Tài liệu Hướng dẫn của hội đồng khoa học về sinh vật biến đổi gen nhằm đánh giá rủi ro của các cây trồng biến đổi gen và thực phẩm, thức ăn gia súc nguồn gốc biến đổi gen

doc 122 trang phuongnguyen 70
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Hướng dẫn của hội đồng khoa học về sinh vật biến đổi gen nhằm đánh giá rủi ro của các cây trồng biến đổi gen và thực phẩm, thức ăn gia súc nguồn gốc biến đổi gen", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • doctai_lieu_huong_dan_cua_hoi_dong_khoa_hoc_ve_sinh_vat_bien_do.doc

Nội dung text: Tài liệu Hướng dẫn của hội đồng khoa học về sinh vật biến đổi gen nhằm đánh giá rủi ro của các cây trồng biến đổi gen và thực phẩm, thức ăn gia súc nguồn gốc biến đổi gen

  1. TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VỀ SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN NHẰM ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA CÁC CÂY TRỒNG BIẾN ĐỔI GEN VÀ THỰC PHẨM, THỨC ĂN GIA SÚC NGUỒN GỐC BIẾN ĐỔI GEN
  2. TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VỀ SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN NHẰM ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA CÁC CÂY TRỒNG BIẾN ĐỔI GEN VÀ THỰC PHẨM, THỨC ĂN GIA SÚC NGUỒN GỐC BIẾN ĐỔI GEN1 Thông qua ngày 24 tháng 9 năm 2004 Bản sửa cuối cùng đã được biên tập lại vào ngày 8 tháng 11 năm 2004 1 Trích dẫn: Tài liệu hướng dẫn của Hội đồng Khoa học về Sinh vật biến đổi gen đối với đánh giá rủi ro thực vật biến đổi gen và thực phẩm/thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ chứng, Tạp chí EFSA (2004), 99,1-94. © European Food Safety Authority 2005
  3. MỤC LỤC Thông tin về EFSA 2 TÓM TẮT 3 Điều khoản tham chiếu 5 Trách nhiệm của EFSA và Hội đồng GM 5 LỜI GIỚI THIỆU 6 1.Phạm vi của tài liệu 6 2. Cơ sở pháp lý để đánh giá rủi ro các sinh vật biến đổi gen, thực phẩm GM và thức ăn chăn nuôi GM ở cấp Cộng đồng 8 II.CHIẾN LƯỢC ĐÁNH GIÁ RỦI RO 14 1. Đánh giá rủi ro 14 2.Cách tiếp cận so sánh 14 3. Đánh giá và quản lý rủi ro của môi trường 17 4. Các vấn đề cần quan tâm 18 5. Các khuyến cáo chung 19 6. Chiến lược phát triển sắp tới 19 III. Các thông tin cần có trong hồ sơ thực vật GM và/hoặc thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật GM 20 A. Thông tin chung 20 B. Thông tin liên quan đến vật nhận hoặc các cây bố mẹ (khi thích hợp) 21 C. Thông tin liên quan đến việc biến đổi gen 22 1. Mô tả các phương pháp dùng cho việc biến đổi gen 22 2. Nguồn và bản chất của vector đã sử dụng 22 3 Nguồn của vật cho ADN, kích thước và chức năng mong đợi của mỗi đoạn của vùng dự kiến cho đoạn chèn 22 D. Thông tin liên quan đến thực vật biến đổi gen 23 1. Mô tả (các) tính trạng và đặc tính được đưa vào hoặc biến đổi 23 2. Thông tin về các trình tự được chèn hoặc bị loại bỏ 23 3. Thông tin về biểu hiện đoạn chèn 25
  4. 4. Thông tin về những khác biệt trong sự sinh sản, sự phổ biến và sự sống sót giữa thực vật GM với thực vật nhận 25 5. Sự ổn định di truyền của đoạn chèn và sự ổn định về kiểu hình của thực vật GM 26 6. Mọi thay đổi đối với khả năng truyền gen cho các sinh vật khác của thực vật GM 26 7. Thông tin về độc tố, chất gây dị ứng hoặc các ảnh hưởng xấu phát sinh từ thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM có hại khác đến sức khỏe con người hoặc động vật 27 7.1 Đánh giá so sánh 27 7.2 Tạo ra vật liệu cho việc đánh giá so sánh 28 7.3 Chọn lọc vật liệu và các hợp chất để phân tích 29 7.4 Các đặc điểm nông học 31 7.5 Đặc điểm của sản phẩm 31 7.6 Ảnh hưởng của quá trình chế biến 31 7.7 Mức độ sử dụng 32 7.8 Độc tính 33 7.8.1 Đánh giá an toàn các protein biểu hiện mới 34 7.8.2 Kiểm tra các thành phần mới khác ngoài protein 36 7.8.3 Thông tin về các thành phần thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tự nhiên 36 7.8.4 Kiểm tra toàn bộ thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM 36 7.9 Tính gây dị ứng 38 7.9.1 Đánh giá tính gây dị ứng của protein mới được biểu hiện 38 7.9.2 Đánh giá tính gây dị ứng của thực vật hoặc cây trồng biến đổi gen 41 7.10 Đánh giá mức dinh dưỡng của thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi GM 42 7.10.1 Đánh giá mức dinh dưỡng của thực phẩm biến đổi gen 42 7.10.2 Đánh giá mức dinh dưỡng của thức ăn chăn nuôi biến đổi gen 43 7.11 Giám sát hậu thị trường thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi biến đổi gen 44 8. Cơ chế của sự tương tác giữa thực vật GM và các sinh vật đích (nếu có) 45 9. Những thay đổi tiềm ẩn trong tương tác của thực vật GM với các ảnh hưởng đến môi trường hữu sinh của việc biến đổi gen 46 9.1 Tính bền vững và sự xâm lấn 47
  5. 9.2 Ưu thế và bất ưu thế chọn lọc 47 9.3 Nguy cơ của việc truyền gen 48 9.4 Các tác động giữa thực vật GM và các sinh vật đích 49 9.5 Các tác động của thực vật GM với các sinh vật không phải sinh vật đích 49 9.6 Các ảnh hưởng lên sức khỏe con người 50 9.7 Các ảnh hưởng lên sức khỏe động vật 50 9.8 Các ảnh hưởng đến các quá trình sinh-địa-hóa 50 9.9 Các tác động của sự canh tác đặc trưng, các kỹ thuật quản lý và thu hoạch 51 10. Các tác động tiềm năng với môi trường vô sinh 52 11. Kế hoạch giám sát môi trường 52 11.1 Tổng quan 52 11.2 Ảnh hưởng giữa đánh giá rủi ro và giám sát môi trường 54 11.3 Giám sát thực vật GM trong trường hợp cụ thể 55 11.4 Sự giám sát nói chung các tác động của thực vật GM 55 11.5 Báo cáo kết quả giám sát 56 IV.VIỆC XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM RỦI RO CỦA CÁC THỰC VẬT GM LIÊN QUAN TỚI AN TOÀN THỰC PHẨM/ THỨC ĂN GIA SÚC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG 58 1. Giới thiệu 58 2. Làm thế nào để tiến hành việc xác định đặc điểm rủi ro 59 3. Các vấn đề cần được đề cập trong việc mô tả rủi ro 61 4. Kết quả của việc xác định đặc điểm rủi ro 64 Phụ lục I 65 Giới thiệu 65 Phụ lục II 73 Phụ lục III 74 A. THÔNG TIN CHUNG 74 B. THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÂY NHẬN HOẶC (NẾU CÓ THỂ) CÁC CÂY BỐ MẸ 75 C. THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC BIẾN ĐỔI GEN 76 D. THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÂY TRỒNG GM 76 Phụ lục IV 79
  6. A. THÔNG TIN CHUNG 79 B. CÁC THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÂY NHẬN HOẶC (NẾU CÓ THỂ) CÂY BỐ MẸ 81 C. THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI DI TRUYỀN 83 D. CÁC THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÂY TRỒNG GM 83 E.THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC GIẢI PHÓNG TRƯỚC ĐÓ CỦA CÂY TRỒNG GM VÀ/HOẶC CÁC SẢN PHẨM CÓ NGUỒN GỐC TỪ GM 87 Phụ lục VI 90 Phụ lục V 107 Phụ lục V 111
  7. Thông tin về EFSA Năm 2002, Cơ quan An toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) được thành lập và tài trợ bởi Cộng đồng châu Âu, với tư cách là một cơ quan độc lập sau một loạt những đợt khủng hoảng thực phẩm khiến người dân châu Âu bày tỏ lo ngại về an toàn thực phẩm và năng lực quản lý của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ người tiêu dùng. Với sự phối hợp chặt chẽ của các nhà chức trách trong nước và tư vấn mở của những người có liên quan, EFSA đưa ra những lời khuyên một cách khoa học, khách quan đối với tất cả những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi như sức khoẻ người, động vật và bảo vệ thực vật. EFSA cũng tư vấn về dinh dưỡng trong khung luật pháp của Cộng đồng. Công việc của EFSA tập trung vào 2 lĩnh vực: đánh giá rủi ro và thông tin rủi ro. Đặc biệt, những đánh giá rủi ro của EFSA sẽ cung cấp cho các nhà quản lý rủi ro (bao gồm các tổ chức của EU có trách nhiệm chính trị, như Ủy ban châu Âu, Quốc hội châu Âu và Hội đồng) một cơ sở khoa học đúng đắn để xác định những biện pháp pháp lý có định hướng chính sách cần thiết để bảo vệ thật tốt cho người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. EFSA thông tin cho công chúng một cách cởi mở và rõ ràng về tất cả những vấn đề trong thẩm quyền được giao. Thu thập và phân tích các số liệu khoa học, xác định những rủi ro nảy sinh và hỗ trợ khoa học cho Ủy ban châu Âu, đặc biệt là trong trường hợp khủng hoảng thực phẩm, cũng là một phần trách nhiệm của EFSA, được đưa ra trong Quy định thành lập (EC) Số 178/2002 ngày 28 tháng 11 năm 2002. Để biết thêm thông tin về EFSA, hãy liên hệ với Văn phòng Thông tin EFSA 7
  8. TÓM TẮT Ngày 24 tháng 9 năm 2004, Hội đồng khoa học về Sinh vật biến đổi gen (Hội đồng GMO) đã thông qua tài liệu hướng dẫn về đánh giá rủi ro đối với cây trồng biến đổi gen (GM) và thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ chúng. Cơ quan An toàn thực phẩm Châu Âu (EFSA) và Hội đồng GMO đã tư vấn cho các bên có liên quan trước khi thông qua lần cuối tài liệu này. Tài liệu này sẽ đưa ra những chỉ dẫn để chuẩn bị và trình đơn cấp phép trong khuôn khổ Quy định (EC) 1829/2003 về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen và của Chỉ thị 2001/18/EC về việc phóng thích có chủ ý sinh vật biến đổi gen vào môi trường. Do đó, tài liệu này đề cập đến việc đánh giá đầy đủ các rủi ro của thực vật biến đổi gen và thực phẩm, thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ chúng. Những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro các sinh vật biến đổi gen (nguồn gốc, dán nhãn, đồng tồn tại) không thuộc phạm vi của tài liệu chỉ dẫn này. Các hướng dẫn cho việc nộp đơn cấp phép được cung cấp thông qua các chương khác nhau của tài liệu. Chương đầu tiên sẽ xác định phạm vi của tài liệu này và cơ sở pháp lý cho việc đánh giá rủi ro các sinh vật biến đổi gen, thực phẩm biến đổi gen ở trong EC. Chương II mô tả về chiến lược đánh giá rủi ro toàn diện. Chương III mô tả những vấn đề cần phải xem xét khi tiến hành mô tả đặc điểm rủi ro một cách toàn diện. Việc mô tả bao gồm mô tả đặc điểm phân tử của đoạn chèn, đánh giá sự biến đổi đối với những đặc điểm nông học của cây trồng biến đổi gen và đánh giá độ an toàn thực phẩm của cây trồng biến đổi gen và/hoặc các thực phẩm/thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc biến đổi gen. Số liệu về thành phần, độc tố, dị ứng, giá trị dinh dưỡng và ảnh hưởng môi trường của từng trường hợp sẽ là nền tảng của quá trình đánh giá rủi ro. Mô tả đặc điểm rủi ro có thể làm tăng yêu cầu cần có các hoạt động cụ thể hơn bao gồm giám sát sau thương mại hoá các thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen và/hoặc giám sát môi trường cho các cây trồng biến đổi gen. Cuối cùng, chương IV sẽ tóm tắt quá trình phân loại rủi ro toàn diện. Hướng dẫn nộp hồ sơ cấp phép trong các Phụ lục của tài liệu hướng dẫn. Các Phụ lục này chi tiết hoá các phần quan trọng trong một hồ sơ cấp phép, mẫu một hồ sơ kỹ thuật và bản mẫu tổng kết hồ sơ cấp phép. Ngoài ra cũng cần phải gửi hồ sơ kỹ thuật chi tiết về mẫu của thực vật biến đổi gen đến Trung tâm nghiên cứu DG. 8
  9. LỜI NÓI ĐẦU Biến đổi gen, kỹ thuật di truyền hoặc công nghệ tái tổ hợp ADN, lần đầu tiên được áp dụng vào những năm 70 là một trong những phương pháp mới nhất để đưa các tính trạng mới vào vi sinh vật, cây trồng và động vật. Không giống các phương pháp khác, việc ứng dụng công nghệ này được quy định rất chặt chẽ. Trước khi bất cứ sinh vật biến đổi gen hay sản phẩm có nguồn gốc biến đổi gen được đưa ra thị trường EU, thì cần phải thông qua một hệ thống phê chuẩn mà độ an toàn đối với con người, động vật và môi trường phải được đánh giá kỹ lưỡng. Thống nhất với các điều khoản của Quy định (EC) 1829/2003 về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen, áp dụng từ ngày 18 tháng 4 năm 2004, Ủy ban châu Âu đã yêu cầu cơ quan An toàn Thực phẩm Châu ÂU (EFSA) đưa ra chỉ dẫn chi tiết để giúp người đăng ký có thể chuẩn bị và nộp hồ sơ cấp phép cho thực phẩm và/hoặc thức ăn chăn nuôi biến đổi gen. Tài liệu này đưa ra chỉ dẫn chi tiết cho đánh giá cây trồng biến đổi gen và thực phẩm và/hoặc thức ăn chăn nuôi bao gồm, có chứa hay được sản xuất từ những cây trồng có nguồn gốc biến đổi gen. Hướng dẫn này bổ sung chứ không thay thế những yêu cầu khác, như đã được đặt ra trong các quy định pháp lý cụ thể (ví dụ, hạt giống hoặc những vật liệu nhân giống cây trồng khác) mà sản phẩm đó cần phải thực hiện để được thông qua tại thị trường Châu Âu. Tài liệu này được biên soạn bởi Hội đồng khoa học về sinh vật biến đổi gen của EFSA, bao gồm những thành viên sau: Christer Andersson, Detlef Bartsch, Hans-Joerg Buhk, Howard Davies, Marc DeLoose, Michael Gasson, Niels Hendriksen, Colin Hill, Sirpa Kärenlampi, Ilona Kryspin- Sørensen, Harry Kuiper, Marco Nuti, Fergal O’Gara, Pere Puigdomenech, George Sakellaris, Joachim Schiemann, Willem Seinen, Angela Sessitsch, Jeremy Sweet, Jan Dirk van Elsas and Jean-Michel Wal. Các chuyên gia chủ chốt: Andrew Chesson, Karl-Heinz Engel, Gerhard Flachowsky, Tony Hardy, Bevan Moseley, Andreu Palou và Richard Phipps. Bản dự thảo tài liệu được phổ biến trên trang web EFSA để tham khảo ý kiến của công chúng trong vòng 4 tuần của tháng 4 năm 2004. Vào ngày 25 tháng 5 năm 2004, Hội đồng GMO đã đưa ra phương pháp đánh giá rủi ro thực vật GM và thực phẩm có nguồn gốc biến đổi gen tại cuộc họp của các bên liên quan tại Bru-xel. Hội đồng GMO đã xem xét tất cả những ý kiến đóng góp có liên quan đến đánh giá rủi ro GMOs trước khi chuẩn bị bản hướng dẫn sửa đổi. Hội đồng GMO đã không xem xét những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro các sinh vật biến đổi gen (như nguồn 9
