Sự thích nghi của động vật có xương sống

doc 43 trang phuongnguyen 30
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sự thích nghi của động vật có xương sống", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docsu_thich_nghi_cua_dong_vat_co_xuong_song.doc

Nội dung text: Sự thích nghi của động vật có xương sống

  1. Sự thích nghi của động vật có xương sống
  2. Động vật kà một thành viên rất quan trọng trên trái đất, phong phú và đa dạng. do hoạt động thường xuyên, tích cực để sống và phát triển, động vật có quan hệ trực tiếp đến loài người. vỡ thế, ngay từ thời cổ đại loài người đó chỳ ý tới cỏc loài động vật. Động vật học đó ra đời từ ngày đó, nghĩa là động vật học ra đời chíng là do nhu cầu xó hội của loài người. Hiện nay trên thế giới ngừoi ta đó mụ tả khoảng 1,4 triệ loài động vật. trong số đó có khoảng 1 triệu loài động vật không xương sống và động vật có xương sống, phân bố ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới, tạo nên một thế giới động vật đa dạng và phong phú. Cũng như động vật nói chung, động vật học có xương sống là một hệ thống khoa học nghiên cứu động vật có xương sống trên các mặt bao gồm hỡnh thỏi học, sinh lý học, sinh thỏi học, di truyền học, phõn loại học, địa lí học có nhiệm vụ là phát hiện các đặc điểm hỡnh thỏi, cấu tạo, sinh lớ, sinh thỏi, phõn bố của động vật có xương sống. xác định vị trí của chúng trong giới động vật và trong hệ sinh thái, cũng như vai trũ và tầm quan trọng của chỳng trong đời sống con người. Động vật có xương sống phong phỳ về thành phần loài (khoảng 60000 loài hiện sống), kích thước cũng rất thay đổi: từ những loài chỉ nặng 0,1g đến cá voi xanh nặng gần 100 tấn , hầu như có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới: từ những loài cá bi-da bơi lội ở vùng biển sâu cho đén các loài chim di cư bay lượn trên đỉnh núi Hymalaya cách những con cá này đến 15km. Chớnh vỡ sự phõn bố rộng như vậy, cùng với sự thay đổi về điều kiện sống ở những vùng khác nhau trên trái đất đó làmm cho cỏc loài động vật sống ở trên đó có những đặc điểm cấu tạo rất riêng và những tập tính thích nghi rất độc đáo mà con người không thể hiểu hết nếu như không cố công tỡm hiẻu và quan sỏt. Xuất phỏt từ lũng yờu thớch động vật, mong muốn được tỡm hiểu về thế giới động vật xung quanh mỡnh về những hoạt động sống đặc biệt là những tập tính của mỗi loài thích nghi với đời sống riêng của chúng, em đó quyết định tỡm hiểu và viết bài về tập tớnh cỏc loài động vật có xương sống để có cơ sỡ trả lời cho mỡnh những thắc mắc, tũ mũ về đông vật mà từ trước đến nay em vẫn đang đặt câu hỏi vỡ sao? Qua đây em cũng mong muốn cho mọi người hiểu them về đời sống các loài động vật xung quanh mỡnh, hiểu được vai trũ quan trọng của chúng đối với đời sống các loài động vật khác trong đó có con nguời. những hiểu biết về động vật sẽ giúp mọi người ý thức hơn trong suy nghĩ và hành động của mỡnh để không gây hại đến loài vật, góp phần bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên môi trường của chúng ta. Để có thể làm được bài viết này, em đó tham khảo nhiều tài liệu viết về đặc điểm sinh thái và tập tính riêng của các loài trong các lớp động vật: lớp cá, lưỡng cư, bũ sỏt,
  3. chim và thỳ; tỡm kiếm nhiều thong tin, hỡnh ảnh lien quan trờn mạng. vựng việc chắt lọc những ý kiến gúp ý, giỳp đỡ của thầy cô và bạn bè; vận dụng những hiểu biết của mỡnh về tập tớnh của cỏc loài động vậtvà khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ, cách thức diễn đạt, trỡnh bày để có thể hoàn thành bài tiểu luận này. Vỡ thế giới động vật rất phgong phú và đa dạng nên chỉ bằng những thong tin và một số hỡnh ảnh minh họa trong bài khụng thể núi hột về tập tớnh của cỏc lớp động vật đó. Do chưa có kinh nghiệm trong việc làm bài tiểu luận nên em cũn rất nhiều thiếu sút. Vỡ vậy rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để em có them kinh nghiệm trong những lần viết bài tiếp sau. Em xin chân thành cảm ơn ! Một số tài liệu tham khảo: 1. Động vật học có xương sống . Trần Kiên, Trần Hồng Việt, Nhà xuát bản Đại học sư phạm. 2. Động vật học có xương sống . GS. Lê Vũ Khôi, Nhà xuất bản giáo dục. 3. Bài giảng Động vật học có xương sống. TS.GV Nguyễn Hải Tiến. 4.Đời sống động vật. Phạm Ngọc Bích biên dịch, Nhà xuất bản trẻ. 5. Động vật có vú, Phạm Thu Hũa biờn dịch, Nhà xuất bản trẻ. Môi trường sống của các loài sinh vật trên trái đất thật là phong phú,mỗi vùng mang nhiều điều kiện tự nhiên khác nhau ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật sống trong đó như: cấu trúc địa hình, khí hậu, nhiệt độ, sự cạnh tranh giữa các loài sinh vật, sự tác động của kẻ thù Chính vì vậy, sinh vật nói chung và động vật có xương sống nói riêng đều mang những tập tính riêng của loài để có thể thích ứng nhanh chóng với sự thay đổi của môi trường sông để tồn tại, phát triển và duy trỳ nòi giống.tập tính là những thói quen riêng của mỗi loài trong các hoạt động sống như tìm nơi ở, kiếm ăn, vận động,khả năng tự vệ, hình thức sinh sản, chăm sóc trứng,con non sau khi đẻ, tập tính di cư Những tập tính đó mang tính di truyền từ
  4. thế hẹ này sang thế hệ khác của loài. Qua nhiều thế hệ, những tập tính đó càng được duy trỳ và thể hiện rõ nét hơn, tạo nên những đặc , trưng riêng của các loài khác nhau, thậm chí là giữa các cá thể khác nhau trong cùng một loài. Từ những sai khác về tập tính sống của các loài sinh vật tạo nên sự đa dạng, phong phú cho giới sinh vật nói chung và cho giới động vật nói riêng. Để làm sáng tỏ điều đó, ta đi xét lần lượt các tập tính hoạt động của các lớp động vật có xương sống: lớp cá, lớp lưỡng cư, bò sát, chim, thú để làm rõ sự đa dạng về tập tính của giới động vật I. LỚP CÁ Cá là lớp động vật sống hoàn toàn ở nước, việc tách rời cá khỏi môi trường nước sẽ làm chúng chết vì nước là môi trương có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá mà những môi trường khác không có được. Sống trong môi trường nước cá mang một số tập tính sau: *Về nơi ở: Do đặc điểm môi trường nước ở mỗi vùng khác nhau nên mỗi vùng thích hợp với một số loài cá nhất định, có loài rộng sinh cảnh (eurybiotop) phân bố khăp nơi, lại có những loài hẹp sinh cảnh ( Stenobiotop) chỉ ở những vùng nhất định. Tùy theo không gian sống và tính chất lý hóa của môi trường ma có thể chia nơi ở của cá theo những nhóm sinh thái riêng: - Theo tính chất môi trường: Tùy theo nồng độ hòa tan các chất vô cơ, hữu cơ, nồng độ muối trong nước, ta có các nhóm cá như sau: Nhóm cá biển (cá nước mặn ) chỉ sống được ở biển và sẽ chết khi ở nước ngọt như đa số các loài cá biển. Nhóm cá nước ngọt chỉ ở các vực nước ngọt lục địa, sông, suối, ao, hồ Nhóm cá nước lợ có thể sống quanh năm ở vùng nước có độ mặn thấp từ 4-12% như vùng cửa sông, các đầm phá, ven biển chúng có thể ngược dòng vào hạ lưu sông để tráng rét hoặc sinh sản, nhiều loài còn có thể ở hẳn ở nước ngọt (cá đuối, cá sữa, cá lành canh ).Nhóm cá di cư: cá sống ở biển đến mùa sinh sản di cư lên thượng nguồn các sông để đẻ (cá mòi, cá cháy ) hay cá sống ở nước ngọt di cư ra biển để đẻ trứng (cá chình). Ngoài ra còn có những loài rộng muối ( Euryhyalin) có thể sống và hoạt động ở nhiều nơi ( cá bống, cá kim ), ngược lại có những loài hẹp muối chỉ sống trong một khu vực nhất định. Nhiệt độ cũng là yếu tố ảnh hưởng khá lớn đến đời sống của cá. Vì cá là động vật biến nhiệt nên sự thay đổi nhiệt độ có thể đảy nhanh hoặc làm chậm quá trình sinh trưởng và phát triển của cá. đối với mỗi loài có một giới hạn nhiệt nhất định đảm bảo cho cá sống sót trong đó có một giới hạn nhiệt thuận lợi đảm bảo cho cá sống tốt nhất. Ví dụ cá rô phi ( talapia mossambica) ở Việt Nam có giới hạn nhiệt độ từ 5,6 – 42 0C, nhiệt độ thuận lợi nhất là 30 0C. Tùy theo giới hạn nhiệt mà có thể chia cá ra các nhóm: Nhóm cá hẹp nhiệt (Stenotherrmal) chỉ chịu được sự sai khác nhiệt độ rất nhỏ, thường phân bố ở vùng nhiệt đới,cá ở sâu và cá
