảnh hưởng đến việc tìm hiểu ngành nghề của HS. Nhận định về vấn đề hình thức hướng nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh có 37% GV nhận định rằng hình thức lồng ghép HN vào môn học giúp cho học sinh có điều kiện thuận lợi tìm hiểu cơ cấu ngành nghề, chỉ 10% GV cho rằng hình thức “Tham quan công ty cơ sở sản xuất” giúp các em tìm hiểu ngành nghề qua hình thức này, và 30% GV viên nhận định hình thức“ Sinh hoạt theo chủ đề HN” cũng sẽ tốt hơn cho công tác HN. 23% GV cho rằng hình thức“ Tư vấn HN” giúp các em tìm hiểu ngành nghề. Để làm rõ hơn vấn đề này người nghiên cứu có phỏng vấn các Thầy cô và được nhận định rằng : “ Trong tất cả các hình thức HN mà nhà trường áp dụng để HN cho học sinh đều góp phần giúp cho các em có thể định hướng, tìm hiểu ngành nghề trong tương lai nhưng so sánh giữa các hình thức HN thì hình thức lồng ghép sẽ thuận lợi hơn vì gần gũi với kiến thức các em đang học, qua đó các em dễ tiếp cận ngành nghề với lĩnh vực các em đang nhìn nhận qua bài học và lại dễ nhớ bài học hơn và điều này các em cũng như Thầy cô đang mong đợi”. 3. Đánh giá của Cán bộ quản lý về hoạt động giáo dục hướng nghiệp. 6% 31% 26% 37% Rất tốt Tốt Trung bình Chưa tốt Biểu đồ3.1: Đánh giá mức độ công tác HN của nhà trường Theo đánh giá của Cán bộ quản lý của trường, chỉ có 6% CBQL đánh giá là rất tốt, 26% CBQL đánh giá là tốt, 37% hoạt động hướng nghiệp được đánh giá là “ Trung bình” . Và 31% hoạt động hướng nghiệp “ Chưa tốt”. người nghiên cứu đã tìm hiểu thực tế qua phỏng vấn các Thầy Cô làm công tác hướng nghiệp của trường, qua đó thì các Thầy cô cho rằng “Công tác HN cho học sinh chưa thu hút các em do còn thiếu điều kiện về cơ sở vật chất trang thiết bị cho việc thực hiện công tác HN, giáo viên chuyên trách về công tác HN 6
- còn thiếu đa số là giáo viên kiêm nhiệm nên việc đầu tư cho công tác hướng nghiệp chưa tốt”. Đánh giá của cán bộ quản lý về vai trò công tác hướng nghiệp của trường. 0% 0% 38% 62% Rất quan trọng Quan trọng Bình thường Không quan trọng Biểu đồ 3.2 : Vai trò công tác HN của trường Đánh giá của các Thầy cô quản lý về vai trò của công tác hướng nghiệp qua câu hỏi 1 phụ lục 3: 62% CBQL nhận định vai trò của công tác hướng nghiệp “ Rất quan trọng” đối với học sinh trong tình hình hiện nay, 38% CBQL nhận định công tác HN “ Quan trọng”. Và không có Thầy cô CBQL nào cho rằng “ Không quan trọng”. Đánh giá của cán bộ quản lý về giải pháp nâng cao công tác hướng nghiệp cho học sinh. 14% 46% 17% 23% Lồng ghép hướng nghiệp vào từng môn học. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp hướng nghiệp Xây dựng đội ngũ giáo viên chuyên trách về hướng nghiệp Đa dạng hóa các hình thức hướng nghiệp cho học sinh Biểu đồ 3.3: Hình thức HN nhằm nâng cao chất lượng công tác HN Trong đó có 46% CBQL cho rằng lồng ghép HN vào từng môn học giúp cho công tác HN đạt hiệu quả hơn, 23% nhận định rằng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp HN, 17% nhận định xây dựng đội ngũ giáo viên chuyên trách về HN và 14% cho rằng phải đa dạng hóa các hình thức HN cho học sinh. 4. Kết luận và kiến nghị 4.1. Kết luận Qua kết quả khảo sát của GV cũng như CBQL của trường thì hoạt động HN có vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục cho học sinh các cấp học nói chung và của trường THPT Phước Long, Quận 9 nói riêng, công tác HN giúp cho học sinh nhận ra được các yêu cầu của ngành nghề, yêu cầu của xã hội, năng lực của bản thân để qua đó có thể xác định cho mình một ngành nghề phù hợp cho tương lai. Và nhà trường nổ lực tổ chức tạo ra các hình thức HN phong phú, đa dạng nhằm thu hút các em học sinh trong đó BGH cũng chỉ đạo áp dụng những hình thức HN, nội dung HN, phương pháp HN sao cho các em HS nhận thức đúng về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động HN, qua đó các em có tầm nhìn 7