  10. gốc, dán nhãn, đồng tồn tại). Những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội cũng không thuộc thẩm quyền của Hội đồng khoa học. Tài liệu hướng dẫn đã được thông qua tại Hội đồng GMO vào ngày 24 tháng 9 năm 2004. Trước khi xuất bản, EFSA gửi tài liệu hướng dẫn để các thành viên tham gia cuộc họp các biên liên quan xem xét lần cuối vào ngày 24 tháng 09 năm 2004. Tài liệu này đã được hoàn tất vào ngày 8 tháng 11 năm 2004. Hội đồng GMO sẽ đánh giá định kỳ tài liệu hướng dẫn này dựa trên kinh nghiệm đạt được và các tiến bộ kỹ thuật - khoa học. Thông qua việc thiết lập một khung cân đối cho đánh giá rủi ro, tài liệu này sẽ cung cấp những hướng dẫn hữu ích cho người đăng ký cũng như các nhà thẩm định rủi ro. Điều khoản tham chiếu Dựa vào Điều 5(8) và 17(8) của Quy định (EC) 1829/2003 (EC, 2003a) về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen, trong lá thư đề ngày 27 tháng 10 năm 2003, Ủy ban châu Âu đã yêu cầu Cơ quan An toàn thực phẩm Châu Âu đưa ra chỉ dẫn chi tiết để hỗ trợ người đăng ký2 chuẩn bị và trình hồ sơ cấp phép thực phẩm và thức ăn chăn nuôi GM. Trách nhiệm của EFSA và Hội đồng GM Phù hợp với Quy định (EC) 178/2002 (EC, 2002c), EFSA tư vấn khoa học và hỗ trợ kỹ thuật khoa học cho luật pháp và chính sách của Cộng đồng trong tất cả các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Quy định này sẽ cung cấp những thông tin độc lập về tất cả các vấn đề trong lĩnh vực này và thông tin về rủi ro. EFSA sẽ đóng góp ở mức độ cao về bảo vệ sức khỏe con người và cuộc sống con người, sức khỏe động vật, cây trồng và môi trường trong bối cảnh thị trường nội địa. Hội đồng Khoa học về sinh vật biến đổi gen sẽ giải quyết những vấn đề được xác định trong Chỉ thị 2001/18/EC (EC, 2001a), như vi sinh vật, cây trồng và động vật, 2 The term applicant is used hereafter as a generic reference to the official body submitting the application 10
  11. liên quan đến phóng thích vào môi trường và thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen. (EFSA, 2002). LỜI GIỚI THIỆU 1. Phạm vi của tài liệu Tài liệu này sẽ đưa ra những hướng dẫn về đánh giá rủi ro các cây trồng biến đổi gen3 và/hoặc thực phẩm có nguồn gốc biến đổi gen theo khung Quy định (EC) 1829/2003 (EC, 2003a) về thực phẩm và thức ăn chăn nuôi GM. Hướng dẫn này cũng được áp dụng cho thực phẩm/thức ăn chăn nuôi dành cho động vật không để làm thực phẩm. Khi một sản phẩm chắc chắn được dùng với mục đích làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, thì hồ sơ cấp phép phải đáp ứng cả yêu cầu đối với thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Tài liệu này sẽ hướng dẫn soạn thảo Phụ lục IIIB của Chỉ thị 2001/18/EC về phóng thích vào môi trường các sinh vật biến đổi gen (GMOs)4 (EC, 2001a) hoặc hướng dẫn chuẩn bị kết luận đánh giá rủi ro môi trường như được nói trong Phụ lục II, đoạn D.2 của Chỉ thị đó và hướng dẫn thiết lập kế hoạch giám sát môi trường theo Phụ lục VII, mà không vi phạm những Quyết định 3 Từ trong tài liệu này " những cây trồng biến đổi gen” được dịnh nghĩa là những thực vật bậc cao biến đổi gen (thực vật hạt trần và thực vật hạt kín) phù hợp với Chỉ thị 2001/18/EC. 4 Sinh vật biến đổi gen có nghĩa là sinh vật có thể chất bị thay đổi theo cách không xảy ra tự nhiên qua giao hợp và/hoặc kết hợp tự nhiên (Chỉ thị 2001/18/EC). Những kỹ thuật biến đổi gen kể cả kết hợp kỹ thuật DNA tức là đưa các phân tử DNA vào vật chủ có thể tiếp tục nhân lên; 2) tiêm trực tiếp DNA ví dụ vi tiêm; 3) lai hoặc dung hợp tế bào/nguyên sinh chất bằng phương pháp không diễn ra tự nhiên. Những kỹ thuật không dẫn đến biến đổi gen gồm thụ tinh trong ống nghiệm, biến đổi tự nhiên, và kích thích đa bội thể (để biết thêm chi tiết hãy xem Chỉ thị 2001/18/EC, Phụ lục I A). 11
  12. 2002/623/EC (EC, 2002a), 2002/811/EC (EC, 2002b), 2002/812/EC (EC, 2002e) và 2003/701/EC (EC, 2003e) được được thiết lập theo khung của Chỉ thị 2001/18/EC. Bởi vậy tài liệu này sẽ đưa ra chỉ dẫn đánh giá rủi ro một cách đầy đủ các cây trồng biến đổi gen và thực phẩm/thức ăn chăn nuôi biến đổi gen. Tuy nhiên, không phải tất cả các yêu cầu của tài liệu chỉ dẫn này có thể áp dụng cho tất cả các sản phẩm (ví dụ: thực phẩm có nguồn gốc biến đổi gen, cây trồng không dùng làm thực phẩm). Tài liệu hướng dẫn này là một tài liệu được cập nhật thay thế “Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro các cây trồng biến đổi gen và thực phẩm biến đổi gen ngày 6-7 tháng 3 năm 2003 do Nhóm công tác về Thực phẩm mới và Sinh vật biến đổi gen chuẩn bị cho Ủy ban điều hành Khoa học của Liên minh châu Âu (EC, 2003d). Tài liệu hướng dẫn này sẽ đưa ra chỉ dẫn chi tiết để giúp người nộp đơn chuẩn bị và trình hồ sơ cấp phép theo Điều 5(8) và 17(8) của Quy định (EC) 1829/2003. Tài liệu này đề cập đến những yêu cầu của Quy định (EC) 1829/2003 và được cấu trúc theo những yêu cầu đặt ra trong các Điều 5(5)(a) và (b) và 17(5)(a) và (b) của Quy định (EC) 1829/2003 về sinh vật biến đổi gen hoặc thực phẩm bao gồm hoặc chứa sinh vật biến đổi gen ví dụ tính đến các Phụ lục IIIB, IID2 và VII của Chỉ thị 2001/18/EC. Hướng dẫn cụ thể về trình hồ sơ cấp phép trong các phụ lục của tài liệu này. Chất phụ gia thực phẩm (Chỉ thị 89/107/EEC; EC, 1989), mùi vị (Chỉ thị 88/388/EEC; EC, 1988) và chất phụ gia cho thức ăn chăn nuôi (Quy định (EC) Số 1831/2003; EC, 2003c) bao gồm, có chứa hay được sản xuất từ cây trồng biến đổi gen nằm trong phạm vi của tài liệu hướng dẫn này. Tài liệu này không đề cập tới những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro (truy xuất nguồn gốc, dán nhãn mác, đồng tồn tại). Những vấn đề kinh tế, xã hội và đạo đức cũng được đặt ra ngoài phạm vi của tài liệu hướng dẫn. Tài liệu hướng dẫn này không đề cập đến phóng thích vào môi trường (Chỉ thị 2001/18/EC) về các sinh vật biến đổi gen với mục đích thí nghiệm (Thông báo phần B). Tài liệu này cũng không có phần hạn chế sử dụng các vi sinh vật biến đổi gen (GMMs) (Chỉ thị 90/219/EEC; EC, 1990a; EC, 1998), hoặc đưa ra thị trường thực phẩm có chứa vi sinh vật biến đổi gen (Quy định (EC) 1829/2003). Đối với thực phẩm có chứa vi sinh vật biến đổi gen hoặc sản xuất từ vi sinh vật biến đổi gen, tài liệu hướng dẫn song song cũng được Hội đồng sinh vật biến đổi gen cung cấp. Tài liệu chỉ dẫn này không đề cập đến phóng thích vào môi trường (Chỉ 2001/18/EC) về các động vật biến đổi gen hoặc đưa ra ngoài thị trường các thực phẩm có chứa hay sản xuất từ động vật biến đổi gen 12
  13. (Quy định (EC) 1829/2003). Tài liệu hướng dẫn phù hợp sẽ do Hội đồng GMO chuẩn bị sau này. Tài liệu bổ sung cũng cần được phát triển để đánh giá rủi ro về môi trường các cây trồng bién đổi gen để sản xuất ra các sản phẩm y học (dược phẩm làm từ cây trồng) cho con người và sử dụng của thú y (Quy định (EEC) 2309/93; EC, 1993) cũng như các mục đích phi thực phẩm (ví dụ thành phần công nghiệp được làm từ cây trồng và cây trồng biến đổi gen liệu pháp thực vật) 2. Cơ sở pháp lý để đánh giá rủi ro các sinh vật biến đổi gen, thực phẩm GM và thức ăn chăn nuôi GM ở cấp Cộng đồng Các quy định, Chỉ thị, Quyết định của EU được xuất bản trong Tạp chí chính thức của Cộng đồng Châu Au đưa ra các quy trình cần thực hiện để xin giấy phép cho GMOs cũng như các yêu cầu nộp đơn bởi vậy luôn là nguồn tham khảo ban đầu. Luật thực phẩm chung (Quy định (EC) 178/2002) Quy định (EC) 178/2002 (EC, 2002c) đưa ra các nguyên tắc chung về luật thực phẩm và quy trình an toàn thực phẩm kể cả nhiệm vụ của EFSA. Quy định đưa ra luật thực phẩm một cách rộng rãi kể cả thức ăn cho động vật và những đầu vào nông nghiệp khác ở mức độ sản xuất ban đầu. Theo luật thực phẩm nói chung “ thực phẩm” có nghĩa là chất liệu sản phẩm, được chế biến, hay một phần chế biến hoặc không chế bhiến, được con người tiêu hóa. “Thức ăn” bao gồm bất cứ chất nào được chủ ý đưa vào trong thực phẩm khi sản xuất, chuẩn bị hoặc xử lý. Thực phẩm có nghĩa là những chất hay sản phẩm kể cả những chất phụ gia, dù được xử lý hoàn toàn, một phần hay không qua xử lý được sử dụng làm thức ăn sống cho động vật. Luật thực phẩm nói chung định nghĩa đó là ‘rủi ro’, 'phân tích rủi ro', 'đánh giá rủi ro', 'quản lý rủi ro' và 'thông tin rủi ro'.5 5 ● Rủi ro nghĩa là các tác nhân sinh học, hoá học và vật lý trong các thực phẩm có khả năng gây hại cho sức khoẻ 13
  14. Điều 14 và 15 của luật thực phẩm đưa ra những yêu cầu đảm bảo an toàn thực phẩm để xác định xem thực phẩm có hại cho sức khoẻ hay không. Quy định về thực phẩm biến đổi gen (Quy định (EC) 1829/2003) Theo quy định (EC) 1829/2003, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen chỉ được phép đưa ra thị trường sau khi có đánh giá rủi ro một cách khoa học đối với sức khoẻ con người và động vật và với nhiều trường hợp là với môi trường. Thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen có nghĩa là những sinh vật biến đổi gen được sử dụng làm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi, thực phẩm/thức ăn chăn nuôi có chứa sinh vật biến đổi gen và thực phẩm/thức ăn chăn nuôi có chứa các thành phần được sản xuất từ sinh vật biến đổi gen. Những sản phẩm thực phẩm có chứa, bao gồm hoặc được sản xuất từ các sinh vật biến đổi gen trước đây được quy định theo Quy định (EC) 258/97 về thực phẩm mới và thành phần thực phẩm mới, quy định đó được sửa đối theo Quy định (EC) 1829/2003. Đối với thức ăn chăn nuôi có chứa hoặc bao gồm sinh vật biến đổi gen, không có quy định cụ thể nào của Cộng đồng được áp dụng trước khi Quy định này có hiệu lực, mức độ an toàn của thực phẩm ●‘Rủi ro’ có nghĩa là khả năng có tác động xấu và tính nghiêm trọng của tác động đó, dẫn đến nguy cơ ● ‘Phân tích rủi ro có nghĩa là quá trình có 3 yếu tố: đánh giá rủi ro, quản lý rủi ro và thông tin rủi ro ● ‘Đánh giá rủi ro’ có nghĩa là quá trình về cơ bản mang tính khoa học bao gồm 4 bước: xác định nguy cơ, phân loại nguy cơ, đánh giá thể hiện và phân loại rủi ro ●‘Quản lý rủi ro’có nghĩa là quá trình, khác với đánh giá rủi ro, đánh giá chính sách với sự tư vấn của các bên liên quan, xem xét đánh gía rủi ro và những nhân tố pháp lý khác, lựa chọn các cách phòng ngừa và kiểm soát phù hợp. ●‘Thông tin rủi ro’ có nghĩa là trao đổi thông tin và các ý kiến thông qua quá trình phân tích rủi ro đối với nguy cơ và những mối rủi ro, những nhân tố liên quan đến rủi ro, nhận thức rủi ro trong khi đánh giá rủii ro, quản lý rủi ro, người tiêu thụ, thực phẩm và kinh doanh thực phẩm, cộng đồng học thuật và những bên liên quan khác, kể cả giải thích thực tiễn đánh giá rủi ro và cơ sở đưa ra quyết định quản lý rủi ro . 14
  15. biến đổi gin được đánh giá theo Chỉ thị 90/220/EEC (được bãi bỏ theo Chỉ thị 2001/18/EC). Điều 8 và 20 của Quy định (EC) 1829/2003 đưa ra các biện pháp tuyên truyền đối với sản phẩm hiện nay. Thực phẩm được đưa ra thị trường EU trước ngày 18 tháng 4 năm 2004 tiếp tục được phép đưa ra thị trường, được sử dụng, chế biến với điều kiện là phải thông báo cho Uỷ ban trước ngày 18 tháng 10 năm2004. Quy định yêu cầu rằng thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi biến đổi gen không có tác động xấu đến sức khoẻ con người hoặc môi trường; làm chệch hướng người tiêu thụ/người sử dụng; khác với thực phẩm được thay thế tới một chừng mực mà tiêu thụ bình thường sẽ bất lợi đối với dinh dưỡng của người tiêu dùng/động vật. Ngoài ra, thực phẩm biến đổi gen không được làm hại hoặc lệch hướng người tiêu thụ bằng cách làm giảm những đặc điểm rõ ràng của động vật. Những sản phẩm sẽ được phép chỉ khi nào người nộp đơn cho thấy rằng họ đáp ứng những yêu cầu này. Tất cả những điểm này phải được xem xét trong đánh giá rủi ro khoa học và người nộp đơn phải đưa ra những số liệu đáng tin cậy và toàn diện. Đơn nộp sẽ phải gửi kèm với những quy định đặc biệt cụ thể trong Điều 5(3) và/hoặc 17(3) của Quy định về thực phẩm biến đổi gen. Uỷ ban Châu Âu đã thiết lập những luật lệ thực hiện để áp dụng những Điều này, kể cả những điều liên quan đến chuẩn bị và thuyết trình ứng dụng (Quy định (EC) 641/2004; EC, 2004b). Đơn xin sẽ đuợc nộp cho cơ quan có thẩm quyền quốc gia của Nước Thành viên, trong EFSA. EFSA sau đó sẽ nộp đơn xin cho các Nước thành viên và Uỷ ban và tóm tắt việc ứng dụng có sẵn đối với công chúng6. Đánh giá khoa học về đơn nộp sẽ được thực hiện dưới trách nhiệm của EFSA. EFSA có thể yêu cầu một cơ quan đánh giá thực phẩm phù hợp của Nước Thành viên tiến hành đánh giá an toàn về thực phẩm theo Điều 36 của Quy định (EC) 178/2002. EFSA cũng có thể yêu cầu một cơ quan có thẩm quyền được giao trách nhiệm phù hợp với Điều 4 của Chỉ thị 2001/18/EC để tiến hành đánh giá rủi ro môi trường. Tuy nhiên, nếu đơn xin liên 6 15