  5. vùng cực. Nhóm cá rộng nhiệt ( Eurytherrmal) là những cá có thể sống được trong điều kiện nhiệt độ thay đổi lớn, thường là những loài cá vùng ôn đới, nhiều loài sống ở bờ vùng Bắc cực Ôxi cũng ảnh hưởng nhiều đến cá: Do nhu cầu oxi một số loài cá chỉ sống được ở những thác nước hoặc sông, suối chảy mạnh ( cá lòa, cá hỏa, cá xỉnh), thậm chí một số loài phải di chuyển đén những nơi nước chảy để sinh sản (trôi, mè ). Vào những ngày hè có nhiệt độ cao, hàm lượng oxi trong nước giảm, vì vậy ở các vùng nước lặng, vực nước nông thường có hiện tượng thiếu oxi, nhiều loài cá thích nghi có cơ quan hô hấp phụ lấy oxi tự do trong không khí thỉnh thoảng kaij ngoi lên mặt đớp khí ( cá rô, cá quả, cá thoi loi, cá phổi có những vũng nước ao tù , ban đêm có sự phân hủy xác hữu cơ lấy đi nhiều oxi và thải ra nhiều khí độc nên cá bị chết hàng loạt. - Nếu dựa vào nơi ở trong khu vực nước : Tùy vào không gian trong khu vực nước ta có thể chia thành các nhóm cá: cá tầng mặt, cá ven bờ và cá đáy sâu( cách phân chia này chỉ phù hợp với cá biển. Cá tầng mặt là cá ăn nổi, chúng kiếm ăn và sinh sản đều ở trên tầng mặt. Nước trong không cá nơi ẩn náu nên hầu hết cá vận chuyển nhanh, có màu sắc đặc biệt để có thể tránh kẻ thù: lưng thường có màu sẫm, bụng màu trắng bạc, chúng đẻ trứng nhỏ có giọt mỡ lớn, làm phao nổi, ấu trùng không màu , trong suốt có những phần dài, nhẹ làm tăng sức đẩy Acsimet, dể nổi. Cá ven bờ: môi trường sống có nhiều chỗ ẩn nấp, nên bơi lội kém, rất đa dạng về hình thái ngoài: Cá ăn đáy có thân dẹp trên dưới, mắt miệng hướng lên trên ( cá mù làn, cá chai), miệng ở dưới ( cá đuối), vây bụng biến thành giác bám ( cá bống khe), thành chân bò ( cá thòi loi) Cá ven bờ có màu sắc dể thay đổi phù hợp với màu sắc nền đáy thủy ( cá bơn màu trắng ở trong bể đáy cát trắng sẽ chuyển sang nâu khi
  6. chuyển nó vào bể đáy cát màu tối. Cá đáy sâu: đáy biển sâu luôn thiếu ánh sáng, nước lặng, ít luân chuyển, thiếu oxi, áp suất lớn, không có thực vật thủy sinh nên cá có cấu tạo đặc biệt để có thể chịu được áp suất lớn, đa số ít vận chuyển , mắt rất lớn để có thể nhìn thấy các vật trong môi trường ánh sáng yếu hoặc bị thoái hóa hoàn toàn thay vào đó là giác quan cảm giác rất phát triển ( xúc giác, vị giác) * Sự vận động của cá: Ngoài một só loài có thể bò ( cá Thòi Lòi, rô Đồng, cá Trê) hoặc trườn ( cá Chạch, Lươn , Chình) thì vận động căn bản của tất cả các loài cá là bơi. Bơi được thực hiện nhờ vây và cơ, hoạt động đẩy cơ thể về phía trước và lúc cần thiết có thể làm hảm tốc độ bơi hay dử dụng hợp lí lưc dòng chảy để giảm năng lượng; vây lưng, vây hậu môn ngoài tác dụng giử thăng bằng, bánh lái cho cá, nó còn giúp đẩy cá về phía trước nhờ vận động từ trước ra sau; vây lưng và vây bụng dung để lái lên xuống, quay trái phải. Cá có thân hình thoi, hơi dẹp bên, bơi giỏi, cử động uốn mình theo một mặt phẳng ngang. Tốc độ bơi cá Hồi 18km/h, cá Ngừ 12km/h, cá Chó 36km/h, cá Chuồn 64,8 - 90km/h. Một số loài cá có hoạt động đặc biệt có cách bơi riêng: Cấ Nóc hòm [] có thân bất động và bộ giáp cứng nên vận động bằng vây đuôi, Lươn điện nhờ vây hậy môn uốn sóng, cá Ngựa vận động nhờ vây lưng, cá Bơn bơi bằng cách vận động toàn thân theo hướng lưng bụng. Một số loài do cấu tạo thích nghi hoặc tập tính mà có kiểu bơi đặc biệt, cá Đầu (Molamola) nhờ dòng chảy hoặc sóng gió. Cá ép (Echeneis) dùng giác bám bám vào tàu thuyền hoặc cá khác
  7. để di chuyển, nhiều loài có Nóc khi cần thì nuốt khí để phình to như cái phao nhờ gió chuyển đi. * Thức ăn của cá. Ăn tất cả những gì có trong nước: Từ mùn bã hửu cơ, tảo đơn bào, thực vật, phù du động vật, giáp xác, thân mêm, cá , và cả động vật có xương sống. Chổ thức ăn và tập tính ăn thay đổi theo loài, lứa tuổi mùa vụ và điều kiện ngoại cảnh tác động. Tùy thuộc vào loại thức ane mà có thêt có những nhóm sinh thái như sau: + Cá ăn mồi lớn gọi là cá dữ: ở các thủy vực nướ ngọt, cá chuồn (Bagarius), cá nheo (Parasilurus), cá quả (Ophiocephalus), cá lăng (Hemibagrus), cá chũn (Lates calcarifer), ở biển có cá nhám (carcharinus), cá ngừ (Auxis), cá vược (Seranus), cá căng (Therapon), cá hồng (lutjanus), + Cá ăn
  8. mồi nhỏ gọi là cá lành: ở nước ngọt: Cá chép ( Ciprinus), cá Nương (Hemiculter), Cá chạnh trấu (Mastacembellus), Thát lát (Notopterus). ở biển có: Cá mối ( Saurida), cá Nục (Decapterus), Cá trích (Sardinella), cá Mòi (Clupcenodon). Cá ăn thực vật nổi điển hình có cá Mè (Hypophthalmichthys) chuyên ăn tảo đơn bào. ăn thực vật có cá Bõng (Spinibarbichthys), cá Chát (Lissochilus), cá Trắm cỏ (Ctenopharhyngodon). Cá ăn mùn bã như cá Trôi (Cirrhina), cá Diếc (Carassius), cá Nhàng (Xennocypris), cá Lúi (Ostochilus) cá Xỉnh ( Onychostoma), cá Đối (Mugil). Cá ăn lọc: Thức ăn thường là cá vi sinh vật phong phú ở biển, ấu trùng cá và một vài loài sinh vật nhỏ khác + Cá ăn tạp: Ăn cả thực vật và động vật, cá chết, một số it cá loài sống kí sinh. So với vùng ôn đới, cá vùng nhiệt đới có phổ thức ăn rộng hơn, nghiêng về ăn tạp hơn. Tùy theo lứa tuổi và mùa loại thức ăn cũng thay đổi, do đó sự phân chia các nhóm sinh thái dựa vào thức ăn chỉ có tính tương đối. - Cá bắt mồi và nuốt mồi nguyên, tùy theo loại thức ăn và lượng thức ăn của từng loài mà có cấu tạo hệ tiêu hóa khác nhau giữa cá nhóm sinh thái. - Thành phần thức ăn và cường độ dinh dưỡng mỗi loài cũng phụ thuộc vào mùa, trạng thái sinh lí và lứa tuổi Mùa đông cá ăn ít các loại thức ăn hơn mùa hè, mùa đẻ trứng cá ăn ít nên gầy, một số loài khi di cư sinh sản toàn nhịn ăn (cá mòi, cá cháy). Sau khi sinh sản, cá ăn nhiều nên béo trở lại. Cá con chủ yếu ăn phù du, động thực vật, lớn lên cá mở rộng phổ thức ăn, có khi chỉ sang ăn chuyên. Khả năng nhịn đói của cá rất khác nhau. Thường thì cá ăn tạp và cá ăn thực vật có khả năng nhịn đói thấp hơn cá ăn thịt. Trong điều kiện thí nghiệm, cá chình con (Anguilla mormorata) từ 5 - 10g có thể nhịn ăn 70 > 207 ngày mới chết, khi chất trọng lượng giảm xuống > 50%. điều kiện khô hạn, cá chạch (Misgumus angurlli caudatus) sống dưới dạng tiềm sinh, có thể nhịn ăn 60 - 100 ngày. * Sự sinh sản: sự sinh sản có ý nghĩa rất to lớn của đời sống động vật nhằm duy trì và bảo tồn nòi giống, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của sinh vật. Do điều kiện sống và tổ chức cơ thể chưa tiến hóa cao nên hiện tượng sinh sản ở cá còn nhiều nét nguyên thủy, nổi bật là đẻ trứng và thụ tinh ngoài. - Giới tính của cá: Đa số cá phân tính, chỉ có một số ít loài lươn, một số họ miến sạnh (Sparidae) và họ cá nút (Serranidae) là lưỡng tính. Tuy nhiên do thời gian chính sinh dục khác nhau nên khống có sự tự thụ tinh Ngoại trừ một số loài cá thụ tinh trong, đẻ con (cá nhám, cá đuối)