- khái quát hơn về hoạt động giáo dục HN và sẽ có sự chọn lựa nghề nghiệp phù hợp với bản thân học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công tác HN thì nhà trường cũng có một số trở ngại như thiếu đội giáo viên chuyên trách làm công tác HN, cơ sở vật chất như phòng tư vấn HN, các phương tiện dạy học phục vụ cho dạy học hướng nghiệp còn thiếu, và những hạn chế làm cho công tác HN của trường chưa đạt hiệu quả tốt. Đa số học sinh đều có nhu cầu được tư vấn, cung cấp kiến thức về chương trình giáo dục hướng nghiệp, các thông tin ngành nghề mà các em sẽ lựa chọn trong tương lai. Vì vậy, cần có những giải pháp mới thiết thực để giúp các em nhận ra những khả năng của bản thân, những yêu cầu của ngành nghề để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có ích cho xã hội. 4.2. Kiến nghị 4.2.1.Đối với sở Giáo dục & Đào tạo - Chỉ đạo cho mỗi trường THPT đều phải có Ban hướng nghiệp để chuyên trách xây dựng kế hoạch, triển khai hoạt động hướng nghiệp cho học sinh. - Tăng cường công tác thường xuyên mở các cuộc hội thảo, những buổi tập huấn về công tác hướng nghiệp cho đội ngũ giáo viên trên địa bàn quận. - Chỉ đạo các trường ĐH, Cao đẳng, Trung cấp nghề trên địa bàn quận hổ trợ việc cung cấp thông tin về nghề nghiệp, thị trường lao động hướng phát tiển của ngành nghề đào tạo cho các trường THPT. 4.2.2. Đối với chính quyền địa phương - Hỗ trợ và tạo điều kiện hoạt động cho công tác hướng nghiệp ở địa phương. - Tạo điều kiện cho các trường THPT tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề, khu chế xuất, khu công nghiệp, các trường ĐH, Cao đẳng, Trung tâm dạy nghề để các em học sinh tham quan, học nghề. - Quan tâm đến công tác hướng nghiệp cho học sinh, tăng cường chỉ đạo hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp, phòng tư vấn hướng nghiệp trên địa bàn Quận. - Có kế hoạch kiên kết giữa cơ sở đào tạo nghề, trường nghề với các trường THPT nhằm thúc đẩy các đơn vị sản xuất kinh doanh đào tạo đội ngũ lao động và sử dụng nguồn lao động phù hợp. 4.2.3. Đối với trường THPT Phước Long. - Xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp là nhiệm vụ của giáo dục phổ thông theo thông tư của Bộ giáo dục & ĐT để có sự đầu tư cho hoạt động này. - Nhà trường cần phải đầu tư trang thiết bị để phục vụ cho công tác hướng nghiệp, phân công nhân sự, giáo viên chuyên trách cho công tác này. - Chỉ đạo giáo viên thường xuyên cập nhật kiến thức ngành nghề, những thay đổi của hệ thống ngành nghề, thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa người học, giúp học sinh tự tìm tòi kiến thức ngành nghề thông qua bài học. - Tăng cường biện pháp phối hợp với các cơ sở sản xuất kinh doanh, công ty, làng nghề để hỗ trợ cho nhà trường trong công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh: như học nghề, tham quan, tổ chức trò chơi dân gian, trò chơi tìm hiểu nghề truyền thống, tham gia sản xuất 8
- Tài liệu tham khảo 1. Bộ giáo dục và đào tạo, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009. 2. Chiến lược phát triển giáo dục Viết Nam 2009-2020. 3. Phạm Tất Dong, Hoạt động giáo dục hướng nghiệp, NXB Giáo dục Việt Nam. 4. Giáo dục của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 5. ThS. Hồ Phụng Hoàng Phoenix,ThS. Trần Thị Thu | ThS. Nguyễn Thị Châu, Quản lý hướng nghiệp ở cấp trung học, NXB ĐH Sư Phạm. 6. Thông tư 31-TT của Bộ Giáo dục và Đào tạo 7. 8. Tác giả bài viết: Giáo viên hướng dẫn Bùi Thị Mai TS Nguyễn Văn Y 9
- BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2016-2017 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.