  16. quan đến sinh vật biến đổi gen được sử dụng như giống hoặc chất liệu phổ biến của cây trồng khác, cơ quan có thẩm quyền sẽ yêu cầu tiến hành đánh giá rủi ro môi trường. EFSA sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng. Khi nhận đơn đăng ký hợp lệ, EFSA sẽ cố gắng tuân theo khoảng thời gian là 6 tháng để đưa ra ý kiến. Thời gian hạn định sẽ là bất cứ lúc nào EFSA tìm thấy những thông tin bổ sung từ người nộp đơn Khi xem xét đến ý kiến của EFSA, Uỷ ban sẽ nộp cho Uỷ ban thường trực về Thực phẩm và Y tế động vật một bản thảo quyết định trong vòng 3 tháng nhận được ý kiến. Quyết định cuối cùng sẽ được thông qua phù hợp với quy trình của Uỷ ban. Giấy phép có hiệu lực đối với Cộng đồng trong vòng 10 năm. Sản phẩm được cấp giây phép sẽ phải tuân theo những điều khoản của Quy định (EC) 1830/2003 về nguồn gốc và nhãn mác của các sinh vật biến đổi gen và nguồn gốc thực phẩm từ các sinh vật biến đổi gen. Sản phẩm được cấp giấy phép sẽ được đưa vào Cục Đăng ký Cộng đồng đối với sinh vật biến đổi gen, và sẽ được thông báo cho công chúng. Khi phù hợp với những kết luận về đánh giá rủi ro, những yêu cầu giám sát hậu thị trường về sử dụng thực phẩm biến đổi gen để tiêu thụ cho con người hoặc dành thức ăn chăn nuôi cho động vật. Phóng thích sinh vật biến đổi gen (Chỉ thị 2001/18/EC) Những nguyên tắc quy định phóng thích sinh vật biến đổi gen vào môi trường được đưa ra trong Chỉ thị Hội đồng 2001/18/EC (EC, 2001a), huỷ bỏ Chỉ thị 90/220/EEC (EC, 1990b). Chỉ thị này từng bước đưa vào thực tiễn quá trình phê duyệt đối với đánh giá rủi ro ở từng trường hợp với sức khoẻ con người và môi trường trước khi sinh vật biến đổi gen có thể phóng thích vào môi trường hoặc đưa ra ngoài thị như những sản phẩm khác. Nguyên tắc từng bước có nghĩa là phải giảm việc chứa các sinh vật biến đổi gen và quy mô phóng thích sẽ tăng từ từ, nhưng đánh giá những bước đi ban đầu sẽ cho biết cần phải thực hiện bước tiếp theo là gì. Phần B của Chỉ thị này liên quan đến việc phóng thích các sinh vật biến đổi gen vì bất cứ mục đích khác chứ không phải đưa ra ngoài thị trường. Đối với những phóng thích như vậy, cần phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Nước Thành viên mà phóng thích sẽ được thực hiện ở đó. Người nộp đơn có thể tiếp tục phóng thích chỉ khi nào nhận được văn bản đồng ý của cơ quan có thẩm quyền. Hội đồng đưa ra kết quả phóng thích được thiết lập theo Quyết định của Uỷ ban 2003/701/EC . Phần C của Chỉ thị này liên quan đến việc đưa ra thị trường ví dụ thông báo cho bên thứ ba về sinh vật biến đổi gen như những sản phẩm khác. Người nộp đơn phải gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền của Nước thành viên khi đưa ra thị trường sinh vật biến đổi gen lần đầu tiên. Đơn sẽ có cả phần đánh giá rủi ro. Phụ lục IIIB của Chỉ 16
  17. thị này sẽ chi tiết các thông tin cần thiết làm cơ sở đánh giá rủi ro các cây thực vật cao hơn. Những nguyên tắc về đánh giá rủi ro môi trường kể cả các mặt đối với sức khoẻ con người và động vật được đưa ra trong Phụ lục II của Chỉ thị này. Một số tài liệu bổ trợ đã được chuẩn bị để giúp người nộp đơn. Quyết định của Uỷ ban 2002/623/EC (EC, 2002a) đưa ra những ghi chú chỉ dẫn về mục tiêu, các yếu tố, nguyên tắc và phương pháp đánh giá rủi ro đối với môi trường được đề cập trong Phụ lục II của Chỉ thị 2001/18/EC. Quyết định của Hội đồng 2002/811/EC (EC, 2002b) đưa ra những ghi chú chỉ dẫn bổ sung Phụ VII cho Chỉ thị này, mô tả mục tiêu và những nguyên tắc chung sẽ được thực hiện để đưa ra kế hoạch giám sát. Quyết định Hội đồng 2002/812/EC (EC, 2002e) đưa ra khung thông tin tóm tắt. Tháng 3 năm 2003, UỶ ban điều hành Khoa học Châu đã xuất bản cuốn tài liệu đánh giá rủi ro cây trồng biến đổi gen và thực phẩm có nguồn gốc biến đổi gen được thực hiện bởi Nhóm làm việc về Thực phẩm /thức ăn chăn nuôi và sinh vật biến đổi gen (EC, 2003d). Tài liệu hướng dẫn hiện nay là một tài liệu cập nhật thay thế tài liệu hướng dẫn đó. Nếu cơ quan có thẩm quyền trong nước ủng hộ sinh vật biến đổi gen, Nước thành viên sẽ phải thông báo cho Uỷ ban và các nước Thành viên khác. Nếu Uỷ ban hoặc bất cứ Nước thành viên nào khác không phản đối hoặc nếu những vấn đề đang nổi lên được giải quyết trong vòng 105 ngày, Nước Thành viên đánh giá sẽ cho phép và sản phẩm có thể được tiếp thị tới Cộng đồng. Tuy nhiên, nếu có bất cứ sự phản đối nào thì sẽ phải có quyết định đưa ra ở Cấp Cộng đồgn. Nếu có sự phản đối nào liên quan đến rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối với sức khoẻ con người hoặc môi trường, Uỷ ban sẽ phải xin ý kiến tư vấn của EFSA. Chỉ thị này sẽ đưa ra thời gian hạn định để xin giấy phép, mà không thể vượt quá 10 năm. Giấy phép có thể gia hạn trên cơ sở đánh giá những kết quả giám sát và bất cứ thông tin mới nào liên quan đến rủi ro đối với sức khoẻ con người và/hoặc môi trường. Chỉ thị này cũng đưa ra quy định bắt buộc để đưa ra kế hoạch giám sát nhằm phát hiện và xác định những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, tức thì, lâu dài hoặc không thể lường trước được đối với sức khoẻ con người hoặc môi trường của 17
  18. sinh vật biến đổi gen như những sản phẩm khác sau khi đã đưa chúng ra ngoài thị trường.7 Tác động giữa Quy định (EC) 1829/2003 và Chỉ thị 2001/18/EC Cần có đánh giá rủi ro môi trường phù hợp với những yêu cầu được đề cập trong Chỉ thị 2001/18/EC. Trong trường hợp thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi có chứa sinh vật biến đổi gen, người nộp đơn phải chọn hoặc cho phép phóng thích vào môi trường đã có trong phần C của Chỉ 2001/18/EC, mà không ảnh hưởng đến những điều kiện đặt ra bởi sự cho phép đó hoặc đánh giá rủi ro đồng thời với đánh giá an toàn theo Quy định (EC) 1829/2003. Giống sinh vật biến đổi gen và những chất nhân giống cây trồng khác Các giống biến đổi gen sẽ chỉ được chấp nhận khi được đưa vào danh mục quốc gia theo Chỉ thị 2002/53/EC (EC, 2002f) và 2002/55/EC (EC, 2002g) sau khi được chấp nhận đưa ra thị trường phảiphù hợp với Chỉ thị 2001/18/EC (90/220/EEC) để đảm bảo rằng phải có tất cả các biện pháp phù hpự để tránh tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người và môi trường khi phóng thích vào môi trường sinh vật biến đổi gen. Nếu đơn đăng ký cây trồng biến đổi gen được sử dụng như những hạt giống hoặc chất nhân giống cây trồng khác trong phạm vi của Quy định (EC) 1829/2003 và người nộp đơn chọn đánh giá rủi ro của môi trường theo Quy định được đề cập ở 7 ‘Tác động trực tiếp liên quan đến những tác động ban đầu là kết quả của chính sinh vật biến đổi gen và không xảy ra thông qua một chuỗi các sự kiện. ‘Tác động gián tiếp đề cập đến những tác động xảy ra thông qua một chuỗi các sự kiện, thông qua cơ chế như tác động với các sinh vật khác, chuyển giao sinh vật biến dổi gen, hoặc những thay đổi về sử dụng và quản lý. ‘Tác động tức thì đề cập đến tác động được quan sát trong giai đoạn phóng thích sinh vật biến đổi gen. ‘Tác động lâu dài’ đề cập đến những tác động rõ ràng ở giai đoạn sau nay hoặc sau khi ngừng phóng thích. 18
  19. trên, để chuẩn bị ý kiến EFSA sẽ phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền trong nước thực hiện đánh giá rủi ro môi trường phù hợp với Chỉ thị 2001/18/EC. Khi chất liệu lấy từ cây trồng được sử dụng làm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi nằm trong phạm vi Quy định (EC) 1829/2003, giống cây trồng sẽ được chấp nhận để đưa vào danh mục giống chung chỉ khi nào giống được thông qua phù hợp với Quy định này. Cấp giấy phép theo Quy định (EC) 1829/2003 sẽ không có ảnh hưởng gì đến những Chỉ thị đặc biệt đưa ra cá quy luật và tiêu chuẩn chấp nhận các giống và chính thức chấp nhận để đưa vào danh mục chung, nếu không những danh mục đó sẽ không ảnh hưởng đến các điều khoản của Chỉ thị quy định chứng nhận và tiếp thị những hạt giống và các chất nhân giống cây trồng. Chất phụ gia và gia vị để sử dụng cho thực phẩm Việc cấp giấy phép cho các chất phụ gia thực phẩm được quy định theo Chỉ thị 89/107/EC về đánh giá luật của Các nước Thành viên liên quan đến chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng để con người tiêu thụ (EC, 1989). Hương vị được quy định theo Chỉ thị 88/388/EEC về việc đánh giá luật của các Nước thành viên liên quan đến gia vị sử dụng trong thực phẩm và tìm nguồn tài liệu để sản (EC, 1988). Ngoài ra, chất phụ gia thực phẩm và gia vị có chứa hoặc được sản xuất từ sinh vật biến đổi gen nằm trong phạm quy định (EC) 1829/2003 đánh giá an toàn biến đổi gen. Chất phụ gia thực phẩm và một số sản phẩm trong dinh dưỡng động vật. Đưa ra thị trường chất phụ gia thực phẩm/thức ăn chăn nuôi được câp phép theo Chỉ thị Directive 70/524/EEC (EC, 1970) mà từ ngày 18 tháng 10 năm 2004 sẽ bị bãi bỏ bởi Quy định (EC) 1831/2003 về chất phụ gia sử dụng dinh dưỡng động vật (EC, 2003c). Ngoài ra, chất phụ gia thực phẩm có chứa hoặc được sản xuất từ sinh vật biến đổi gen nằm trong phạm vị của Quy định (EC) 1829/2003 về đánh giá mức độ an toàn của sinh vật biến đổi gen. Chỉ thị 82/471/EEC liên quan đến một số sản phẩm được sử dụng làm dinh dưỡng của động vật sẽ cấp giấy phép cho các thực phẩm sử dụng các kỹ thuật khác nhau có thể gây ra các mối rủi ro đối với sức khoẻ con người và động vật và môi trường. Nếu những sản phẩm này có chứa hoặc được sản xuất từ các sinh vật biến đổi gen thì sẽ phải nằm trong phạm vi của Quy định (EC) 1829/2003. Tác động giữa Quy định (EC) 1829/2003 và luật về chất phụ gia và hương vị để sử dụng cho thực phẩm, các chất phụ gia thực phẩm và một số sản phẩm được sử dụng trong dinh dưỡng động vật. 19
  20. Cây trồng biến đổi gen được sử dụng như một nguồn thực phẩm, người nộp đơn sẽ phải thực hiện quy định cụ thể và chỉ dẫn tương ứng, nếu có sẵn. Những chỉ dẫn này hiện có sẵn đối với các chất phụ gia thực phẩm (SCF, 1992; 2001a, b) và phụ gia thực phẩm. (Chỉ thị 2001/79/EEC, EC, 2001c; SCAN, 2001). Để thuận lợiđánh giá biến đổi gen, bên nộp đơn sẽ phải thực hiện một số phần thích hợp về tài liệu hướng dẫn hiện nay. II. CHIẾN LƯỢC ĐÁNH GIÁ RỦI RO 1. Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro có thể được mô tả là “một quá trình đánh giá xác định những sự không chắc chắn, khả năng và tính nghiêm trọng của sự kiện/tác động tiêu cực xảy ra đối với con người hoặc môi trường sau khi phơi nhiễm với (các) nguồn gây rủi ro theo các điều kiện xác định” (EC, 2000a). Đánh giá rủi ro bao gồm xác định nguy cơ, mô tả nguy cơ, đánh giá phơi nhiễm và mô tả rủi ro (EC, 2002c, Codex Alimentarius, 2001). Các bước đánh giá rủi ro GMOs xác định những đặc điểm có thể gây ra ảnh hưởng bất lợi, dự đoán những hậu quả quả tiềm tàng, đánh giá khả năng xảy ra và ước tính rủi ro do các đặc điểm đã xác định của GMOs gây ra. (EC, 2002a). 2. Cách tiếp cận so sánh Chiến lược đánh giá rủi ro đối với GMOs là thực hiện các biện pháp phù hợp để so sánh GMO và sản phẩm có nguồn gốc biến đổi gen với sinh vật không biến đổi gen. Lập luận phía sau đánh giá so sánh này đối với thực vật GM là những cây trồng được canh tác theo truyền thống có lịch sử sử dụng an toàn đối với người tiêu thụ thông thường hoặc động vật và môi trường. Những cây trồng này là cơ sở để đánh giá an toàn môi trường và thực phẩm/thức ăn chăn nuôi của GMOs. Để đạt được mục đích này, quan niệm về tính tương đồng và tương đối do OECD phát triển (OECD, 1993a; OECD, 1993b) và được soạn thảo tiếp bởi WHO/FAO (WHO/FAO, 2000) để đánh giá về an toàn môi trường và thực phẩm của GMOs. Sự so sánh này là điểm xuất phát về đánh giá mức độ an toàn tập trung vào an toàn môi trường hoặc thực phẩm/thức ăn chăn nuôi và ảnh hưởng về dinh dưỡng của bất kỳ khác biệt không mong muốn nào được xác định. Việc chèn gen và phần khác của DNA từ sinh vật nhận vào trong vật chủ chắc chắn sẽ tạo ra một cây trồng không giống với bố mẹ. Do đó, đánh giá rủi ro không chỉ tập trung vào biến đổi theo ý muốn mà còn tập trung vào kết quả quá trình biến đổi gen 20
  21. sử dụng đối tượng sánh phù hợp. Vì vậy, đánh giá an toàn GMOs gồm 2 bước, ví dụ: phân tích so sánh để xác định sự khác biết, bằng cách đánh giá an toàn môi trường và thực phẩm/thức ăn chăn nuôi hoặc ảnh hưởng về dinh dưỡng của các khác biệt đã được định rõ, kể cả những khác biệt có chủ ý hay không có chủ ý. Quan điểm về sự tương đồng Quan điểm về sự tương đồng thực tế dựa vào thực tế hầu hết thực vật GM được phát triển từ các sinh vật như cây trồng, sinh vật được nghiên cứu. Trong bản đánh giá rủi ro, việc sử dụng các kiến thức, kinh nghiệm và dùng cây trồng không biến đổi gen làm đối tượng so sánh của cây trồng GM để nhấn mạnh sự khác biệt do biến đổi gen và sử dụng cho việc quản lý các cây trồng GM sau này là thích hợp. Sự tương đồng cũng được tìm thấy từ kiến thức và kinh nghiệm đã có khi phân tích rủi ro trước lúc đưa ra một dòng cây mới hoặc trồng cây trong môi trường đặc biệt (OECD, 1993a), và từ những ứng dụng trước đây đối với các tính trạng tương tự ở cây trồng tương tự hoặc khác biệt. Đánh giá rủi ro phải xác định rõ ràng sự khác biệt giữa cây trồng biến đổi gen và không biến đổi gen, kể cả việc quản lý và sử dụng chúng và tâp trung vào ý nghĩa và ảnh hưởng của những khác biệt này. Quan điểm về tương đương cơ bản Quan điểm về sự tương đồng bền vững được dựa trên ý tưởng sinh vật hiện được sử dụng làm thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi có lịch sử sử dụng an toàn, có thể là vật so sánh khi đánh giá mức độ an toàn của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi biến đổi gen (OECD, 1993b; EC, 1997b). Việc ứng dụng quan điểm này, cũng được coi là đánh giá an toàn so sánh (Kok và Kuiper, 2003), đáp ứng mục đích xác định những điểm tương đồng và khác biệt vốn có giữa cây trồng biến đổi gen và cây trồng không biến đổi gen, sau này được đánh giá theo ảnh hưởng độc và dinh dưỡng đối với con người và động vật. Bước tiếp cận đầu tiên là phân tích so sánh các đặc điểm phân tử, nông học và hình thái cũng như thành phần hóa học của sinh vật đang nói đến. Các so sánh như vậy giữa sinh vật biến đổi gen và sinh vật không biến đổi gen cần thực hiện trong cùng chế độ và điều kiện môi trường. Kết quả phân tích so sánh sẽ củng cố cấu trúc phần hai của thủ tục đánh giá bao gồm kiểm tra dinh dưỡng và an toàn cụ thể. Cách tiếp cận này là một bằng chứng về việc liệu cây trồng biến đổi gen hay có nguồn gốc biến đổi gen có an toàn như cây trồng truyền thống hay không. Khi không thể xác định được vật so sánh phù hợp, đánh giá an toàn so sánh không thể được đưa ra và đánh giá an toàn và dinh dưỡng toàn diện cây trồng GM cần được thực hiện. Ví dụ, (các) tính trạng được đưa ra có làm thay đổi cơ bản thành phần cây trồng hay không. Những tác động có chủ đích và không có chủ đích 21