  9. Phần lớn cá đều rất khó phân biệt giới tính theo hình dạng ngoài. Tuy nhiên, tùy thuộc chức năng và tập tính sinh sản một vài loài cá có sự thể hiện sai khác đực cái và chăm sóc con non (thể hiện rõ ở những cá có sự thụ tinh trong cơ thể. Con đực có cơ quan giao cấu rõ ràng (cá sụn), có vây lớn hơn con cái cá bơn vĩ (Bothidae Opsarichthys), cá bám, cá cháo ) Con cái vì phải mang trứng nên bụng và cơ thể lớn hơn con đực cùng tuổi (cá chép, trich diếc ) Những loài cá mà con đực phải bảo vệ con non nên lớn hơn con cái ( cá úc (Arius), cá bò (Psoudobagrus)m cá sơn (Apogon), cá săn sắt (Macropodus). - Thu hút bạn tình: một số loài cá đực chỉ khi thời gian sinh sản mới xuất hiện đặc tính sinh dục phụ (hiện tượng khoác áo cưới) như cá đòng đong (Colitidae), cá hồi chó (Onchahynchus gorbuscha) ở Bắc Thái Bình Dương có mõm dài, lưng gù lên; cá săn sắt, cá gai đực có màu sắc sặc sỡ nhiều loài thuộc họ cá chép, họ cá đong đong mọc nhiều nốt sừng trên nắp mang, trên đầu, trên vây cá đực Một số có hiện trượng chọi nhau, tranh giành con cái như cá săn sắt, có loài phát tiếng kêu để goi tìm nhau (một số loài thuộc họ cá chép) - Tuổi thành thục và lứa đẻ:
  10. + Tuổi thành thúc thay đổi tùy loài, thậm chí này cả cùng một loài, tuổi thành thục cũng thay đổi tùy theo sự tăng trưởng của tưng cá thể, cá sinh trưởng nhanh thì phát dục sớm, rõ ràng là tuổi thành thục luôn quan hệ chặt chẽ với chế độ dinh dưỡng. Nhiều nhà Ngư loại học đã khẳng định là cá sinh sản ở cở nhất định chứ không phải là ở một lứa tuổi nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung cá có kích thước lớn, tuổi thọ cao(cá tầm 5-10 năm) thành thục muộn howncas nhỏ (cá cảnh 2-3 tháng). Cá nhiệt đới thành thục sớm hơn cá ôn đới do điều kiện ánh sáng, nhiệt độ kích thích (cá chép thành thục 3 năm ở Hoa bắc, 2 năm ở Hoa nam và một năm ỏ sông Hồng) + Số lứa đẻ và số lượng trứng thay đổi tùy loài và tùy theo cung phân bố địa lí. Cá ôn đới mỗi năm đẻ 1 lần, cá nhiệt đới đẻ nhiều lần trong mùa sinh sản. cá đẻ nhiều lứa thì số lượng trứng ở các lứa đẻ sẽ khác nhau, lứa đẻ vào thời kì có thức ăn phong phú nhất sẽ có nhiều trứng nhất. Cũng có một số loài cỉ đẻ một lần rồi chết vì kiệt sức (cá hồi, chình). Phần lớn các loài cá kích thước nhỏ ở biển đẻ trứng nổi (trứng được bọc lớp mỡ mỏng) với số lượng trứng rất lớn, (cá trích một van trứng, cá hồi 3 - 14 vạn, cá cháy hơn một triệu trứng). Một số ít loài cá nước ngọt cũng đẻ trứng nổi như mường, mè, trôi. Số lượng trứng tùy thuộc kích cở con cá cái và nhất là tập tính sinh sản của loài. Ca không chăm sóc trứng, bảo vệ con thì đẻ số lượng trứng rất lớn (trôi 46 - 750 ngàn trứng, mè 91 - 230 vạn). Cá biết bảo vệ trứng hay chăm sóc con đẻ số lượng ít (cá chìa vôi có buồng ấp trứng dưới bụng khoảng dưới 250 -1 919 trứng, cá chạch 2 - 3 ngàn trứng) Cá biển thường đẻ trứng nhiều hơn cá nước ngọt (trừ cá sụn), cá biển khơi đẻ nhiều hơn cá ven bờ). Cá thè be đẻ vào mang trai được bảo vệ tôt chỉ có 35 trứng ) Trừng chìm có mang dính bám vào đá, cây thủy sinh (cá tầm, cá nhám ) hay trứng có lượng noãn hoàng lớn làm cho tỉ trọng nặng hơn nước (d > 1) nên chìm xuống đáy (chép, diếc, cá xỉnh ) + Cá không chỉ đẻ trúng ra môi trường ngoài, một số loài có hiện tượng thụ tinh trong như cá sụn, trứng được bảo vệ tôt nên số lượng trứng rất ít (cá nhám, đuối thường chỉ >10 trứng) đa phần là noãn thai sinh. Một vài có thai sinh nguyên thủy, đẻ con (Mustelus griseus). Hiện tượng đẻ con ở cá xương chỉ gặp ỏ vài loài cá cảnh: cá kiếm, cá mún đẻ 20 - 30 con, cá oarces bộ cá Vượt ở biển đẻ 100 - 300 con + Mùa đẻ thay đổi tùy vung và tùy theo tập tính tưng loài cá. Ca ôn đới đẻ vào cuối Đông, đầu Xuân (cá Hồi đẻ từ tháng 12 đến đầu tháng 2). Cá nhiệt đới đẻ kéo dài (Xuân - Hè - Thu) và rõ vào hè) - Chăm sóc trứng và con: Hầu hết cá đẻ xong bỏ mặc trứng, chỉ một số loài có hiện tượng chăm sóc trứng và cá con. Một số loài có đào hố làm tổ đẻ (cá chuối, cá họ Labridae,
  11. gesterosteidae), làm tổ băng bọt trên mặt nước (họ Belonticlae) ở các loài này dau khi cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực sẽ canh giữ trứng, khuấy động nước đảm bảo đủ oxi cho trứng nở Một số loài cá dực ấp ngay trên thân như cá chìa vôi ấp trứng trong túi bụng, cá sơn, cá rô phi ấp trứng trong miệng cá đực. Một số loài sau khi trứng nở vẫn bảo vệ và chăm sóc đàn con đến khi chúng có thể sống tự lập (cá chuối, cá rô phi) Sinh sản của cá
  12. * Sinh trưởng và tuổi cá : Sinh trưởng là quá trình tăng lên về kích thước và khối lượng - Cá con mới nở khác rất xa so với cá con trưởng thành, đặc biệt giai đoạn dinh dưỡng noãn hoàng (Inxogen) cá con thường trong suốt, cá cơ quan phát triển chưa đầy đủ (trương ứng giai đoạn ấu trùng) khí cá con chuyển qua giai đoạn dinh dưỡng ngoài (Exogen) mới có hình dạng ngoài giống cá nói chung ( nhưng khó phân biệt giữa các loài). ấu trùng cá phổi, cá nhiều vây có mang ngoài giống nòng nọc. ấu trùng cá chình có thân trong suốt, hình lá liễu rất khác xa so với dạng trưởng thành . Thường trong giai đoạn đầu cá tăng nhanh về kích thước nhằm nhanh chóng vượt qua khỏi sự truy đuổi của kẻ thù. Giai đoạn sau cá tăng nhanh về khối lượng hơn. Sinh trưởng về khối lượng không đồng đều và phụ thuộc vào thức ăn và nhiệt độ của nước. Mùa Xuân - Thu, cá ăn nhiều lớn nhanh, mùa Đông cá lớn chậm. Sự lớn lên không đều của cá làm cho vẩy và xương có những vòng đậm và nhạt khác nhau. Sự xen kẻ giữa vùng sinh trưỡng nhanh và vùng sinh trưởng chậm, tạo nên vòng năm trên vảy, căn cứ vào số lượng vòng năm ta có thể biết tuổi của cá, độ lớn sang của mỗi vòng năm thể hiện cá sống thuận lợi hay khó khăn vào những năm trước đó. Cá tăng trưởng suốt đời sống, nhưng càng về sau tốc độ tăng trưởng càng giảm. Tuổi sống của cá cũng rất khác nhau, nhìn chung cá có kích thước nhỏ thường có chu kì sống ngắn, một vài năm, cá có kích thước lơn sống lâu hơn (15 - 20 năm). Một số rất ít loài như cá bơn sống tới 60 năm, cá tầm 120 năm. Tuổi thọ của cá rất khó xác định và cá chết trong tự nhiên thường là thức ăn của nhiều loài thủy sản khác.