  22. Những tác động có chủ đích là những tác động xảy do đưa (các) gen còn đang xem xét và khi thực hiện mục tiêu ban đầu của quá trình biến đổi gen. Những thay đổi về kiểu hình có thể được xác định thông qua phân tích so sánh tốc độ phát triển, năng suất, khả năng chống bệnh tật. Những thay đổi mong đợi trong thành phần thực vật GM được so sánh với cây trồng truyền thống, ví dụ: cây trồng bố mẹ, có thể được xác định bằng cách đánh giá các hợp chất đơn giản như protein biểu hiện mới, chất dinh dưỡng vĩ mô và vi mô (cách tiếp cận được đặt mục tiêu). Phương pháp phát hiện phân tích được dùng phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và phê chuẩn. Những tác động không mong muốn là những khác biệt giữa thực vật GM dòng đối chứng phù hợp của chúng, nằm ngoài (các) tác động mong muốn ban đầu của việc chuyển (các) gen đích. (Những) tác động không mong muốn có thể liên quan đến sự sắp xếp lại gen hoặc rối loạn trao đổi chất. Những tác động này rất rõ trong kiểu hình hoặc thành phần của thực vật GM khi được trồng làm đối chứng trong cùng điều kiện. Những tác động không mong muốn được có thể được dự đoán trước và được giải thích theo kiến thức hiện nay về sinh học và tích hợp đường mòn trao đổi chất và gắn kết với nhau. Xuất phát điểm để xác định những tác động tiềm tàng không dự tính trước được là phân tích những khu vực trao đổi thông tin di truyền để xác định vật đưa váo có ảnh hưởng đến chức năng của gen nội sinh dự đoán trước được không . Hơn nữa, phân tích so sánh và có mục tiêu cần được tiến hành ngoài những hợp chất đơn lẻ trong sinh vật biến đổi gen và sinh vật thường và có thành phần trao đổi chất quan trọng trong sinh vật. Những thành phần này bao gồm các chất dinh dưỡng vĩ mô, vi mô và chất chuyển hoá cũng như chống lại các chất dinh dưỡng và độc tố. Những khác biệt lớn về mặt thống kê giữa bố mẹ và dòng sinh vật biến đổi gen không phải là do biến đổi không dự tính được trước, mà là sự xuất hiện của những tác động không được dự tính trước và nên đánh giá một cách cụ thể về mức độ an toàn, ảnh hưởng dinh dưỡng và ảnh hưởng môi trường. 22
  23. 3. Đánh giá và quản lý rủi ro của môi trường Rủi ro do sự thiệt hại của môi trường8 (EC, 2004c; ACRE, 2002b) gây ra bởi cây GM và sự quản lý nó đòi hỏi sự đánh giá so sánh với cây bình thường tương đương. Không phải tất cả các yêu cầu trong đánh giá và quản lý rủi ro của môi trường đều có thể áp dụng được cho mọi trường hợp. Thông tin khoa học về các ảnh hưởng của môi trường có liên quan đến việc trồng trọt có thể không cần thiết, chẳng hạn trong trường hợp nếu phạm vi của hồ sơ chỉ liên quan đến việc nhập khẩu. Việc đánh giá rủi ro của môi trường có thể được quản lý theo bậc (Wilkinson và cs., 2003): Bậc 1. Xác định nguy cơ: Phương pháp này nhằm xếp các sinh vật vào các mức độ cao của thực vật GM và các sản phẩm của nó với mục đích xác định những ảnh hưởng bất lợi tiềm ẩn và khu hệ sinh vật không phải sinh vật đích chịu tác động trực tiếp từ thực vật GM và các sản phẩm của chúng. Các nghiên cứu này thường được 8 Theo Chỉ thị 2004/35/EC về trách nhiệm pháp lý đối với môi trường (EC 2004c), Tổn hại đối với môi trường có liên quan đến những ảnh hướng đối với các loài được bảo vệ và nơi sống tự nhiên của chúng, tức là bất kỳ tổn hại đáng kể nào đến việc đạt được hoặc duy trì trạng thái bảo tồn có lợi cho những nơi sống hay các loài đó. Ý nghĩa của các ảnh hưởng này được đánh giá và được liệt kê trong Phụ lục I của Chỉ thị này; - Nước, khi là một tổn hại nào có tác động bất lợi đáng kể đến hệ sinh thái, chất hóa học và/hoặc trạng thái số lượng và/hoặc tiềm năng sinh thái; - Đất, khi là một sự ô nhiễm đất bất kỳ gây ra rủi ro đáng kể đối với sức khỏe con người bằng việc gián tiếp hoặc trực tiếp đưa vào trong, trên hay dưới lòng đất các vật chất, các sinh vật hoặc vi sinh vật. Ý nghĩa của bất kỳ thiệt hại nào đều cần được đánh giá bằng cách tham khảo trạng thái bảo tồn tại thời điểm bị thiệt hại, sự phối giống và khả năng tái sinh tự nhiên. Các thay đổi bất lợi đáng kể đối với điều kiện giới hạn cần được xác định bởi các số liệu đo lường mà Chỉ thị cung cấp chi tiết. Tuy nhiên, thiệt hại đáng kể không có nghĩa là các thay đổi âm tính nhỏ hơn những biến đổi tự nhiên được cho là bình thường đối với các loài hoặc nơi sống đang được đề cập đến, các thay đổi âm tính do những nguyên nhân tự nhiên hoặc do sự can thiệp liên quan đến việc quản lý thông thường ở tại các vị trí, như đã định nghĩa trong hồ sơ về môi trường sống hoặc các tài liệu đích hoặc do người sở hữu hoặc người điều hành thực hiện trước đó, nguy hại với các loài hoặc nơi sống đã được củng cố rằng chúng sẽ được phục hồi, trong một khoảng thời gian ngắn và không có sự can thiệp nào dù đối với điều kiện giới hạn hoặc với điều kiện chỉ gây ra các động lực của loài hoặc nơi sống của chúng, đến một điều kiện được cho là tương đương hoặc tốt hơn điều kiện giới hạn. 23
  24. quản lý bởi phòng thí nghiệm tiêu chuẩn hoặc các điều kiện sinh trưởng trong phòng nhằm xác định số lượng các ảnh hưởng theo các mức rủi ro đã biết. Bậc 2. Những ảnh hưởng tới bậc dinh dưỡng: Phương pháp này nhằm nghiên cứu những ảnh hưởng gián tiếp của thực vật GM đối với các sinh vật không trực tiếp tiêu thụ thực vật GM nhưng tiêu thụ cách GMP một hoặc hai mắt xích trong chuỗi thức ăn (như động vật ăn thịt và sinh vật kí sinh trên các động vật ăn cỏ). Các nghiên cứu này cũng thường được quản lý bởi các phòng thí nghiệm tiêu chuẩn, các điều kiện của phòng sinh trưởng hoặc nhà kính nhằm đánh giá những ảnh hưởng đó trong mối liên quan đến các mức rủi ro đã biết. Bậc 3. Nghiên cứu phơi nhiễm: khảo nghiệm đồng ruộng được xây dựng, đồng thời với việc trồng các thực vật GM nhằm xác định cụ thể mức phơi nhiễm thực tế của các khu hệ sinh vật và xác định các tác động có hại đến hệ sinh thái do thực vật GM gây ra và việc quản lý chúng, so với các cây bình thường tương đương và sự quản lý chúng. Bậc 1 và 2 xác định các rủi ro tiềm ẩn còn bậc 3 xác định các mức phơi nhiễm có khả năng xảy ra, vì thế có thể đánh giá rủi ro thực tế. Giám sát: Đánh giá rủi ro của môi trường được thừa nhận là có giá trị chỉ khi kiến thức khoa học được sử dụng tại thời điểm đó được thừa nhận. Vì thế, theo luật pháp EU hiện hành, các đánh giá rủi ro của môi trường cần xác định các vùng có rủi ro và phạm vi đánh giá rủi ro. Các vùng này bao gồm cả các yếu tố như tác động của sự phơi nhiễm trên phạm vi lớn ở các môi trường khác nhau khi thực vật GM được thương mại hóa, các tác động của sự phơi nhiễm trong thời gian dài. Văn bản luật này đòi hỏi kế hoạch giám sát những ảnh hưởng này phải có trong hồ sơ, nếu các vùng này đã được xác định trong bước đánh giá rủi ro. Các kinh nghiệm và kiến thức khoa học có được khi giám sát thực vật GM sẽ cho biết quá trình đánh giá rủi ro. Vì thế, các kết quả này là cơ hội để cập nhật liên tục các đánh giá rủi ro với môi trường theo bất kỳ kiến thức mới nào. 4. Các vấn đề cần quan tâm Việc đánh giá rủi ro của thực vật GM và sản phẩm của nó cần tính đến những điều dưới đây: đặc điểm của sinh vật cho và sinh vật nhận; quá trình biến đổi gen và các kết quả về chức năng của chúng; tác động tiềm ẩn của môi trường; 24
  25. các đặc điểm nông học; độc tính và tính chất gây dị ứng tiềm ẩn của các sản phẩm của gen biến đổi, các quá trình trao đổi ở thực vật nói chung và của toàn bộ thực vật GM; các đặc trưng về thành phần, dinh dưỡng; ảnh hưởng của quá trình chế biến đối với đặc tính của thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi; khả năng thay đổi chế độ ăn uống; khả năng ảnh hưởng lâu dài của nguồn dinh dưỡng; tác động có chủ đích và không có chủ đích do biến nạp gen gây ra. 5. Các khuyến cáo chung Đánh giá rủi ro sẽ đơn giản hơn khi các gen không phải là đối tượng của biến nạp đích không xuất hiện trong thực vật GM. Người nộp hồ sơ được khuyến khích phát triển, để thương mại hóa, các dòng cây chuyển gen trong đó chỉ có DNA cần thiết cho việc biến đổi tính trạng mong muốn mới được chuyển vào cây (ACRE, 2002a). Việc lựa chọn một gen chỉ thị cụ thể nên được xem xét kỹ lưỡng do cần có một lượng thông tin lớn để đánh giá rủi ro. Cần quan tâm đặc biệt đến việc sử dụng các gen chỉ thị được cho là có khả năng kháng các nhóm kháng sinh dùng để chữa bệnh (EFSA, 2004). Ở bước đầu tiên trong quá trình phát triển thực vật GM, một số chiến lược sẵn có được đánh giá là thực tiễn nhất trong việc giảm thiểu các rủi ro tiềm ẩn đã biết và để tránh những rủi ro không mong muốn trong môi trường (ACRE, 2001a). Mục đích chung là giảm thiểu sự phơi nhiễm trong môi trường và các rủi ro tiềm ẩn của các gen được chuyển và sản phẩm của chúng. Ba cách tiếp cận cơ bản sau có thể đạt được mục đích này: tránh hoặc giảm thiểu sự xuất hiện của các gen hoặc các trình tự không cần thiết; tránh hoặc giảm thiểu sự biểu hiện không cần thiết của gen đó; tránh hoặc giảm thiểu sự phát tán các gen được chuyển trong môi trường. 6. Chiến lược phát triển sắp tới Để tăng khả năng phát hiện những ảnh hưởng không mong muốn do quá trình biến đổi gen trên các sinh vật mang lại, những kỹ thuật sửa đổi như sao mã, các kỹ thuật protein và các kỹ thuật về chuyển hóa có khả năng mở rộng các phép phân tích so sánh (EC, 2000b; Kuiper và cs., 2001; 2003; Cellini và cs., 2004; ILSI, 2004). Việc sử dụng và áp dụng cá kỹ thuật này vào việc phát hiện gen bị biến đổi hay sự biểu hiện của protein và thành phần các chất trao đổi trong cây GM phải được nghiên 25
  26. cứu cẩn thận bởi các dự án nghiên cứu cụ thể đã được tài trợ, chẳng hạn bởi EU FP5 (dự án GMOCARE9) và Cơ quan tiêu chuẩn thức ăn Vương quốc Anh (the UK Food Standards Agency) (chương trình nghiên cứu GO210). Tính hữu dụng và khả năng ứng dụng các kỹ thuật này để phát hiện sự thay đổi gen và biểu hiện protein trong thực vật GM được quan sát kỹ lưỡng trong những dự án nghiên cứu đặc biệt được đầu tư, ví dụ, bởi EU FP5 (dự án GMOCARE) và Cơ quan Tiêu chuẩn thực phẩm UK (chương trình nghiên cứu GO2)10. Đã chứng minh được khả năng ứng dụng của các kỹ thuật về chuyển hóa như phương pháp sắc kí khí đi kèm với phép đo phổ khối lượng (GC-MS), và sắc kí lỏng (HPLC) đi kèm với phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), để phân tích đồng thời các quá trình chuyển hóa trong thực vật GM và cây truyền thống tương đương. Những cách tiếp cận gián tiếp này có thể khá phù hợp với thực vật GM có những con đường trao đổi các chất cụ thể đã bị biến đổi, chẳng hạn chúng sẽ dẫn đến sự tăng cường các chất dinh dưỡng được có được khi chèn một hoặc nhiều gen. Nghiên cứu sâu hơn các phương pháp xét nghiệm cần được tiến hành đối với việc đánh giá đặc trưng và tính mẫn cẩm. Những mục đích xét nghiệm không nhằm mục đích thay thế các phân tích truyền thống nhưng chúng có thể có ích khi củng cố và bổ sung các dữ liệu khác. III. Các thông tin cần có trong hồ sơ thực vật GM và/hoặc thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật GM11 A. Thông tin chung 1. Tên và địa chỉ người nộp hồ sơ (công ty hoặc viện nghiên cứu) 9 10 ame 11 Các vấn đề trên không áp dụng cho mọi trượng hợp. Trong trường hợp một điều khoản không áp dụng cho một hồ sơ nào đó, lý do phải được đưa ra. 26
  27. 2. Tên, bằng cấp và kinh nghiệm của (các) nhà khoa học chịu trách nhiệm và địa chỉ liên hệ cụ thể với người chịu trách nhiệm về mọi giao dịch với EFSA 3. Tên của dự án 4 Phạm vi của hồ sơ như được mô tả trong Phụ lục II 5 Đặt tên và chỉ rõ đặc điểm của thực vật GM và/hoặc các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật GM 6 Bản mô tả chi tiết các phương pháp sản xuất được yêu cầu ở nơi thích hợp hoặc có liên quan đến đánh giá rủi ro và chúng có thể bao gồm: mô tả những phương pháp dùng để chế biến nguyên liệu thực vật GM khi chuẩn bị thực phẩm/thức ăn chăn nuôi, các thành phần, chất phụ gia trong thực phẩm/thức ăn chăn nuôi hoặc hương liệu thực phẩm. 7 Khi thích hợp, cần chỉ ra các điều kiện cụ thể về sử dụng và buôn bán để đưa thực phẩm/thức ăn chăn nuôi hoặc các sản phẩm từ chúng ra thị trường. B. Thông tin liên quan đến vật nhận hoặc các cây bố mẹ Thông tin liên quan đến vật nhận hoặc liên quan đến các cây bố mẹ cần bao gồm sự phân loại mới nhất và có thể được dùng để nhận biết các phân tích cụ thể cần thiết như: sự xuất hiện đã biết trong họ của các chất độc đặc trưng thường biểu hiện ở mức thấp trong các loài nhận không biến đổi gen, nhưng có thể tăng lên không chủ định sau quá trình biến đổi gen. Cần cung cấp thông tin về mọi vấn đề có thể liên quan như sự xuất hiện các độc tố tự nhiên, các chất gây dị ứng hoặc các yếu tố độc hại. Các số liệu về việc sử dụng sinh vật cho và nhận trước đó cũng cần được cung cấp. Thông tin được yêu cầu đưa ra theo các đề mục sau: Tên đầy đủ; (a) họ, (b) giống, (c) loài, (d) phân loài, (e) giống hoặc dòng vật nuôi/cây trồng, (f) tên thông dụng. (a) Thông tin liên quan đến quá trình sinh sản: (i) (các) phương thức sinh sản, (ii) các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến sự sinh sản (nếu có), (iii) thời gian sống của một thế hệ; (b) Tính tương hợp giới tính với các giống khác hoặc các loài thực vật hoang dại. Khả năng sống sót; (a) khả năng hình thành các cấu trúc sống hoặc cho trạng thái ngủ, (b) các yếu tố đặc trưng (nếu có) ảnh hưởng đến khả năng sống sót. Sự phổ biến; (a) các cách và phạm vi của việc phổ biến (ví dụ, đánh giá xem bằng cách nào hạt phấn phát triển độc lập và/hoặc hạt giống suy giảm theo khoảng cách), (b) các yếu tố đặc biệt ảnh hưởng đến sự phổ biến, nếu có. 27
  28. Sự phân bố địa lý và canh tác của cây trồng, bao gồm sự phân bố các loài tương hợp giới tính ở châu Âu. Trong trường hợp một loài thực vật không được trồng trong (các) Bang thành viên, bản mô tả nơi sống tự nhiên của loài thực vật đó, bao gồm thông tin về động vật ăn thịt tự nhiên, vật ký sinh, kẻ thù và vật cộng sinh. Các tương tác tiềm ẩn khác của thực vật GM với các sinh vật khác trong hệ sinh thái nơi nó thường được trồng hoặc sử dụng, bao gồm thông tin về tác động độc tính lên con người, động vật và các sinh vật khác. C. Thông tin liên quan đến việc biến đổi gen Các yêu cầu đối với số liệu phân tử cũng giống như với các hồ sơ theo Hướng dẫn 2001/18/EC đối với đưa ra thị trường (Phần C) và đánh giá thực phẩm GM và thức ăn cho gia súc GM. 1. Mô tả các phương pháp dùng cho việc biến đổi gen Phương pháp biến đổi gen nên được mô tả chi tiết và các tài liệu tham khảo liên quan đến phương pháp biến đổi gen cũng cần được cung cấp. Phương pháp biến nạp qua trung gian Agrobacterium dùng trong quá trình biến đổi gen cần được chỉ ra và phải bao gồm thông tin hoặc các tài liệu tham khảo về vector Ti/Ri plasmid được thiết kế như thế nào. Đối với những phương pháp biến đổi gen sử dụng plasmid, cần mô tả chi tiết về các plasmid này. Phải chỉ ra nguồn và đánh giá rủi ro của vật mang ADN nếu nó được sử dụng khi biến nạp. 2. Nguồn và bản chất của vector đã sử dụng Bản đồ gen và bản đồ vật lý phải chỉ ra vị trí của tất cả các yếu tố chức năng và các thành phần khác của vector, vị trí cắt giới hạn được chọn lọc cho việc tạo các mẫu dò và vị trí, trình tự mồi sử dụng trong phân tích PCR. Bảng nhận dạng các thành phần, kích thước, nguồn gốc và vai trò phải được kèm theo bản đồ. Vùng dự kiến cho đoạn chèn phải được chỉ ra rõ ràng. 3 Nguồn của vật cho ADN, kích thước và chức năng mong đợi của mỗi đoạn của vùng dự kiến cho đoạn chèn Cần cung cấp bản phân loại và định danh và lịch sử sử dụng của (các) sinh vật cho. Cần đưa ra trình tự hoàn chỉnh của đoạn ADN dùng để biến đổi gen. Đồng thời phải đề cập đến bản đồ/ bảng có những biến đổi ảnh hưởng đến trình tự amino acid trong sản phẩm của gen đưa vào. Bản đánh giá rủi ro các thay đổi này cũng cần được cung cấp. 28
  29. D. Thông tin liên quan đến thực vật biến đổi gen 1. Mô tả (các) tính trạng và đặc tính được đưa vào hoặc biến đổi Cần có bản mô tả các tính trạng và thay đổi đối với kiểu hình thực vật. Các biến đổi kiểu hình cần được đánh giá cùng với đối tượng thực vật so sánh không biến đổi gen. Tính trạng đích cũng như độ nhạy của các tính trạng không mong muốn nên được chỉ ra. Mục đích của việc biến đổi gen và sử dụng cây trồng GM cần được mô tả cùng với các thay đổi trong thành phần cây trồng, trong việc quản lý, canh tác, phát triển, các vùng địa lý và việc sử dụng. 2. Thông tin về các trình tự được chèn hoặc bị loại bỏ Người nộp hồ sơ phải cung cấp các thông tin về: kích thước và số lượng bản sao (hoàn chỉnh hoặc một phần) của tất cả các đoạn chèn có thể nhận biết và thường được phát hiện bằng phân tích Southern. Các mẫu dò dùng trong mục đích này nên cung cấp trình tự hoàn chỉnh có thể được chèn vào cây chủ, ví dụ, bất kỳ phần nào của vector hoặc các vật mang hoặc ADN ngoại lại tồn tại trong thực vật GM. cấu tạo của vật liệu di truyền được chèn vào vị chí của đoạn chèn và các phương pháp sử dụng để mô tả đặc điểm. kích thước và chức năng của (các) vùng loại bỏ gen trong trường hợp loại bỏ (các) đoạn gen. (các) vị trí dưới mức tế bào của đoạn chèn (nhân, nhiễm sắc thể, ty thể hoặc được duy trì ở trạng thái không hợp nhất) và các phương pháp để xác định chúng. Các mô hình di truyền tự thụ phấn hoặc giao phấn được dùng để củng cố rằng sự phân ly đã được dự đoán trước từ vị chí chèn. Người nộp hồ sơ cần chứng minh trình tự của đoạn chèn trong thực vật chính là trình tự định chèn qua biến nạp. Cần đưa ra một bản đánh giá rủi ro trong mọi thay đổi quan sát được dựa trên một mục thích hợp trong tài liệu hướng dẫn này. Khi xác định trình tự đoạn chèn, cần đọc sang cả trình tự gen cây nhận ở đầu 5' và 3' nhằm đáp ứng hai chức năng cơ bản sau: Thứ nhất, nó cung cấp thông tin về trình tự nhận biết duy nhất có thể được sử dụng để phát hiện việc chuyển gen đang đề cập đến (nguồn gốc). Thứ hai, số liệu về trình tự kéo dài giữa các gen có thể nhận biết đoạn 29
  30. chèn và bị ngắt quãng bởi khung đọc mở (ORF12) hoặc vùng điều khiển và/hoặc đoạn định chèn để tạo ra các protein khảm lạ. Nếu các khung đọc mở của các thể khảm tiềm ẩn được nhận biết, các phân tích tin sinh học cần được hướng dẫn để nghiên cứu khả năng tương đồng với độc tố hoặc chất gây dị ứng. Dựa vào thông tin đã tổng hợp, các phân tích sâu hơn là cần thiết để hoàn thiện thông tin cần cho đánh giá rủi ro đầy đủ. Ví dụ, số liệu về sao mã và/hoặc dịch mã có thể được yêu cầu để xác định xem có tổng hợp các protein lạ hay không. Ở đâu ADN ty thể hoặc lục lạp kéo dài đến đoạn chèn, số liệu về trình tự cần mở rộng vào bộ gen nhân của cây bố mẹ. Có thể chứng minh việc chèn đã thành công qua việc PCR nhân các trình tự kéo dài kề sát hoặc qua điểm chèn trong cây bố mẹ. Các tình huống có thể phát sinh ở những trình tự mở rộng của thể hạt/bào quan kéo dài đến các đoạn chèn nhưng không phải với những phân tích PCR không cho phép phân biệt giữa ADN có nguồn gốc ở nhân hoặc thể hạt/bào quan. Việc chọn lọc ADN tinh sạch từ một hoặc các thành phần dưới tế bào khác không bị nhiễm là rất khó khăn trên phương diện kỹ thuật. Vì thế, việc xác định trình tự các vùng kéo dài của ADN thể hạt/bào quan cần được yêu cầu dựa vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ, khi số liệu cho biết khả năng tạo ra các protein dung hợp. Khi chứng minh bằng số liệu sao mã/dịch mã rằng không có protein khảm nào được tạo ra, thì sẽ giảm đáng kể việc phải đọc trình tự đoạn kéo dài, đặc biệt là đọc sang phần trình tự bộ gen của cây chủ. Đối với các trình tự kéo dài, nhìn chung Hội đồng GMO hiểu rằng việc phân tích trình tự so sánh có thể không khả thi vì dữ liệu bộ gen của loài cây trồng đang đề cập đến là có hạn. Đồng thời, không phải tất cả các chức năng và/hoặc mô hình trình tự của các gen thực vật và các trình tự không mang mã (như vùng promtoter và vùng tăng cường) đã được biết đến. Vì vậy, thông tin trình tự đoạn kéo dài không cung cấp các bằng chứng rõ ràng cho sự an toàn nhưng có thể cơ bản hỗ trợ việc 12 Khung đọc mở 30
  31. đánh giá rủi ro. Do đó, việc xác định lại rằng hội đồng vẫn đánh giá rủi ro so sánh, như phân tích phân tử là cần thiết. Thông tin về các chính tự bao gồm cả đoạn mồi được dùng để phát hiện Khi kết hợp các bước đã thực hiện bằng cách lai tạo các dòng GM đã được phê chuẩn hoặc bằng cách biến nạp lại một trong những dòng hiện tại, việc phân tích phân tử sâu hơn sẽ phụ thuộc vào bản chất của việc biến đổi gen có trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, không có một lý do sinh học nào để cho rằng việc lai tạo giống truyền thống các dòng GM độc lập đã được phê chuẩn sẽ gây ra rủi ro do sự mất ổn định số lượng các bản sao và cấu trúc chèn. Các tác động bổ sung không dự đoán trước có thể phát sinh do tác động kết hợp của các gen kết hợp, ví dụ, trong những con đường trao đổi chất hóa sinh và trong các trường hợp cơ bản đòi hỏi phân tích so sánh thích hợp. Gen kết hợp do biến nạp lại biểu hiện các kết quả khác nhau và nên được xử lý như lần biến nạp trước để đánh giá rủi ro. 3. Thông tin về biểu hiện đoạn chèn (a) Thông tin về việc biểu hiện phát triển đoạn chèn trong chu trình sống của thực vật Thông tin cần có về sự biểu hiện phát triển cần được xem xét trong từng trường hợp cơ bản liên quan đến promoter đã sử dụng, hiệu quả mong muốn của việc biến đổi và tác động có thể xảy ra trên các sinh vật không phải sinh vật đích. Dạng thông tin này có thể liên quan cơ bản đến các khía cạnh an toàn môi trường. Số liệu về các mức biểu hiện từ các phần đó của thực vật được sử dụng cho thực phẩm/thức ăn chăn nuôi là cần thiết trong mọi trường hợp. (b) Các phần của thực vật nơi đoạn chèn được biểu hiện Người nộp hồ sơ cần biết rằng thông tin về biểu hiện trên thực vật của các yếu tố di truyền từ bất kỳ phần nào của đoạn ADN chèn vào là cần thiết khi rủi ro tiềm ẩn được phát hiện. Ở nơi các promoter đặc hiệu mô được sử dụng, thông tin về sự biểu hiện của các gen đích trong các phần tương đương khác của thực vật có thể được yêu cầu để đánh giá rủi ro. Cần cung cấp bằng chứng để chỉ ra việc biểu hiện (các) gen chèn vào là như mong muốn và ổn định trong mô đích. (c) Biểu hiện các protein dung hợp tiềm năng Sự tạo ra tiềm năng các protein dung hợp được biểu hiện mới cần được nghiên cứu bằng phân tích tin sinh và tình trạng thiếu bất kỳ protein dung hợp nào đã được chứng minh là có hại. Việc nghiên cứu các bản sao được biểu hiện mới là thích hợp khi phân tích tin sinh phát hiện ra protein dung hợp giả định. (d) Các phương pháp dùng để phân tích sự biểu hiện 31
  32. Phải cung cấp các phương pháp dùng để phân tích gen và sự biểu hiện protein. 4. Thông tin về sự khác biệt giữa GMP với thực vật nhận về: sinh sản, phát tán, sống sót Người nộp hồ sơ cần nhận biết được thực vật GM có khác với cây bố mẹ hoặc các cây không biến đổi gen cùng nguồn gốc về đặc điểm sinh học hay không. Phần này cũng cần có thông tin về các đặc tính sinh học ảnh hưởng đến sự phù hợp và độ nhạy môi trường (ví dụ, sự nhân lên, trạng thái ngủ, sự sống sót, sự phân tán, khả năng giao phối cùng giống, sự chống chịu stress và sự mẫn cảm với các tác nhân cụ thể). Thông tin được cung cấp cũng cần liên quan đến đánh giá rủi ro môi trường, gồm phản ứng với các sinh vật khác và môi trường (Mục III, D8, 9 và 10). 5. Sự ổn định di truyền của đoạn chèn và sự ổn định về kiểu hình của thực vật GM Người nộp hồ sơ phải cung cấp số liệu, từ số lượng đại diện các thế hệ (sinh sản sinh dưỡng hoặc hữu tính), đến việc chứng minh mô hình di truyền và sự ổn định của (các) tính trạng đưa vào (bao gồm sự biểu hiện các protein tương ứng dưới các điều kiện môi trường tiêu biểu). Số liệu cần được phân tích bằng các phương pháp thống kê thích hợp. 6. Thay đổi khả năng truyền gen cho của GMP các sinh vật khác (a) Chuyển gen từ thực vật sang vi khuẩn: Sự chuyển gen từ thực vật GM sang vi khuẩn và sự biểu hiện sau đó của gen chuyển được coi như sự kiện hiếm xảy ra dưới các điều kiện tự nhiên, nhất là khi không có áp lực chọn lọc và nếu không có các trình tự tương đồng. (Nielsen và cs., 1997). Tuy nhiên, vì có tái tổ hợp tương đồng nên rủi ro của việc chuyển gen, dung hợp và biểu hiện có thể tăng cường bởi sự có mặt của trình tự vi khuẩn trong đoạn ADN chèn của thực vật GM (Gebhard and Smalla, 1998). Do đó, cần giảm tối thiểu sự xuất hiện những trình tự này. Đoạn ADN chèn vào cần được đánh giá trong quá trình tăng cường khả năng chuyển gen (ví dụ, sự có mặt của các nguồn gốc sao chép hoặc các gen/trình tự có thể tăng cường khả năng tái tổ hợp). Ảnh hưởng có thể xảy ra (hậu quả) của một sự kiện như thế cần được đánh giá trong Mục III, D 7 về sức khỏe của người và động vật và trong Mục III, D 9 về môi trường, cụ thể, đặc biệt trên phương diện sửa chữa lâu dài vật liệu di truyền từ cây trồng GM trong tập hợp các vi khuẩn tự nhiên (Nielsen và Townsen, 2004). Phần này cũng liên quan đến các nhóm vi khuẩn khác. (b) Chuyển gen từ thực vật sang thực vật: 32