  13. Sự tăng trưởng và vòng năm trên vảy cá (theo Matviep) * Thành phần tuổi và biến động số lượng Số lượng của chủng quần cá thường thay đổi phụ thuộc vào môi trường sống thuận lợi hay khó khăn, cơ sở thức ăn, bênh tật, dịch hại và hoạt động khai thác của con người. Bản chất của sự biến động số lượng là mối quan hệ giữa sinh sản và tử vong. Đối với cá có vòng đời ngắn, lớn nhanh, thành thục sớm (diếc, rô phi) thì số lượng thay đổi nhanh và phục hồi cũng nhanh. Ngược lại cá có vòng đời dài, lớn chậm, thành thục chậm thì việc phục hồi lại số lượng đàn cá khi bị giảm sút cũng rất chậm. Đây là cơ sở lí luận cho việc khai thác thế nào cho hợp lí * Thích nghi tự vệ và tấn công
  14. Để tồn tại, mỗi loài cá chọn cho mình một cách thích nghi riêng. Phần lớn, các loài cá có khả năng thay đổi màu sắc giống với màu nền: giúp chúng lẫn tránh được kẽ thù, mặt khác cũng giúp chúng ẩn nấp để tấn công kẻ thù hoặc rình mồi có hiệu quả (cá bơn, cá đuối, cá rô phi ) Những cá ăn nổi lưng có màu xám, bụng màu bạc. Cá sống ở đáy có màu đen xám hay màu cát. Những cá ở vùng san hô có màu sắc sặc sỡ, tương phản với màu nền san hô. Màu sắc của mỗi loài cá vùng nhiệt đới là không phải để ẩn náu mà nhiều trường hợp lại dễ thấy. Nhiều loài cá có màu sắc bắt chước để tự vệ, có hình dạng kì dị như cá ngựa, chìa vôi là hình thức ngụy trang khéo léo trong đám rong biển Một số loài có vũ khí tự vệ và tấn công: Cá đao có nhiều răng sắc trên đôi hàm dài, cá đuối có gai nhọn ở đuôi, ngạnh sắc ở cá trê, cá lăng, cá ngạnh, á úc (trong gai có tuyến độc) Một số loài thân có phủ một lớp xương bảo vệ(cá nóc hom, cá ngựa) Cá toxotes có thể phun lên không những tia nước nhỏ để dính cánh sâu bọ đang bay. Có hiện tượng họp đàn để tăng khả năng tự vệ (chình, trích, ngừ) các loài cá nổi biển khơi). Cũng có hiện tượng sống cộng sinh giữa cá thia biển (Amphiprion) và hải quỳ: Cá thia biển kiếm ăn an toàn H. Cá ngựa khi bơi giữa đám xúc tu và xoang áo của hải quỳ, đông thời hoạt động bơi của cá đã tạo dòng chảy mang oxy cho hải quỳ hô hấp thuận tiện hơn. Một số loài có tuyến độc, có cơ quan điện phát ra dòng điện với điện thế > 300V (cá trê điện, cá đuối điện) có thể làm tê liệt con mồi và kẻ thù. Răng cá mập nguy hiểm với nhiều loài động vật. Cá đuối dùng cưa tấn công các loài ca khác đẻ đánh đuổi hoặc ăn thịt. Cá kiếm dùng hàm nhọn và cứng như mủi dao đâm chết kẻ thù, thậm chí có thể phóng với vận tốc v = 25 m/s lực lớn đâm thủng cả ván thuyền. * Tập tính di cư của cá: Di cư là hiện tượng chuyển tư nơi này sang nơi khác để sinh sống do nhièu ảnh hưởng của môi trường. H. cá đuối Có hai hỡnh thức di cư: thụ động và chủ động.
  15. - Di cư thụ động phổ biến ở cỏ con. Cỏ mũi, cỏ chỏy sau khi nở xuụi dũng theo song ra biển , ấu trựng cỏ chỡnh theo dũng hải lưu mói đến khi chuyển sang dạng hỡnh ống mới theo dũng chảy triều vào ven bờ, cửa song, sau đó mới bắt đầu giai đoạn di cư chủ động lên thượng nguồn các con song sinh sống Cá trôi, cá mè, cá trắm con thường theo lũ tràn vào các vực nước ven sông để phát triển. Cá chép ca nheo theo dũng nước lũ lên đẻ ở những nơi có “giá đẻ” như các mô đất, gốc cây, cá con sau dó theo dũng nuớc rỳt xuống ruộng trũng, ụ, bàu, sụng, rạch. - Di cư chủ động được thực hiện chủ yếu ở cá lớn. Đây là một tập tính được hỡnh thành trong quỏ trỡnh hỡnh thành loài nhằm đảm bảo cho chủng quần loài có môi trường sống thuận lợi nhất. + Phổ biến nhất với nhiều loài cá là di cư kiếm ăn. Vào mùa hè, nhiều loài cá nổi vịnh Bắc bộ có xu hướng di cư vào bờ để kiếm ăn, vỡ mựa này mưa lũ mang nhiều chất dinh dưỡng ra vùng cưẩ sông, ven biển. vào mùa xuân các loài cá biển khơi thường di cư lên phía bắc vỡ sau khi tuyết tan phức hệ động thực vật phát triển phong phú. Sự di cư của các loài cá nổi theo nguyên nhân thức ăn đó làm cho cỏc loài cỏ ăn thịt di cư theo. + Di cư tránh rét chủ yéu ở các loài cá lục địa ( cá ngạnh, cá chạch trấu, cá rô, cá diếc, cá vền ). Vỡ nhiệt độ thay đổi rất lớn nên và nguyên nhân địa lý chỳng thường lặn sâu,xuống đáy nước , tập trung vào các hang hốc để tranh rét. Tại thời điểm khó khăn này, cá giảm thiểu các hoạt động tiêu tốn năng lượng, nhu cầu dinh dưỡng, thậm chí nhịn ăn vài ngày ( cá chỡnh con cỡ 10g cú thể nhịn ăn 70-207 ngày) + Di cư sinh sản thường gặp ở cá biển. Miền bắc nước ta có cá mũi, cỏ chỏy (họ clupeidae) hang năm cứ tháng 3-6 từ biển chúng tập trung thành đàn lớn bơi ngược dũng sụng Hồng đến Việt Trỡ, Yờn Bỏi cú cỏc bói đẻ có dũng chảy khỏ mạnh vừa bơi vừa đẻ, đẻ xong lại quay ra biển. Ở miền Nam nhiều loài cá họ trích , cá cơm tới mùa sinh sản cũng ngược dũng sụng Mờ Cụng Tới song Tụng lờ sỏp ( campuchia) để đẻ. Một số loài ngược lại di cư từ sông ra biển đẻ như cá chỡnh. Một số loài di cư ngắn trong sông như cá chép cá trôi, cá mè ở sông Hồng. II. LỚP LƯỠNG CƯ (Amphibia) Lưỡng cư là động vật có xương sống đầu tiên ở cạn, là động vật biến nhiệt, thíh ngji với đời sống nửa nước, nửa cạn.Do đó nơi ở của chúng đũi hỏi nhiệt độ và độ ẩm thích hợp. - Do hô hấp bằng da rất quan trọng nênlưỡng cư thường sống ở gần các vực nước ngọt và có độ ẩm tương đối cao. Tuy nhioên vẫn có một số loài sống được ở môi trường với độ mặn nhỏnhơn 10%. Lưỡng cư tập trung nhiều nhất ở miền nhiệt đới. Càng lên miền ôn đới số