  33. Việc chuyển gen từ thực vật GM sang các thực vật tương đồng về sinh sản được coi là quá trình diễn ra tự nhiên (Ellstrand và cs., 1999). Tuy nhiên, (các) gen chèn vào có thể làm thay đổi tiềm năng của việc chuyển gen từ thực vật sang thực vật vì làm thay đổi các đặc điểm sinh học của hoa như kéo dài giai đoạn ra hoa, thu hút sự thụ phấn, thay đổi khả năng sinh sản. Vì vậy, đánh giá rủi ro cần bao gồm cả việc ước tính bất kỳ sự thay đổi mới nào đặc điểm sinh học của thực vật GM mà có thể làm tăng hoặc giảm tiềm năng chuyển gen từ thực vật sang thực vật. Ngoài ra, cần cung cấp các bằng chứng môi trường không tác động đến tần số giao phối. Những hậu quả phát sinh tiềm ẩn từ việc giao phối cần được đánh giá trong Mục III, D 9.3. Mọi rủi ro đối với sức khỏe con người và môi trường liên quan đến việc chuyển gen từ thực vật sang vi khuẩn hoặc từ thực vật sang thực vật phụ thuộc vào gen và tính trạng quan tâm. 7. Thông tin về độc tố, dị ứng và tác hại đến sức khỏe con người hoặc động vật do thực phẩm/thức ăn chăn nuôi biến đổi gen gây ra Đoạn gen được chèn trong thực vật GM cần được đánh giá về các tác động tiềm tàng đến sức khỏe con người và động vật. Ảnh hưởng của nó đến môi trường cũng được chỉ ra trong Mục III, D 9. Việc đánh giá tác động đến sức khỏe con người và động vật bao gồm khả năng chuyển gen từ thực vật sang vi khuẩn (dù hiếm) hoặc từ thực vật sang thực vật dùng làm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi. Đồng thời cần xem xét các khả năng chuyển gen tăng cường đã thông báo trong Mục III, D 6. Vì vậy, trong từng trường hợp, số liệu thí nghiệm đặc trưng của việc chuyển gen và hậu quả của nó có thể được yêu cầu. 7.1 Đánh giá so sánh Lựa chọn vật để so sánh Trong trường hợp cây trồng sinh sản sinh dưỡng, phân tích so sánh có thể bao gồm các giống không biến đổi gen cùng nguồn gốc sử dụng để tạo ra các dòng chuyển gen. Trong trường hợp cây trồng sinh sản hữu tính, vật để so sánh có thể là các dòng không biến đổi gen phù hợp về nguồn gốc di truyền. Vì rất nhiều cây trồng sử dụng để làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi đã được phát triển bằng lai ngược lại, nên trong những trường hợp đó, những thí nghiệm kiểm tra về hình thái, sự tương đồng về nông học và hóa học phải sử dụng các đối chứng thích hợp nhất và không chỉ dựa vào sự so sánh với các vật liệu không biến đổi gen dùng trong quá trình biến đổi gen. Ví dụ, các dòng bố mẹ không biến đổi gen có thể được dùng trong các phép lại để tạo ra sản phẩm cuối cùng. 33
  34. Việc đánh giá phạm vi tương đương sẽ được tăng cường bằng những so sánh về thành phần hợp lý giữa thực vật biến đổi gen và các giống thương mại của các loài cây trồng đang bàn đến (có lịch sử đã biết về sử dụng an toàn). Số liệu cho các giống thương mại sử dụng trong phép so sánh có thể do người nộp hồ sơ đưa ra và/hoặc biên soạn từ tài liệu. Cơ sở dữ liệu dùng để so sánh phải được định rõ. Tuy nhiên, số liệu trong tài liệu sử dụng phải được đánh giá thỏa đáng về chất lượng (ví dụ, các dạng vật liệu được phân tích, các phương pháp phân tích được sử dụng). Phạm vi cũng như các giá trị trung bình phải được báo cáo và xem xét. Các số liệu này sẽ chỉ ra liệu các dòng GM có rơi vào phạm vi tự nhiên tìm thấy trong các cây không biến đổi gen dùng để đối chiếu hay không. Các thành phần trong đất cũng có thể ảnh hưởng đến các mức hợp chất trong thực vật cần được xem xét khi so sánh số liệu phân tích từ các nghiên cứu đồng ruộng với các số liệu trong tài liệu. Khi các sự kiện được kết hợp bởi quá trình giao phối giữa các dòng GM, vật để so sánh thích hợp sẽ là cây không biến đổi gen tương ứng. Ngược lại, chẳng hạn đối với những cây trồng sinh sản sinh dưỡng, đối tượng để so sánh thích hợp là các dòng bố mẹ GM. 7.2 Tạo ra vật liệu cho việc đánh giá so sánh Ruộng thử nghiệm được dùng để tạo ra các vật liệu cho việc đánh giá so sánh được tiến hành với các cây trồng đối chứng và cây biến đổi gen và các phương pháp phải được chỉ rõ và chứng minh về các vấn đề sau: (a) số lượng các địa điểm, vụ mùa, dải địa lý và lặp lại Có thể thu được bộ số liệu cơ bản từ việc so sánh thực vật GM với dòng đối chứng thích hợp được trồng trên một đồng ruộng dưới các điều kiện so sánh. Cần thiết kế ruộng thử nghiệm để đạt được khả năng thống kế hiệu quả cho việc phát hiện các khác biệt. Khả năng thống kê thích hợp có thể đạt được từ đối chứng thích hợp của dạng biến dị và bản sao, vì khả năng phụ thuộc vào kích thước mẫu, mức độ biến dị ngẫu nhiên giữa các đơn vị thí nghiệm và mức ý nghĩa được lựa chọn của các kiểm tra. Quy mô và số lượng các thí nghiệm cần đủ để phản ánh được các thí nghiệm dưới điều kiện đồng ruộng trong một dải địa lý trong hơn một mùa vụ. Số lượng lặp lại ở mỗi vị trí cần phản ánh sự đa dạng di truyền của thực vật. Các thí nghiệm đồng ruộng cần được mô tả đầy đủ, cung cấp thông tin ở những thông số quan trọng như việc xử lý đồng ruộng trước khi gieo hạt, ngày gieo hạt, thời tiết và các điều kiện canh tác khác trong suốt quá trình sinh trưởng và thời gian thu hoạch, cũng như các điều kiện cất giữ các vật liệu thu hoạch. Trong trường hợp các thực vật GM kháng thuốc diệt cỏ, việc hạn chế các thực vật biến đổi gen phơi nhiễm thuốc diệt cỏ mong 34
  35. muốn và hạn chế không phơi nhiễm thuốc diệt cỏ. Thiết kế này cho phép đánh giá liệu điều kiện nông nghiệp mong đợi có ảnh hưởng đến việc biểu hiện các thông số nghiên cứu hay không. Sự so sánh giữa các thực vật GM và vật so sánh thích hợp nhất có thể thực hiện trên nhiều hơn một mùa vụ đại diện và đại diện đa vùng địa lý của môi trường đa dạng mà ở đó thực vật GM được canh tác. (b) mô hình thống kê để phân tích, khoảng tin cậy Thiết kế thí nghiệm phải chặt chẽ và phân tích số liệu phải được biểu hiện ở dạng rõ ràng, sử dụng các đơn vị khoa học tiêu chuẩn. Số liệu thử nghiệm đồng ruộng nên trình bày tách riêng và phải phân tích thống kê, sử dụng các công cụ thống kê thích hợp. Ví dụ, thiết kế khối hoàn chỉnh ngẫu nhiên hóa nên chỉ ra liệu các nhân tố thí nghiệm (vị trí, năm, điều kiện thời tiết, giống thực vật) có ảnh hưởng đến nhau không. Khoảng tin cậy sử dụng trong phân tích thống kê phải cụ thể (thường là 95% với những đánh giá có khả năng dựa trên rủi ro của các yếu tố so sánh). (c) vạch giới hạn dùng cho việc đánh giá biến dị tự nhiên Những khác biệt có ý nghĩa thống kê trong thành phần giữa cây trồng biến đổi gen và cây so sánh không biến đổi gen và được thu hoạch trong cùng điều kiện có thể dẫn đến điều tra nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự khác biệt đã nhận biết và quá trình biến đổi gen. Sự biến đổi ra ngoài phạm vi thông thường của các biến dị sẽ đòi hỏi đánh giá bổ sung để xác định các ý nghĩa sinh học. 7.3 Chọn lọc vật liệu và các hợp chất để phân tích Việc phân tích thành phần là quyết định khi so sánh sản phẩm thực vật/thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM với vật so sánh không biến đổi gen phù hợp nhất. Việc phân tích thường được thực hiện trên nông sản thô như thóc, do việc phân tích thường đưa ra các điểm chính của quá trình đưa vật liệu vào sản phẩm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi và dây truyền sản xuất. Phân tích bổ sung của các sản phẩm được chế biến (thực phẩm/thức ăn chăn nuôi, thành phần thức ăn, vật liệu trong thức ăn chăn nuôi, chất phụ gia thực phẩm/thức ăn chăn nuôi hoặc hương liệu cho thực phẩm), có thể được yêu cầu trong từng trường hợp cơ bản khi được chứng minh một cách khoa học (xem thêm Mục III, D 7.6). Tốt nhất, cần tiến hành các phân tích dựa vào các tiêu chuẩn chất lượng thích hợp. Việc chọn lọc các hợp chất cũng cần dựa vào các cân nhắc về dinh dưỡng. Trong mỗi trường hợp, các thành phần xấp xỉ (bao gồm độ ẩm và tro tổng số), các chất dinh dưỡng macro và micro chính, các hợp chất phi dinh dưỡng và các độc tố tự nhiên phải được xác định. Thông tin về các chất dinh dưỡng chính, các chất phi dinh dưỡng và các đặc tính độc tố với các loài cây trồng cụ thể và phạm vi biến dị 35
  36. tự nhiên của các hợp chất này được cung cấp trong tài liệu thống nhất của OECD, tài liệu này cũng có thể cung cấp thêm các hướng dẫn cho phân tích thành phần để xây dựng phạm vi thành phần tương đương (OECD a). Các chất dinh dưỡng chính là các thành phần có vai trò quan trọng trong khẩu phần dinh dưỡng, nghĩa là protein, carbonhydrate, chất béo, chất sơ, vitamin và chất khoáng. Các vitamin và chất khoáng để phân tích cần đạt được các mức có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng và/hoặc các mức tạo ra ý nghĩa về mặt dinh dưỡng để xây dựng nên khẩu phần dinh dưỡng mà thực vật có thể sử dụng. Các phân tích cụ thể sẽ phụ thuộc vào loài thực vật được kiểm tra, nhưng cũng có thể bao gồm đánh giá chi tiết thích hợp với mục đích của việc biến đổi gen, giá trị dinh dưỡng và việc sử dụng của thực vật. Ví dụ, thông tin của một acid béo cần có cả thực vật giàu chất béo (các acid béo bão hòa, không bão hòa đơn và không bão hòa đa) và thông tin của một amino acid (các amino acid protein và amino acid không thuộc protein chính) để thực vật sử dụng như một nguồn protein quan trọng. Đánh giá các thành phần cấu tạo thành tế bào thực vật về các phần sinh dưỡng của thực vật sử dụng cho mục đích làm thức ăn chăn nuôi cũng được yêu cầu. Các độc tố chính là những hợp chất vốn có mà mức độ độc tính có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và động vật. Nồng độ của những hợp chất đó nên được đánh giá dựa vào loài thực vật và mục đích sử dụng của sản phẩm thực phẩm/thức ăn cho gia súc (Holm, 1998). Tương tự, các hợp chất phi dinh dưỡng như chất ức chế enzyme tiêu hóa, và các chất gây dị ứng quan trọng đã được nhận biết phải được nghiên cứu. Các hợp chất khác ngoài các chất dinh dưỡng chính, các độc tố chính, các chất phi dinh dưỡng và chất gây dị ứng quan trọng đã được nhận biết bởi tài liệu thống nhất OECD có thể có trong các phân tích của từng trường hợp cơ bản. Vì thế, các tài liệu thống nhất OECD cung cấp danh sách tối thiểu các hợp chất để phân tích. Kiến thức về các đặc điểm đưa vào có thể dẫn đến những nghiên cứu về các hợp chất cụ thể. Ví dụ, nếu việc đưa 1 gen mà khả năng kháng thuốc diệt cỏ là tương đương về mặt chức năng với một gen hiện có trong tổng hợp amino acid thơm, phân tích định lượng protein và thành phần amino acid cần phải thận trọng. Nếu những thay đổi trong thành phần của các hợp chất trong thực vật GM liên quan đến vật để so sánh và/hoặc bất kỳ giống thương mại nào trên ruộng thử nghiệm được tìm thấy, thì mọi trao đổi chất xuôi dòng và các hậu quả về độc tố liên quan đến thực vật GM cần được đánh giá. Ở đâu thích hợp, cần được quan tâm đến phạm vi công bố các tham số được đánh giá. 36
  37. 7.4 Các đặc điểm nông học Phân tích về thành phần chỉ ra các thành phần chính của cách tiếp cận so sánh trong việc phát hiện các ảnh hưởng không mong muốn trong quá trình đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, ảnh hưởng không mong muốn cũng có thể bộc lộ qua những thay đổi trong tính mẫn cảm với các sâu bệnh chính, thông qua thay đổi hình thái và phát triển hoặc qua những đáp ứng đã thay đổi với các chế độ nông học và quản lý cây trồng. Vì vậy, việc so sánh giữa cây trồng GM và những vật so sánh thích hợp nhất của chúng cần chỉ ra các đặc điểm sinh học thực vật và các đặc điểm nông học bao gồm các thông số thông thường (ví dụ, hình thái thực vật, thời gian ra hoa, nhiệt độ ngày cho quá trình chín/trưởng thành, khoảng thời gian hạt phấn chín, đáp ứng với các nguồn bệnh thực vật và sâu bọ, tính mẫn cảm với các stress vô sinh). Các phương pháp trên ruộng thử nghiệm phải tuân theo các quy định theo mục III, D 7.2. 7.5 Đặc điểm của sản phẩm Đặc điểm về nguồn gốc và thành phần cấu tạo của thực vật GM và thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi GM cần để đảm bảo tính đồng nhất giữa các vật liệu được kiểm tra/đánh giá với vật liệu sử dụng cho sự phát triển của sản phẩm hoặc định hướng cho thị trường. Trong đề cương của bản mô tả đặc điểm, các thông số thích hợp nhất cho việc mô tả đặc điểm của sản phẩm từ những quan điểm an toàn và dinh dưỡng cần được xem xét. 7.6 Ảnh hưởng của quá trình chế biến Thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi từ thực vật GM có thể bao gồm các thành phần dinh dưỡng (ví dụ: dầu, bột mỳ, đường, syrup, thực phẩm bỏ lò, đậu phụ, đồ uống), vật liệu thức ăn chăn nuôi (ví dụ: thức ăn chăn nuôi có gluten ngô, syrup, dầu, tinh bột, đậu tương), phụ gia thực phẩm (ví dụ: lecithin), phụ gia trong thức ăn chăn nuôi (ví dụ: các enzyme, vitamin), hương liệu, và một số sản phẩm dùng trong dinh dưỡng động vật. Các hợp chất này có thể gồm từ các hợp chất đơn đến hỗn hợp các hợp chất. Trong tương lai, có thể biến đổi gen sẽ tăng các con đường trao đổi chất đích ảnh hưởng đến các thay đổi về nồng độ các chất không phải protein hoặc các quá trình chuyển hoá mới (ví dụ: các thực phẩm tăng cường dinh dưỡng, các thực phẩm chức năng). Ví dụ, quá trình chế biến bao gồm tạo silage, chiết dầu, tinh luyện hoặc lên men. Các sản phẩm được chế biến có thể được đánh giá cùng với việc đánh giá sự an toàn của việc biến đổi gen trong thực vật GM, hoặc các sản phẩm được chế biến có thể được đánh giá riêng biệt. Người nộp hồ sơ phải cung cấp các nhân tố cơ bản có tính 37
  38. khoa học để đánh giá an toàn các sản phẩm này. Trong từng trường hợp cơ bản, số liệu thí nghiệm cũng có thể được yêu cầu. Người nộp hồ sơ cần đánh giá liệu các kỹ thuật chế biến và/hoặc bảo quản có thể làm thay đổi các đặc tính của sản phẩm cuối cùng khi so với sản phẩm không biến đổi gen để đối chiếu hay không. Bản mô tả chi tiết về sự khác nhau của các kỹ thuật chế biến, quan tâm đặc biệt đến các bước có thể gây ra những thay đổi đáng kể đến chất lượng và độ tinh sạch của sản phẩm. Nếu cây trồng GM (hoặc các phần liên quan của nó) được coi là an toàn với người tiêu dùng, và không có lý do gì để nghi ngờ rằng các sản phẩm đó có thể khác với những sản phẩm truyền thống để đối chiếu, thì các kiểm tra về độc tính với các sản phẩm được chế biến là không cần thiết. Đây cũng là trường hợp khi sản phẩm được đánh giá riêng biệt và không có lý do gì để nghi ngờ nó khác với sản phẩm truyền thống dùng để đối chiếu (ví dụ: dầu từ hạt bông được bảo vệ khỏi côn trùng). Dựa vào sản phẩm, phải cung cấp thông tin về sự thành phần cấu tạo, mức độ vật chất không mong muốn, giá trị dinh dưỡng, sự trao đổi chất cũng như trong mục đích sử dụng. Người nộp hồ sơ cần đánh giá mọi rủi ro tiềm năng liên quan đến chuyển gen từ các sản phẩm được chế biến sang con người, động vật và môi trường, cần nguyên vẹn và ADN chức năng được duy trì sau quá trình chế biến. Phụ thuộc vào tính chất của (các) protein biểu hiện mới, việc đánh giá phạm vi mà mỗi bước của quá trình chế biến dẫn đến sự cô đặc hoặc bài tiết, biến tính và/hoặc thoái hóa (các) protein này trong sản phẩm cuối. Ở đâu không có vật so sánh thích hợp, việc đánh giá an toàn so sánh không được thực hiện và sự an toàn toàn diện và đánh giá về dinh dưỡng của sản phẩm có nguồn gốc từ cây trồng GM cần được thực hiện. Ví dụ, đây có thể là trường hợp một hoặc các đặc điểm được đưa vào với mục đích đem lại những thay đổi định tính/định lượng đáng kể về thông tin protein/ thông tin chuyển hóa. 7.7 Mức độ sử dụng Việc đánh giá lượng sử dụng mong muốn là cần thiết đối với đánh giá an toàn thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM và để đánh giá sự quan trọng của dinh dưỡng. Cần đưa ra các thông tin về chức năng mong đợi, vai trò về chế độ ăn uống của sản phẩm và các mức sử dụng mong muốn. Thông tin về sự phơi nhiễm đã biết hoặc dự đoán trước ở người/động vật đến các nguồn khác của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM tương đương từ các cách phơi nhiễm đến sản phẩm gen mới và các yếu tố cấu tạo, bao gồm số lượng, tần số xuất hiện và các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phơi nhiễm, cần được cung cấp. Trên cơ 38
  39. sở các số liệu tiêu thụ có sẵn, lượng sử dụng lớn nhất và trung bình dự đoán của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM cũng cần được đánh giá. Các phương pháp theo sắc xuất cũng có thể hữu ích để xác định phạm vi của các giá trị tin cậy hơn là các giá trị đơn lẻ hoặc các đánh giá điểm. Nếu có thể, các mục riêng của quần thể với mức phơi nhiễm cao mong đợi cần được nhận biết và có thể được coi như nằm trong đánh giá rủi ro. Cần cung cấp thông tin về bất kỳ lợi ích mong đợi nào và/hoặc các tác động xấu, cũng như bất kỳ bằng chứng khoa học nào về hiệu quả của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM đối với những tác động đã dự đoán tại mức đề nghị. Bất kỳ sự thừa nhận nào trong đánh giá sự phơi nhiễm đều cần phải mô tả. Số liệu về nhập khẩu và số lượng sản phẩm có thể cung cấp thông tin bổ sung cho việc đánh giá sự phơi nhiễm. Sự tập trung các sản phẩm gen mới và các sản phẩm thành phần hoặc sự biến đổi bởi việc biến đổi gen định trước (ví dụ: vì các thay đổi trong con đường trao đổi chất) ở các phần của thực vật GM được dự định làm thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi cần được xác định bằng các phương pháp thích hợp. Sự phơi nhiễm mong đợi các thành phần này phải được đánh giá quan tâm đến các ảnh hưởng của quá trình chế biến, tích trữ và xử lý mong đợi thực phẩm/thức ăn chăn nuôi đang bàn đến 7.8 Độc tính Độc học nghiên cứu đánh giá các rủi ro đối với sức khỏe con người và/hoặc động vật. Hầu hết các nghiên cứu đề xuất rằng đánh giá an toàn thực phẩm GM có liên quan đến đánh giá an toàn thức ăn chăn nuôi GM. Các phương pháp kiểm tra về cơ bản là giống nhau và yêu cầu một mức độ chất lượng số liệu. Những nghiên cứu đặc trưng cũng được yêu cầu để chỉ ra hiệu quả, giá trị dinh dưỡng hoặc chất bổ dưỡng của thức ăn chăn nuôi GM, ví dụ: nuôi thí nghiệm một số loài đích dài hạn, thông tin đạt được có thể cũng được sử dụng cho việc bảo hiểm bổ sung sự an toàn của GMO trong trường hợp con người tiêu dùng. Những yêu cầu của các thí nghiệm về độc tính trong đánh giá an toàn thực phẩm/thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ các thực vật GM phải được xem xét trong từng trường hợp cơ bản và sẽ được xác định bằng kết quả của đánh giá các khác biệt được phát hiện giữa sản phẩm GM và vật so sánh truyền thống của nó, bao gồm thông tin sẵn có về những thay đổi mong đợi. Vì vậy, thí nghiệm về độc tính không chỉ gồm các nghiên cứu về các protein được biểu hiện mới mà còn về kết quả của bất kỳ sự biến đổi gen nào (ví dụ: gen câm hoặc sự biểu hiện quá mức của một gen nội sinh). Nói chung, đánh giá rủi ro phải coi sự có mặt của protein mới biểu hiện như là kết quả của việc biến đổi gen, sự xuất hiện tiềm năng của các thành phần và/hoặc các thay đổi có thể xảy ra ở mức độ các thành phần tự nhiên vượt quá biến 39
  40. dị thông thường. Những chênh lệch tiềm năng từ các vật đối chiếu truyền thống có thể yêu cầu các cách tiếp cận về độc tính khác nhau và các mức độ kiểm tra khác nhau. Có thể có những trường hợp khi người nộp hồ sơ coi một quyết định về an toàn phải được thực hiện mà không có hướng dẫn về các thí nghiệm được đề xuất trong chương này và/hoặc những thí nghiệm khác thích hợp hơn. Trong những trường hợp như vậy, người nộp hồ sơ phải chỉ ra những lý do của việc không đệ trình các nghiên cứu được yêu cầu hoặc để tiến hành các nghiên cứu khác ngoài những nghiên cứu đề cập dưới đây. Các nghiên cứu về độc tính được tiến hành cần được hướng dẫn theo các phương pháp đã được quốc tế công nhận. Các phương pháp thí nghiệm được mô tả bởi OECD (OECD b) hoặc trong Hướng dẫn của Ủy ban Châu Âu mới nhất về các chất nguy hiểm được đề xuất (EC, 2002d). Việc sử dụng bất kỳ phương pháp nào khác với những phương pháp đó phải được chứng minh là thích hợp. Các nghiên cứu được tiến hành dựa theo những nguyên tắc cơ bản của Tiêu chuẩn Thực hành phòng thí nghiệm (GLP) được mô tả trong Quy chế Hội đồng 2004/10/EC (EC, 2004a) và được kèm theo bản tuyên bố về tuân thủ GLP. 7.8.1 Đánh giá an toàn các protein biểu hiện mới Các nghiên cứu yêu cầu để điều tra độc tính của protein biểu hiện mới phải được chọn lọc theo từng trường hợp cơ bản, phụ thuộc vào kiến thức sẵn có liên quan đến nguồn protein, chức năng/hoạt tính và lịch sử của người/động vật tiêu thụ. Trong trường hợp các protein được biểu hiện trong thực vật GM nơi mà cả protein thực vật và protein mới có lịch sử tiêu thụ an toàn bởi người và động vật, kiểm tra độc tính đặc trưng có thể không cần thiết. Để chứng minh sự an toàn của các protein biểu hiện mới, các thông tin sau là cần thiết: Các đặc điểm phân tử và hóa sinh của protein biểu hiện mới được yêu cầu để xác định trình tự bậc 1, khối lượng phân tử, các nghiên cứu về những biến đổi sau khi dịch mã và bản mô tả về chức năng. Trong trường hợp các enzyme biểu hiện mới, thông tin về các hoạt tính của enzyme chính và phụ là cần thiết bao gồm nhiệt độ và khoảng pH cho hoạt tính tối ưu, cơ chất đặc hiệu và các sản phẩm có thể của phản ứng. Sự ổn định của protein thực vật được biểu hiện cần được nghiên cứu theo các điều kiện chế biến và cất giữ và các xử lý mong muốn của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi. Các ảnh hưởng của nhiệt độ và thay đổi pH cũng thường được kiểm tra và (các) 40
  41. biến đổi tiềm năng của protein (nghĩa là biến tính) và/hoặc việc sản xuất những đoạn protein ổn định thông qua các xử lý như vậy cần được mô tả. Các số liệu về sự hạn chế các enzyme phân hủy protein biểu hiện mới (ví dụ: pepsin) cần được thực hiện, ví dụ: bằng các phương pháp kiểm tra in vitro sử dụng các kiểm tra phù hợp và đã được tiêu chuẩn hóa. Các sản phẩm phân hủy ổn định cần được mô tả và đánh giá về các rủi ro liên quan đến hoạt tính sinh học của chúng. Trong trường hợp các protein biểu hiện mới có cơ sở dữ liệu không đầy đủ, đặc biệt là nếu các số liệu sẵn có chỉ ra bất kỳ nguyên nhân nào liên quan đến các nghiên cứu độc tính đặc trưng cần được tiến hành. Các nghiên cứu lặp lại về lượng độc tính cũng cần được chỉ ra, trừ phi thông tin chính xác có thể được cung cấp để chứng minh sự an toàn của protein biểu hiện mới (bao gồm kiểu tác động của nó) và protein đó không có liên quan về mặt cấu trúc và chức năng với các protein có tiềm năng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và động vật. Thông thường, nghiên cứu độc tính qua đường miệng trong 28 ngày với protein biểu hiện mới ở chuột cũng cần được thực hiện dựa theo hướng dẫn OECD 407 (OECD, 1995). Phụ thuộc vào tác động của nghiên cứu độc tính 28 ngày, các nghiên cứu mục đích bổ sung có thể được yêu cầu, bao gồm một phân tích về độc tố miễn dịch. Nếu người nộp hồ sơ coi một quyết định về an toàn được tiến hành mà không có hướng dẫn về nghiên cứu liều lặp lại hoặc các kiểm tra khác thích hợp hơn, người nộp hồ sơ phải đưa ra các lý do giải thích cho việc này. Các phép kiểm tra protein cân bằng với protein biểu hiện mới giống như nó được biểu hiện trong thực vật GM là cần thiết. Nếu thiếu lượng cần thiết vật liệu để kiểm tra (ví dụ các protein thực vật), một protein từ vi sinh vật được dùng thay, sự tương đương về cấu trúc, hóa sinh và chức năng của các protein vi sinh vật thay thế protein thực vật biểu hiện mới phải được chứng minh. Ví dụ, các so sánh về khối lượng phân tử, điểm đẳng điện, trình tự amino acid, biến đổi sau dịch mã, phản ứng miễn dịch và trong trường hợp các enzyme, hoạt tính enzyme cũng cần thiết để cung cấp bằng chứng về sự tương đương. 7.8.2 Kiểm tra các thành phần mới khác ngoài protein Các thành phần mới được phát hiện khác ngoài protein cũng cần được đánh giá. Việc này có thể bao gồm các kiểm tra về độc tính trong từng trường hợp cơ bản, bao gồm một đánh giá về hiệu ứng và sự xuất hiện của độc tố trong thực phẩm/thức ăn 41
  42. chăn nuôi GM. Để chứng minh tính an toàn của chúng, thông tin tương tự với thông tin được đưa ra trong "Hướng dẫn đệ trình cho các đánh giá chất phụ gia thực phẩm bởi Ủy ban Khoa học về Thực phẩm" (SCF, 2001a) và Hướng dẫn 2001/79/EC (EC, 2001b) cũng cần thiết. Điều này ngụ ý đệ trình thông tin về các nghiên cứu nòng cốt và sự xem xét liệu các dạng khác của nghiên cứu có thể thích hợp hay không. Thông thường, nghiên cứu nòng cốt bao gồm thông tin về trao đổi chất/độc lực, độc tính, tính độc gen, tính độc kinh niên/ chất gây ung thư và sự sinh ra và phát triển của độc tính. 7.8.3 Thông tin về các thành phần thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tự nhiên Các thành phần trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tự nhiên bao gồm rất nhiều loại chất: chất dinh dưỡng macro và micro, chất chuyển hóa thực vật bậc 2 cũng như các chất độc tự nhiên và các yếu tố phi dinh dưỡng. Nếu thành phần của các thực phẩm tự nhiên đó tăng lên quá mức biến đổi tự nhiên, bản đánh giá an toàn chi tiết dựa vào kiến thức về chức năng sinh lý và/hoặc các đặc tính của chất độc của các thành phần này phải được đệ trình. Kết quả của đánh giá này được xác định nếu, các kiểm tra về độc tính cũng được yêu cầu. Trong trường hợp các thành phần liên quan đến chức năng sinh lý và hóa sinh (chất dinh dưỡng macro và micro), một bản đánh giá về độc tính và dinh dưỡng là cần thiết (xem Mục III, D7.10). 7.8.4 Kiểm tra toàn bộ thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM Nếu thành phần của thực vật GM bị thay đổi đáng kể, hoặc nếu bất kỳ chỉ số về sự xuất hiện tiềm năng các tác động không mong muốn, dựa vào các phân tích phân tử, kiểu hình hoặc thành phần cấu tạo trước đó, không chỉ các thành phần mới mà toàn bộ thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM cần được kiểm tra. Trong trường hợp đó, chương trình kiểm tra bao gồm nghiên cứu độc tính ít nhất 90 ngày trên chuột. Việc chọn lọc liều lượng phải được chú ý đặc biệt và tránh các vấn đề về mất cân bằng dinh dưỡng. Ít nhất có hai mức liều lượng của việc kiểm tra thực phẩm GM và bố mẹ trong khẩu phần ăn. Mức liều lượng cao nhất cần đạt được tối đa mà không gây ra sự mất cân bằng dinh dưỡng, và mức thấp nhất cần xấp xỉ mức độ sử dụng của con người. Sự ổn định của khẩu phần kiểm tra và sự cân bằng dinh dưỡng giữa khẩu phần ăn kiểm tra và đối chứng là các khía cạnh quan trọng khác cần được quan tâm (Konig và cs., 2004). Thông tin bổ sung về khả năng xuất hiện các ảnh hưởng không mong muốn có thể đạt được thông qua các nghiên cứu về sự sinh trưởng so sánh trên các loài động vật trẻ lớn nhanh (gà đại diện cho động vật không nhai lại; cừu đại diện cho động vật nhai lại; hoặc các loài sinh trưởng nhanh khác). Vì khả năng tăng khối lượng nhanh 42