  16. lượng họ càng giảm và số lượng loài càng giảm đi. Ngưỡng nhiệt độ cao ở đa số lưỡng cư gần bằng 140 0C, ở 7-80C đa số bị cóng và ở 20C thường chết vỡ lạnh - Do đời sống lệ thuộc chặt chẽ vào độ ẩm và nhiệt độ, lưỡng cư vắng mặt ở vùng sa mạc khô cằn và vùng địa cực trong khi chúng rất đa dạng và phong phú ở những vùng nhiệt đới nóng ẩm. - Lưỡng cư không thấy ở vùng nước lợ cũng như ở các đảo đại dương do cấu tạo đặc biệt của da lưỡng cư làm chúng không thể sống được trong nước có hàm lượng muối 1-1,5% (vỡ ở nồng độ muối này cân bằng thẩm thấu qua da bị phá hủy). Tuy nhiên một số vẫn có khả năng sống ở nước lợ. Trứng lưỡng cư cũng bị ảnh hưởng bởi độ pH: khi pH giảm, trứng lưỡng cư có thể không phát triển. * Tậptính hoạt động ngày đêm và mùa : - Lưỡng cư là động vật biến nhiệt: nhiệt độ cơ thể cũng như sự hoạt động phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Nói chung, chúng chỉ ra kiếm ăn ở những điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi nhất. Những loài lưỡng thê sống ở cạn hầu hết đi kiếm ăn vào ban đêm hoặc trong buổi hoàng hôn vỡ khi đó độ ẩm thường cao, cũn về ban ngày chúng trú vào những hang hốc có khí hậu thích hợp. Cá cóc Tam đảo sống ở vực nước nên hoạt động cả vè ban ngày. Trong các vùng nhiệt đới nóng ẩm hoạt động mùa của lưỡng cư không rừ rệt. Về mựa đông lưỡng cư sống ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam có hiện tượng trú đông, khi đó các loài lưỡng cư thường trú mỡnh trong cỏc hang hốc hay trong cỏc chỗ trỳ kớn, đôi khi chỉ trong những đêm ấm áp chúng mới đi bắt mồi, Ở những vùng ôn đới hầu hết các loài lưỡng cư đều ngủ đông. Suốt mùa đông than nhiệt thấp và sự khan hiếm thức ăn, cũng không đi bắt mồi suốt thời gian trú rét. Ếch đào hang trong đáy bùn của ao hồ giấu mỡnh dưới những khúc gỗ hoặc trong những kẻ nứt. Đôi khi cóc đào vào long đất đến độ sâu hơn 30 cm. Kỡ giụng ngủ đông bên dưới những tảng đá trong long suốii dưới những khúc gỗ trong những gốc cây mục rửa hoặc hang đào ẩm thấp trong đất. Trong thời kỡ ngủ đông, tất cả các hoạt động của cơ thể như tiêu hóa hô hấp, bài tiêt và tuần hoàn đều được giảm thiểu. Ở những vùng cực nóng lưỡng cư cũng đi vào trạng thái tương tự gọi là sự ngủ hè trong suốt mùa nóng và mùa khô hạn. * Tập tính ăn uống của lưỡng cư Các loài lưỡng cư ăn động vật hoặc ăn tạp nhất là những cá thể trưởng thành thức ăn phổ biến là động vật, ấu trùng lưỡng cư ăn thực vật, một số kỡ going thủy sinh ăn thực vật, các loài tảo hay bó hữu cơ. Thức ăn chủ yếu của lưỡng cư là côn trùng, giáp xác, nhện, than mềm, cá. Đôi khi những loài có kích thước lớn bắt ăn cả thằn lằn và chuột, một vài loài ăn cả đồng loại. Lưỡng cư sau khi biến thái chỉ bắt những con mồi cử động. Chế độ ăn thay đổi theo tuổi.
  17. Hầu hết nũng nọc của cỏc loài ếch đều ăn chất bó động vật và thực vật. Nhái con ăn chủ yếu sâu bướm, kiến, nhện trong lhi nhái lớn ăn nhiều côn trùng. Ếch đồng nhỏ ăn những động vật có vỏ mềm ( châu chấu nhỏ, kiến, nhện), cũn ếch đồng lớn cũn ăn cả cua, ếch, giun, có khi cả cá con. Có rất nhiều trường hợp ếch ăn cả nũng nọc của chỳng ( hiờnj tượng ăn đồng loại). Thức ăn của nhiều loài lưỡng cư thay đổi tùy nơi ở ( các loài lưỡng cư ở miền núi ăn ít loài thức ăn hơn các loài sống ở đồng bằng. Thành phần thức ăn thay đổi tùy theo tàm vóc của loài vật. Các loài lưỡng cư có kích thươc trung bỡnh và lớn ( ếch đồng, nhái bám lớn ) có miệng rộng ăn nhiều loại thức ăn và nhiều cỡ côn trùng có vỏ cứng. Các loài lưỡng cư có cở nhỏ, miẹng hẹp ( ễnh ương, cóc nước, nhái bầu ) chỉ ăn một số ít loài, chủ yếu các loại côn trùng có vỏ mêm như kiến mối. Lưỡng cư ăn nhiều loại thức ăn : 22 loại thức ăn như ếch đồng, cóc nhà 20 loại, ngóe ( Ranalimnocharis) 18 loại nhái bầu vân vừa có cỡ nhỏ chỉ ăn 5 loại Những loài ăn chuyên 1 hoặc một số loại thức ăn nhất định, với số lượng không nhiều như ếch giun(ichthyophis bannanicus)chuyên ăn giun đất.Cóc rừng chuyên ăn kiến, ếch gai ăn các loại ếch khác * Sự sinh sản - Sự phõn biệt đực cái ở lưỡng cư được xác định bởi những đặc điểm thứ cấp:Có thể là những đặc điểm cố định hoặc nhữnh đặc điểm tạm thời vào mùa sinh sản + Những đặc điểm có tính cố định như: cá thể cái thường mang trứng nên to hơn cá thể đực ( ếch, nhái, cóc nhà, cóc nước nhái bầu ) Riêng một số loài như ếch núi ( ranakuhky, rspinoas) con đực lớn hơn con cái;Màng nhĩ ở con đực to hơn hẳn màng nhĩ của con cái.Hầu hết lưỡng cư không đuôi đực ở cổ sau cằm có một hoặc hai túi kêu có tác dụng như cơ quan cộng hưởng làm tăng cường độ âm thanh của cá thể đực trong mùa sinh sản để gọi con khác + Đặc điểm sinh dục thứ cấp tạm thời chỉ thể hiện trong mùa sinh dục như sự thay đổi màu sắc, hoa văn trên than chai sinh dục ở gốc ngón tay cái trên bàn hoặc trên ống tay cái của đựcếch nhái không đuôi. Về mùa sinh dục nhiều loài lưỡng cư có đuôi thường có màu sắc sặc sỡ gọi là “ bộ áo cưới ”. Ở cá cóc tam đảo đực ngay khi bước vào sinh sản đó xuất hiện hai vạch màu hơi xanh,ở mỗi bên than vàđuôi về sau tạo thành màu xanh đậm và có ánh bạc, chỳng chỉ mất hẳn vào cuối thỏng 3. Vết chai sinh dục ở ngón tay cái của đực có tác dụng như các mấu làm cho động tác ôm cá thể cái khi ghép đôi được chặt chẽ hơn.Màu sắc rực rỡ của bộ áo cưới,hỡnh thự đặc biệt có tác dụng kích thích con cái dẻ trứng. - Sự ghép đôi giao phối , thụ tinh:
  18. Sự giao hoan sinh dục,thu hỳt bạn tỡnh: Trước khi bước vào ghép đôi giao phối, cá thể đực và cá thể cái đó thực hiờn những cửchỉ ,động tác đặc trưng để có thể nhận ra nhau .Vd: ở cỏ cúc Tam đảo cá đực bám sát con cái,đớp vào chân con cái để gây sự chú ý. Sau một hồi nếu con cái to vẻ không đồng tỡnh thỡ sự giao hoan này thất bại. Nếu có sự đồng tỡnh,con đực sẽ lại gần tiếp xúc mừm của nú với mừm con cỏi và di chuyển đến tận cổ con cái Tiếng kêu của con đực có ý nghĩa quan trọng trong sinh sản của lưỡng cư.Đó là những tín hiệu gọi nhau đến địa phận sinh sản.Một số loài có bản năng nhớ nơi dể trứng.Êchs đực trở lại ao hồ trước con cái và bắt đầu kêu.Trong suốt thời gian sinh sản,hầu hết các ếch đực đều phát ra những giai điệu để thu hút ếch cái và cả những con ếch trống khác về địa điển sinh sản.Mỗi loài ếch đều có tiếng gọi đặc trưng,tiếng kêu của ếch vào mùa giao phối sẽ khác với tiếng kêu thông thường của chúng - Tập tính ghép đôi giao phối thụ tinh: Sự giao phối ở hầu hết lưỡng cư không đuôi được thực hiện bằng cách cá thể đực ôm cá thể cỏi. Cũn lưỡng cư có đuôi là do con đực cuốn đsuôi vào con cái.Hiện tượng ghép đoi khi giao phối có ý nghĩa quan trọng vỡ nếu thiếu sự đẻ trứng sẽ không bỡnh thường hoặc cáthể cái không đẻ được trứng. Ở lưỡng cư không đuôi sự ghép đôi tao điều kiện cho thụ tinh vỡ tinh trựng khi được phóng ra dễ dàng kết hpj với trứng hơn, nhờ dó tỷ lệ trứng được thụ tinh ở lưỡng cư không đuôi cao. Ở lưỡng cư có đuôi sau khi ghép đôi, chỳng cuốn lấy nhau, con đực phóng túi tinh dịch, huyệt con cái lộn ra ngoài và bắt lấy bó tinh đó. Nên ở nhiều loài lưỡng cư có đuôi, trứng được thụ tinh trong ống dẫn trứng của con cái.Vd: cá cóc đực (triturus) tiết một bú tinh dịch bỏm vào lỏcõy thủy sinh,con cỏi dung huyệt bắt lấy bó tinh và chiết lấy tinh trùng.Các loài lưỡng cư không chân:Êchs giun đực có phần dài của huyệt làm nhiệm vụ giao cấu như:Ếch châu Mĩ (ascaphus) , cóc đẻ con châu phi có hiện tượng kết đôi con cái đẻ trứng ra sau đó con đực tiến đến thụ tinh cho đám trứng. * Sự sinh sản - Thời Gian sinh sản: Nhỡn chung sự sinh sản,phỏt triển của lưỡng cư chủ yếu vào mùa có nhiệt độ ấm trong năm.Lưỡng cư thường sinh đẻ vào mùa xuân hè.Ở miền nhiệt đới mùa sinh sản bắt đầu vào mùa mưa.Ở vùng ôn đới vào mùa xuân hè. Vd: Ởmiền bắc nước ta ,cúc nhà, hiu hiu đẻ trứng vào tháng 11-12 , nhiều loài ếch đồng,chẩu ngóe,nhái bầu vân đẻ trứng từ tháng 2 và có thể kéo dài đến tháng 7.Những loài lưỡng cư ở miền núi,thời gian đẻ trứng thường muộn hơn + Nơi đẻ trứng: Đa số các loài đẻ trứng vào trong nước một số ít đẻ ngoài nước.Vd cóc gai mắt(megophryslongipes) đẻ trứng trong đám rêu ở thân cây, nhái cây(rhucophorus) đẻ bọc trứng ở lácây,bờ đất trên mặt nước.Con vật khi đẻ trứng tiết ra chất nhầy bao lấy trứng, dung chân sau đánh sủi lên thành khối bọt,rồi bỏ đi.
  19. + Cỡ lớn trứng thay đổi tùy loài,loài có cỡ lớn thường đẻ trứng lớn hơn loài cáthể nhỏ.Trứng ếch đồng,ngóe có đường kính 0,8-1,7mm, trứng cácóc tam đảo có đường kính 3mm. một số loài ếch ở miền núi, trứng có kích thước tới 5-6mm + Số lượng trứng thay đổi theo kích thước cơ thể: Nói chung loài cỡ nhỏ đẻ ít hơn loài cỡ lớn.Vd ếch đồng,chẩu đẻ 3000 trứng,ngóe 2500 trứng; cóccó kíh thước nhỏ đẻ 100-500 trứng loài có sự bảo vệ trứng đẻ ít : ếch giun đẻ 20 trứng + Ở lưỡng cư không đuôi, trứng đẻ vào nước thường gắn với nhau làm thành từng đám (ếch đồng,ngóe), hay thành khối trũn (nhỏi bộn hila) hoặc thành dải(cúc bufo). Cúc tớa (bombina) đẻ từng trứng rời rạc gắn vào thực vật thủy sinh + Số lứađẻ hằng năm của lưỡng cư thay đổi tùy vùng.Ở vùng ôn đới chúng thường chỉ đẻ 1 lần trong năm.Vùng nhiêt đới có thể đẻ nhiều lần. Ở viêt nam các loài lưỡng cư có thể đẻ 2-3 lần trong mùa sinh sản + Sự chăm sóc trứng: Có khoảng 10% số loài lưỡng cư không đuôi và một vài loài lưỡng cư không chân có bản năng chăm sóc trứng ở những mức độ khác nhau.Đơn giản nhất là tập tính chuẩn bị nơi đẻ trứng như nhiều loài nhái bén Hyla. Ếch cây đẻ trứng vào lá cây, bờ đát, bờ rào quanh vực nước hoặc cành cây mọc chỡa ra trờn mặt nước. Đám trứng đẻ ra có nhiều chất nhầy, con cái dung chi sau đảo trứng tạo thành đám bọt lớn.Ếch giun đào một hộc nhỏ trong đường hầm gần nước ếch giun ấp trứng để đẻ trứng sau đó lấy than quấn đóng trưứng để bảo vệ khỏi bi (ichthyophis bananicus) khô Nhiều lưỡng cư ở vùng nhiệt đới có hiện tượng chăm sóc trứng phức tạp hơn.Vd: nhỏi tỳi (gastrotheca) ở nam Mĩ sống trên cây cvó nếp da lưng làm thành đôi túi có khe thong ra ngoài. Trứng phát triển trong túi đến khi nở thành nũng nọc và nhỏi con.Nhỏi cõy Xõy lan (rhacophorus reticulates) mang trứng trong bụng con đực cóc mang trứng (Alystes obstetricans) sau khi thgụ tinh cuộn giải trứng vào đùi chi sau khoảng 3 tuần liền, đến đem thỡ ngõm mỡnh xuống nước cho đến khi trứng nở * Sự thớch nghi bảo vệ Lưỡng cư có nhiều kẻ thù trong động vật có xương (từ cá đến thú) và cả động vật khômg xương (nhện, bọ cạp, rết). Sự tự vệ của chúng thường có tính chất thụ động.Nhỡn chung chỳng chạy trốn kẻ thự tỡm nơi ẩn nấp.Cóc bùn gặp nguy hiểm dùng chân sau đào một cái lỗ rồi trốn dưới đó Nhiều loàicú màu sắc mang tớnh chất tự vệ: nhỏi bỏm sống trên than cây có màu vàng đất hoặc màu nâu ( hót cổ ). Các loài bám lá sống trên cây thường có màu xanh ( chàng hiu).