  43. của những động vật đó nhạy cảm với sự có mặt của một số chất không mong muốn trong khẩu phần ăn của chúng. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này giới hạn với các vật liệu thích hợp với khẩu phần ăn của chúng và có thể phù hợp về mặt dinh dưỡng với khẩu phần đối chứng thích hợp. Việc lựa chọn khẩu phần đối chứng trong kiểm tra toàn bộ thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM hoặc các thành phần có nguồn gốc từ cây trồng GM là khác biệt về thành phần cấu tạo, nên dựa vào thành phần của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi truyền thống hoặc thành phần dùng để thay thế. Khẩu phần đối chứng có thể cung cấp thông tin về việc liệu các tác động mạng lưới đặc hiệu có thể đoán trước và về độ nhạy của hệ thống kiểm tra. Toàn bộ các thử nghiệm cho ăn có thể đặt song song bởi các thí nghiệm ở hệ thống in vitro và in vivo từ nguồn gốc động vật và/hoặc con người, ví dụ, các thông tin nghiên cứu biểu hiện gen và/hoặc độc tính tế bào tiềm năng của protein biểu hiện mới hoặc sự chuyển hóa/trao đổi chất. Các nghiên cứu bổ sung về độc tính có thể cũng cần thiết, phụ thuộc vào sự phơi nhiễm tiềm ẩn, đặc điểm và phạm vi của sự chênh lệch từ vật đối chiếu truyền thống và sự phát hiện của nghiên cứu chế độ ăn. Trong trường hợp các biến đổi gen phức tạp bao gồm sự chuyển đa gen, (các) rủi ro tiềm năng của các tương tác có thể xảy ra giữa các protein được biểu hiện, các quá trình trao đổi chất mới và các thành phần có nguồn gốc thực vật cần được đánh giá. Tác động của phân tích phân tử và kiến thức về cách thức hoạt động của các protein biểu hiện mới có thể cung cấp chỉ số cho những tương tác hỗ trợ có thể có, cũng như thông tin về phản ứng với các protein tổ hợp với các sinh vật đích và những ảnh hưởng liên quan đến hoạt tính của các enzyme đích. Thông thường, các thử nghiệm cho ăn với dạng thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM này được yêu cầu để đánh giá tác động của việc tiêu thụ tới sức khỏe con người và động vật. Trong từng trường hợp cơ bản, nó cũng thích hợp với các thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật GM thu được thông qua tạo giống truyền thống của dòng GM bố mẹ (tổ hợp các sự kiện). Bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào tìm thấy trong các cá thể bộc lộ ở vật liệu của thực phẩm/thức ăn chăn nuôi GM như là một phần của các hoạt động chuyên nghiệp như ở trang trại, quá trình chế biến hạt giống cũng cần người nộp hồ sơ đệ trình. 7.9 Tính gây dị ứng Dị ứng là phản ứng bất lợi, được định nghĩa là phản ứng miễn dịch trung gian chủ yếu liên quan tới các kháng thể IgE. Nó ảnh hưởng tới những cá thể dễ mắc bệnh (các cá thể bị dị ứng). Mục này chủ yếu đề cập tới những rủi ro đối với những người 43
  44. đã tiếp xúc với thực phẩm (hoặc phấn hoa) có nguồn gốc từ GMOs mà có biểu hiện mẫn cảm hoặc có triệu trứng của phản ứng dị ứng. Các yếu tố liên quan tới tính gây dị ứng của thực phẩm và phấn hoa là các protein. Một số protein bị bẻ gẫy thành các sản phẩm như các đoạn peptide, có thể vẫn duy trì một phần tính gây dị ứng của protein ban đầu, do đó, có thể coi là các chất gây dị ứng. Nguy cơ dị ứng cụ thể của GMOs được liên hệ: i) với việc xuất hiện một hoặc nhiều protein mới được biểu hiện trong những phần ăn được của thực vật hoặc phấn hoa. Điểm này liên quan tới nguồn gốc sinh học của gen được chuyển và ii) với những thay đổi về tính gây dị ứng của toàn bộ cơ thể thực vật và những sản phẩm bắt nguồn từ thực vật đó, ví dụ: do việc biểu hiện quá mức của các chất gây dị ứng nội sinh tự nhiên như một hệ quả không mong muốn của biến đổi di truyền. Điểm này liên quan tới đặc điểm sinh học của vật chủ. 7.9.1 Đánh giá tính gây dị ứng của protein mới được biểu hiện Tính gây dị ứng không phải một đặc điểm bản chất có thể dự đoán một cách đầy đủ của một protein nhưng là một hoạt tính sinh học đòi hỏi phải có sự tương tác với các cá thể có khả năng bị bệnh. Do đó, tính gây dị ứng phụ thuộc tính đa dạng và biến đổi di truyền của những người bị dị ứng. Do thiếu khả năng dự đoán chính xác, từ một vài bước trong quá trình đánh giá rủi ro, cần thiết phải thu được bằng chứng nhằm giảm tới mức tối thiểu bất kỳ sự không cần thiết nào liên quan tới một hoặc nhiều protein được đề cập đến. Cùng với những gợi ý của Nhóm Hành động bặc biệt liên chính phủ của Codex về các thực phẩm từ Công nghệ sinh học (Codex Alimentarius, 2003), một cách tiếp cận hòa nhập, theo bậc, từng bước một, như được mô tả dưới đây, nên được sử dụng khi đánh giá tính gây dị ứng có thể của các protein mới được biểu hiện. Nguồn gen dùng để chuyển phải được cân nhắc cẩn thận để có thể chắc chắn rằng liệu nó có mã hóa cho một chất gây dị ứng hay không. Thông tin nên cung cấp cụ thể ở bước nào trong quá trình phát triển của thực vật hoặc ở các cơ quan nào của thực vật protein gây dị ứng có thể được biều hiện. Khi chuyển vật liệu di truyền thu được từ lúa mỳ, lúa mạch đen, lúa mạch, yến mạch hoặc các loại ngũ cốc, thì người nộp hồ sơ nên đánh giá các protein biểu hiện mới với vai trò có thể trong việc chẩn đoán bệnh đường ruột mẫn cảm với gluten hoặc các bệnh đường ruột khác không qua trung gian IgE. Trong mọi trường hợp, bước đầu tiên trong quá trình đánh giá nên là việc tìm kiếm một loạt các điểm tương đồng và/ hoặc tương tự về mặt cấu trúc giữa protein được biểu hiện và các chất gây dị ứng đã biết. Việc xác định các biểu vị bám IgE nên 44
  45. được tiến hành theo hướng tìm kiếm các đoạn peptide tương đồng trong trình tự amino acid của protein đó. Số lượng gốc amino acid giống nhau liên tục hoặc tương tự về mặt hóa học được sử dụng trong khi tìm kiếm nên được dựa trên cơ sở khoa học thích hợp nhằm giảm thiểu khả năng đưa ra những kết quả dương tính hoặc âm tính sai lệch13. Việc sử dụng các cách tìm kiếm sự tương đồng khác nhau dựa trên những trình tự có trong các cơ sở dữ liệu có thể xác định một vài tình huống, bao gồm một mức độ tương đồng cao, cùng với hoặc không cùng với sự bảo tồn tính chất gây dị ứng, hoặc một mức độ tương đồng thấp cùng với sự bảo tồn tính chất gây dị ứng (Mills và cs., 2003). Để giảm mức độ không chắc chắn của các kết luận đưa ra từ việc tìm kiếm sự tương đồng trình tự đơn độc, cần phải khuyến khích những nỗ lực nhằm cải thiện phương pháp tin sinh học nhằm i) cải tiến và hài hòa các thuật toán do những người khác nhau sử dụng và ii) phát triển các cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin về cấu trúc ba chiều và chức năng của các chất gây dị ứng đã biết và của các protein thuộc các họ protein có tỉ lệ tương đồng cao với các chất gây dị ứng. Bước thứ hai trong quá trình đánh giá khả năng tác động của các protein mới được biểu hiện, từ đó có thể suy ra một phản ứng dị ứng trong các cá thể đã từng nhạy cảm đối với các protein gây phản ứng chéo, được dựa trên các thử nghiệm in vitro; các thử nghiệm này đánh giá khả năng của IgE đặc hiệu từ huyết thanh của các bệnh nhân dị ứng với một hoặc một số protein thử nghiệm. Nếu nguồn gen sử dụng bị coi là chất gây dị ứng, nhưng không chứng tỏ được sự tương đồng trình tự của protein mới được biểu hiện với chất dị ứng đã biết, thì việc sàng lọc huyết thanh đặc hiệu của protein được biệu hiện cần phải tiến hành cùng với huyết thanh của các bệnh nhân dị ứng với nguồn nguyên liệu bằng việc sử dụng các thử nghiệm hóa miễn dịch hợp lệ. Nếu phản ứng IgE dương tính xảy ra thì 13 Cuộc hội đàm WHO/FAO vào năm 2001 gợi ý việc tìm kiếm đoạn amino acid giống nhau gồm 8-6 gốc. Trình tự peptide được sử dụng trong so sánh bậc thang càng nhỏ, khả năng xảy của việc xác định dương tính sai lệnh càng lớn. Ngược lại, trình tự peptide được sử dụng càng lớn, khả năng âm tính sai lệnh càng lớn, do đó sẽ làm giảm lợi ích của việc so sánh. 45
  46. protein mới được biểu hiện có thể được coi là rất có khả năng là một chất gây dị ứng. Nếu không quan sát thấy sự liên kết IgE thì protein mới được biểu hiện nên được tiến hành các thử nghiệm về khả năng kháng pepsin và các thử nghiệm khác như được liệt kê dưới đây. Nếu nguồn gen không được biết là có khả năng gây dị ứng nhưng có những dấu hiệu chắc chắn về sự tương đồng trình tự với một chất gây dị ứng đã biết thì việc sàng lọc huyết thanh đặc hiệu cần được tiến hành trên huyết thanh của các bệnh nhân nhạy cảm với chất gây dị ứng này nhằm xác nhận hoặc loại bỏ khả năng phản ứng chéo IgE giữa protein mới được biểu hiện và chất gây dị ứng này. Thử nghiệm khả năng kháng pepsin. Sự bền vững đối với thử nghiệm phân cắt bằng các enzyme phân giải protein đã được coi là một đặc điểm của các protein gây dị ứng trong một thời gian dài. Hiện nay, mặc dù mối liên hệ tuyệt đối như vậy đã được chứng minh là không tồn tại (Fu và cs., 2002), nhưng khả năng các protein không bị pepsin phân cắt vẫn được đề xuất là một tiêu chí bổ sung trong việc đánh giá rủi ro tổng thể. Trong trường hợp sự phân rã nhanh của một protein khi có mặt pepsin không được xác nhận trong các điều kiện thích hợp, thì cần phải tiến hành phân tích sâu hơn để xác định khả năng protein mới được biểu hiện là chất gây dị ứng. Việc so sánh các protein để IgE bám vào nguyên vẹn, bị pesin phân hủy và bị biến tính nhiệt cũng có ý nghĩa. Sàng lọc huyết thanh đích. Như được đề xuất trong cuộc hội đàm chuyên môn của FAO/WHO (WHO/FAO, 2001), sàng lọc huyết thanh đích nhằm đánh giá khả năng của protein mới được biểu hiện bám vào IgE trong huyết thanh của các cá thể có phản ứng dị ứng đã được xác nhận về mặt bệnh học đối với các loại thực phẩm nói chung có liên quan tới nguồn gen. Sàng lọc huyết thanh đặc hiệu (cũng như huyết thanh đích) yêu cầu số lượng và thể tích đủ lớn huyết thanh thích hợp từ các cá thể dị ứng. Những yêu cầu này không phải luôn luôn đáp ứng được vì dị ứng không gặp thường xuyên hoặc vì các lý do khác. Do đó, cần khuyến khích việc sử dụng các mô hình đã có và việc phát triển và phê chuẩn các mô hình thay thế mới có thể thay thế và/ hoặc bổ sung cho việc sử dụng nguyên liệu sinh học có nguồn gốc từ người để làm bằng chứng cho khả năng phản ứng chéo và cho tác động suy diễn. Những cách tiếp cận/ phương pháp này có thể bao gồm việc tìm kiếm các epitope của tế bào T, các motif cấu trúc, các thí nghiệm trên tế bào in vitro sử dụng các tế bào miễn dịch động vật hoặc các tế bào miễn dịch động vật được thay đổi cho giống với tế bào của người. Chúng cũng bao gồm các mô hình động vật in vivo thích hợp. 46
  47. Các mô hình động vật rõ ràng là những công cụ hữu hiệu để đánh giá sự nhạy cảm của protein biểu hiện mới, có nghĩa là khả năng của chúng đối với việc kích thích phản ứng miễn dịch dị ứng có tổng hợp IgE đặc hiệu ở các cá thể chưa hề tiếp xúc với những protein này cũng như với các protein phản ứng chéo với chúng. Việc phát triển các mô hình động vật cần được khuyến khích và một khi đã được phê chuẩn, việc sử dụng các mô hình này có thể tăng bằng chứng để ủng hộ cho một kết luận nào đó. 7.9.2 Đánh giá tính gây dị ứng của thực vật hoặc cây trồng biến đổi gen Nếu cơ thể nhận gen có khả năng gây dị ứng thì bất kỳ sự thay đổi tiềm năng nào trong tính gây dị ứng của toàn bộ thực phẩm biến đổi gen cần được thử nghiệm bằng cách so sánh tính gây dị ứng của nó với tính gây dị ứng của các giống thường không bị biến đổi gen. Cũng cần chỉ ra rằng những phương pháp này nên được áp dụng trên cơ sở từng bước một tùy thuộc vào các thông tin về khả năng gây dị ứng của nguồn và/ hoặc vật chủ. Sự phát triển của các công cụ phân tích hiện đại bao gồm các kỹ thuật ghép nối (xem Mục II, 6) được khuyến khích trong những thử nghiệm trên huyết thanh hoặc tế bào của người và động vật. Các kỹ thuật này chắc chắn sẽ là những công cụ đầy triển vọng và có hiệu quả, và có thể được sử dụng để phát hiện các protein hoặc các đoạn peptide mới có khả năng gây dị ứng trong toàn bộ cây trồng GM và trong thực phẩm GM (đã được chế biến). Quá trình hợp nhất đã được mô tả ở trên áp dụng cho việc đánh giá tính gây dị ứng của những phần ăn được và phấn hoa của cây trồng biến đổi gen (bao gồm cả rủi ro về dị ứng trong hệ hô hấp và dị ứng với thực phẩm). Ngoài ra, dữ liệu về sự phổ biến của dị ứng nghề nghiệp của các công nhân và nông dân, những người tiếp xúc nhiều với thực vật và cây trồng biến đổi gen hoặc với các chất gây dị ứng có thể có trong hàng hóa được vận chuyển theo đường hàng không, sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho quá trình đánh giá rủi ro. Liên quan tới sức khỏe động vật, tính gây dị ứng không phải là một vấn đề quan trọng nên không cần thiết đề cập tới. 7.10 Đánh giá mức dinh dưỡng của thực phẩm/ thức ăn chăn nuôi GM Phân tích thành phần là bước bắt đầu và là nền tảng cho việc đánh giá mức dinh dưỡng của thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Những tài liệu thống nhất do OECD chuẩn bị (OECD a) đưa ra hướng dẫn tốt cho những phân tích được yêu cầu và 47