  20. Nhái bám nhỏ ( philautus) dễ lẫn trong đám địa y. Nhiều loài ếch có vết đen trên than làm ngụy trang cho những bộ phận chủ yếu của con vật ( mắt, đùi,ống chân ) Cóc thường dễ lẫn với đám đất, nhiều loài có thể thay đổi màu sắc cho phù hợp với môi trường ( ếch, nhái, chàng hiu ) Một số loài lưỡng cư có màu sắc sặc sỡ, có tính chất báo hiệu: ví dụ như cóc tía khi gặp nguy hiểm chúng cong lưng, nằm ngửa để lộ phần da phía trước bụng có màu sắc sặc sỡ để kẻ thù phải sợ; một số lưỡng cư có khả năng giả chết: cóc tía, nhái bầu khi gặp nguy hiểm thỡ nằm ngữa, nhắm mắt, nớn thở. Một số loài lưỡng cư không đuôi phình thân thật lớn để dọa kẻ thù miệng mở to để dọa nạt. Thân phòng lớn giúp con vật ẩn giật trong khe hóc khó bị lôi ra ngoài ( Ênh Ương, cóc nhái) Vủ khí lợi hại nhất của lưỡng cư là các tuyến da tiết ra chất đọc. Một số tuyến độc phân tán hoặc tập trung thành các khối tuyến để bảo vệ những nơi trọng yếu như đầu. Ví dụ: Nọc của cóc Bufo mariama làm chết cho khi cắm phải, đặc biệt là ếch độc Nam Mĩ, có nhựa đọc * Tuổi thọ: Tuổi thọ lưỡng cư không cao lắm trong điều kiện tự nhiên, tuổi thọ lưỡng cư thấp rất nhiều: ếch khoảng 6 năm, Sa dong 3 năm. Tuy nhiên những con vật nuôi nhốt lại sống thọ hơn. Ví dụ một con ếch chậu Mĩ đạt 30 tuổi, một con ểnh ương cũng sống đến độ tuổi 31, một con kỳ dong mang ẩn nước lớn sống đến 29 năm, một con kỳ going đốm nhỏ 25 năm ở vùng ôn đới, lưỡng cư tử vong do điều kiện khí hậu thời gian ngủ đông, nhiệt độ lạnh, nhiều băng tuyết hoặc sau khi đẻ trứng do khí hậu quá khô ở vùng nhiệt đới sự tử vong của lưỡng cư là do kẻ thù: cá, bò sat, chim ăn lưỡng cư III. Lớp bò sát Cũng như cá và ếch bò sát mang những tập tính riêng của chúng điều kiện sống Bò sát là nhóm động vật có xương sống đầu tiên thích nghi hoàn toàn với đời sống trên cạn. Chúng có khả năng sống trong những điều kiện sống thay đổi nhiều hơn so với lưỡng cư, đặc điểm nổi bật là khả năng chịu đựng độ khô hạn cao ở môi trường cạn. Ngay cả giai đoạn phôi với khả năng này bò sát không chỉ tồn tại được những nơi có khí hậu nóng ẩm như lưỡng cư mà còn sống được những vung sa mạc rất kho. Tuy nhiên, do đặc điểm biến nhiệt mà bò sát lại ưa sống ở những môi trường có nhiệt độ cao. Vì vậy chúng phân bố một cách phong phú đa dạng: ở miền nhiệt đới, càng lên phía Bắc số lượnglòai bò sát giảm đi rỏ rệt Sau khi chiếm lĩnh môi trường cạn, bò sát đã tiến hóa để thích nghi với những môi trường sống khác nhau trên trái đất. Trong mổi môi trường sống, bò sát có những thích nghi quan trọng. Tùy thuộc vào nới ở, nơi sinh sống có thể chia bò sát theo các nhóm: trên cây và bay, dưới mặt đất, nhóm trên mặt đất và nhóm dưới nước
  21. * Hoạt động ngày đêm: hoạt động ngày đêm của bò sát phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và phần nào liên quan đến thức ăn. Bò sát hoạt động khi có nhiệt độ môi trường phù hợp nhất, nói chung là bò sát thích nhiệt, lấy thêm nhiệt vào cơ thể. Do đó chúng chỉ hoạt động ở nhiệt độ thuận lợi nhất trong ngày. Giới hạn nhiệt độ thay đổi tùy loài và tùy vùng phân bố trong khoảng 20 – 40 oC. Hầu hết các loài bò sát vùng ôn đới kiếm ăn vào ban ngày, trừ một số ít hoạt động vào lúc hoàng hôn, chỉ có họ tắc kè là đi ăn đêm. Đa số bò sát vùng nhiệt đới đi ăn đêm vì ban ngày khí hậu quá nóng - Hoạt động ngày đêm của bò sát thay đổi theo mùa: ở miền Bắc nước ta có nhiều loài hoạt động vào ban đêm nhưng về mùa xuân chúng vẩn có thể hoạt động cả ban ngày. Ví dụ rắn hổ mang vào mùa hè chúng thường kiếm ăn vào ban đêm, mùa xuân, khi đói chúng vẩn đi kiếm ăn vào ban ngày Hoạt động ngày đêm còn phụ thuộc vào tuổi và đặc điểm sinh lí, được thúc đẩy bởi nhu cầu sưởi ấm trong mùa đông, thỉnh thoảng có nhiều ngày nắng ấm nhiều loài bò sát rời khỏi hang đến những chổ kín gió nhiều nắng và yên tỉnh để sưởi ấm và thu lấy nhiệt Rắn hổ mang lượng. Khi nuốt được mồi to một số loài có tập tính sưởi năng để tăng cường tốc độ tiêu hóa Hoạt động mùa phụ thuộc vào sự biến đổi khí hậu trong năm: Mùa đông lanh lẽo ở vùng ôn đới và hàn đới bắt buộc nhiều loài bò sát phải ngủ đông. Trong trạng thái ngủ đông, hoạt động trao đổi chất của cơ thể giảm đến mức tối thiểu, t hời gian này kéo dài từ 5 – 7 tháng, có khi 8 đến 9 tháng ở vùng cực Bắc Ở miền nhiệt đới có khí hậu ổn định, nguồn thức ăn ổn định, bò sát có thể hoạt động quanh năm. Những nơi có sự phân hóa mùa rõ rệt như miền Bắc nước ta, bò sát có hiện tượng trú đông, trong những ngày nhiệt độ giam xuống < 19 0C, bò sát chui vào hang,hố để trú đông, nhu cầu năng lượng giảm xuống nhưng chúng vẩn tỉnh. Trong thời gian trú đông, gặp thời tiết ấm áp chúng vẫn bò ra kiếm ăn. lúc trú đông chúng thường tập trung từng đàn từ 2 – 10 con( tăc kè, rắn hổ mang) có thể nhiều hơn Ở những vùng quá nóng và khô, thiếu thức ăn,một số loài có hiện tượng ngủ hè. Ngủ hè không phải do nhiệt độ khô mà do thiếu thức ăn.
  22. Ở Tây Nguyên, loài rùa Indotestudo elongata vào mùa khô, rúc vào nơi trú ẩn, không cử động, không ăn uống nhưng cũng không ngủ, gọi là ngủ hè. Hiện tượng này có lẽ do thiếu thức ăn tươi trong mùa này. Trong lớp bò sát rắn hoạt động không theo quy luật rõ ràng, rắn là động vật ăn mồi lớn , có khi chiếm 2/3 đến ắ trọng lượng cơ thể, rắn có thể nằm trú ẩn hàng tuần, hàng tháng. Khi đói rắn đi kiếm ăn bất cứ lúc nào. * Thức ăn: - Thành phần thức ăn: Bò sát có thể ăn thực vật, ăn thịt hoặc ăn tạp. Nhóm ăn thực vật: bao gồm ít loài rùa, thằn lằn. Các loài rắn hầu như không ăn thực vật, trừ loài rắn nâu.( Herpetron tentaculatum) ở miền nam Việt Nam thường sống trong ao hồ, ăn tảo xanh. Một số loài ăn thực vật như cự đà ( Conolophus) ăn lá cây keo, Thằn lằn sần ( Trahysaurus) ở châu úc ăn quả dâu và nấm. Một số loài rùa cạn ăn quả, lá non. Nhóm ăn đọng vật: Da số các loài bò sát ăn động vật : ăn ếch, nhái, bò sát khác, chim, thú nhỏ, cá, giun và nhiều loại côn trùng. Mỗi loài bò sát đều có một đối tượng thức ăn chủ yếu: các loài sống trên cây ăn các loại côn trùng, ngoài ra ăn nhện, giun đất Rắn ráo ăn chuột , trăn có thể ăn thú lớn, một số rắn độc ăn rấn nhỏ. Một số loài bò sát ăn thịt lẫn nhau, con lớn nuốt con nhỏ: thằn lằn bóng, thạch sùng gọi là hiệh tượng ăn thịt đồng loại. Nhóm ăn tạp: tương đối ít: ba ba ăn cá, cua, ốc, củ, lá cây ; Rùa mốc ăn thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác, thân mềm, ếch nhái Thành phần thức ăn của bò sát thay đổi theo tuổi, Cá sấu non ăn động vật không xương đến khi lớn chúng ăn động vật có xương: chim, thú Có loài rùa khi nhỏ ăn động vật, lớn lên ăn thực vật tùy thuộc vào nhu cầu cơ thể. Thành phần thức ăn có thể thay đổi theo mùa vì số lượng và thành phần con mồi thay đổi theo điều kiện - Tập tính bắt mồi và ăn mồi: Đa số rắn đặc biệt rắn độc có tập tính rình mồi và bắt mồi, mai phục chờ con mồi đến đúng tầm là chộp lấy. Nhiều loài bò sát có tập tính đi tìm mồi tích cực thường là những loài thằn lằn và rắn ăn sâu bọ, thường chúng có giác quan phat triển và con mồi thường có kích thước nhỏ. Tăc kè hoa dùng lưỡi bắt mồi từ xa. - Tính phàm ăn: Những loài bò sát cỡ nhỏ thường đòi hỏi ăn thường xuyên hơn so Tắc kè hoa dùng lưỡi bắt mồi với những loài có kích thước lớn. Thằn lằn cỡ nhỏ có thể tìm bắt mồi suốt ngày , thời gian
  23. tiêu hóa mồi chỉ đòi hỏi vài giờ. Những loài bò sát cỡ lớn thường ăn mồi cỡ lớn nên tốc độ tiêu hóa con mồi chậm, những loài này có bữa ăn thưa, có khả năng ăn một lượng thức ăn lớn trong một lúc. - Tính nhịn đói của bò sát cũng rất đáng kể: các loài bò sát nhủ đông, ngủ hè nhịn ăn trong suốt thời gian ngủ, có thể kéo dài 6 -7 tháng. Những loài bò sát cỡ lớn ăn con mồi cỡ lớn nên có thể nhịn ăn lâu hơn các loài bò sát nhỏ. Ví dụ: Trăn mắt võng ( Pytho reticunlatus) có thể nhịn ăn hai năm trong khi thằn lằn chỉ có thể nhịn đói được trong vòng một tuần. Sự sinh sản: Quá trình sinh dục cũng như phát triển ở bò sát tiếp diển ở cạn. Những loài có phần lớn đời sống ở nước ( cá sấu, rùa biển) vẫn lên cạn vào mùa sinh dục. - Sự sai khác đực cái: Sự sai khác bên ngoài giữa cá thể đực và cá thể cái thể hiện không rõ ràng lắm. Thường thì cá thể cái vì mang trứng hoặc mang con nên lớn hơn cá thể đực. Song khi còn non ở nhiều loài bò sát, cá thể đực lại lớn hơn cá thể cái cùng lứa: ở một số loài rắn như rắn ráo ( Ptyas), rắn rào ( boiga), rắn hổ mang (Naja) Vào mùa sinh sản, con đực thường đánh nhau để giành con cái ( rắn hổ mang, rắn ráo) nên cơ thể đực thường to khỏe. Con đực các loài rùa nước ngọt, đầm lầy thường nhỏ hơn con cái. Ngược lại rùa ở cạn, rùa biển con đực thường lớn hơn con cái. Sự khác biệt giới tính của bò sát thể hiện ở hình Sai khác chủng tính rùa núi vàng thái cơ thể. Yếm rùa đực thường lõm, còn ở con cái ( indotestudo elongate) thì phẳng. Gốc đuôi, số vảy đuôi, vảy bụng của con đực và con cái ở nhiều loài rắn khác nhau. Rắn roi hoa ( Dendrelabis pictus) cá thể đực có mắt to hơn cá thể cái. Chân trước vich đực có những vuốt dài để bám vào mai vich cái khi giao phối. Màu sắc con đực nhiều loài thằn lằn sặc sỡ hơn con cái : nhông xanh (Calotes versicolor). ở nhiều loài vào thời kì sinh sản mang màu sắc của “ bộ áo cưới “, màu sắc thằn làn đực rực rỡ hơn lúc thường. Đầu thằn lằn tốt mã Eumeces có màu đỏ gạch, cá thể đực vào mùa sinh dục thường dữ hơn con cái
  24. - Tập tính giao hoan Vào mùa sinh sản nhiều loài bò sát thể hiện đặc tính sinh thái đặc trưng của tập tính giao hoan, thể hiện ở chỗ: 2 cá thể đực cái biết tìm nhau. Tiếng kêu của rùa đực vào mùa sinh sản có ý nghĩa lôi cuốn con cái. Rắn đực hoạt động mạnh tich cực tìm kiếm con cái. Trong cuộc tìm kiếm con cái nhiều loài như thằn lằn, kì đà, tac kè, cá sấu đực đánh nhau khá quyết liệt để giành con cái: Tập tính sinh dục rắn đuôi kêu đực quấn lấy nhau , mổ nhau, con thắng sẽ được giao phối với con cái . Cuộc “ múa giao hoan “ còn mang tính chất thông báo cho con cái biết và kích thích con cái trước khi giao phối - Mùa sinh sản: Mùa sinh dục tùy thuộc vào khí hậu: ở vùng ôn đới vào mùa ấm, sau khi ngủ đông một thời gian ngắn. ở vùng nhiệt đới vào trước mùa mưa. ở miền bawvs Việt Nam, mùa sinh sản kéo dài từ mùa xuân sang mùa thu Mùa sinh sản thay đổi tùy loài và tùy từng địa phương: rắn ráo ( Ptyas korros) ở Quảng Đông Trung Quốc đẻ vào tháng 5 – 6, ở Việt Nam vào tháng 6 – 8 và ở Java ( Indonesia) đẻ vào tháng 8. - Giao phối: Bò sát đực có cơ quan giao phối là dương hành để đua tinh trùng vào huyệt của con cái.Sự thụ tinh thực hiện bên trong ống dẫn trứng. Thông thường ở bò sát con đực đóng vai trò chủ động và tích cực. - TRứng và số lượng trứng: Trứng bò sát lớn hơn trứng cá. Trứng có hình dạng, kích thước khác nhau tùy theo loài. Trứng tăc kè, thạch sùng, ba ba đồi mồi có hình tròn. Trứng nhỏ nhất vào khoảng 2 – 3 mm, trứng lớn nhất là của cá sấu, kì đà, rùa vào khoảng 90 – 120 mm. Cỡ lớn của trưng tăng theo cỡ lớn con vật.
  25. Số lượng trứng thay đổi tùy loài, nhìn chung bò sát ở cạn đẻ ít trứng hơn các loài sống ở nước. Số lượng trứng cũng có liên quan tới mức độ bảo vệ trứng và cỡ lớn con vật. Tăc kè, thạch sùng thường đẻ 2 trứng Kì đà đẻ 17 – 35 trứng. Rắn ráo đẻ 6 -11 trứng Trăn mốc đẻ 80 -100 trứng. Ba ba đẻ 20 – 30 trứng. Vich đẻ khoảng 100 – 150 trứng. Ơ rắn sau khi giao phối,tinh trùng nằm trong ống dẫn trứng của con cái trong nhiều tháng đến vài năm. Đa số bò sát đẻ trứng, nhưng một sồ loài rắn và thằn lằn đẻ (rắn liu điu, rắn mòng, rắn hai đầu, rắn lục ). Thằn lằn giống Mabuia, rắn biển, rắn mối(Mabuia multifasciata). Đẻ con ở bò sát là hiện tượng noãn thai sinh, trứng được ấp trong cơ thể con mẹ, phôi phát triển lớn dần lên nhờ chất noãn hoàng dự trữ của trứng. Khi đã được hình thành, bó sát con tự cắn rách lớp màng trứng, chui ra ngoai qua lỗ huyệt. Với hình thức đẻ con, bò sát con trá được những bất lợi của môi trường. Hiện tượng đẻ con này ít gặp ở vùng nhiệt đới, chỉ thường gặp ở những loài sống trong môI trường có khí hậu mát( vùng ôn đới, núi cao). - Số lứa đẻ: Thay đổi tùy vùng, vùng ôn đới bò sát chỉ đẻ một lứa/ năm. Vùng hàn đới co loài phảI hai năm mới đẻ một lứa. ở vùng nhiệt đới, số lứa đẻ thay đổi tùy loài từ 1-4 lứa. Mọt số loài rắn, cá sấu, kì đà đẻ 1 lứa/năm. Tắc kè, thạch sùng, một số loài rùa (Clemmys) đẻ 2 lứa/năm. Rắn ráo (Ptyas korros) đẻ 4 lứa/năm. Vích, đồi mồi, ba ba ở Việt Nam có thể đẻ 3-4 lứa/năm. - Nơi đẻ, bảo vệ và chăm sóc trứng Bò sát hường đẻ trứng vào trong hốc đất thiên nhiên, khe đá hoặc do con cái đào. Mọt số bò sát như tắc kè, thạch sùng đẻ trứng dính vào giá thể, thằn lằn, rắn, đẻ trứng vào hang, hốc cây, bụi cây. Có trường hợp cá thể mẹ tự đào hang( đồi mồi, vích) hoặc làm tồ bằng bùn hoặc cành lá cao tới 1 mét, đường kính cao tới 2 mét, sau đó cá thể mẹ leo lên mặt tổ đẻ khoảng 80 trứng vào đấy như cá sấu hoa cà (Crocodilus Porosus) .
  26. Hiện tượng chăm sóc trứng thay đổi tùy loài: có thể nằm gần ổ trứng như tò te (Physignathus Cocincinus), cá sấu hoặc ba ba trơn (Pelodicus Sinensis ) hoặc cuốn lấy trứng như trăn ( có thể coi là ấp trứng). Các loài rùa biển đào hố đẻ trứng, phủ cát che kín rồi bỏ đi. Nưng có một số loài như thạch sùng, kỳ đà, sau khi đẻ trứng trong các hang hốc, không biết chăm sóc con và bảo vệ con, đôI khi Rùa đẻ trứng còn ăn cả con. - Sự sinh trưởng: tùy thuộc vào loài và điều kiện môi trường sống. Một số thằn lằnthành thục sau một năm (Tắc kè) nhiều loài rùa thành thục ở tuổi thứ 2 đến thứ 5, đôi khi tơi năm thứ 10. Trong đời sống, các loài bò sát thường có hiện tượng lột xác, trong thời gian lột xác cơ thể chúng lớn lên, sau đó được thay thế bằng lớp vỏ mới. * Tuổi thọ: * Tuổi thọ của bò sát: Bò sát khá thọ, việc xác định tuổi thọ của bò sát chỉ mang tính tương đối vì người ta ít có điều kiện để biết một con vật từ khi mới nở đến khi con vật chết. Tuổi thọ của bò sát cũng như các loại động vật khác tuỳ thuộc vào loài, điều kiện ăn uống và môi trường. Tắc kè khoảng 07 năm, Rắn hổ mang khoảng 12 năm, Trăn khoảng 20 năm, các loài rùa cạn sống lâu hơn 30-35 năm. Các loài rùa Testudo sống trên 100 năm. Tuổi thọ của Thằn lằn kém hơn chỉ dưới 10 năm. * Sự thích nghi bảo vệ: Mỗi loài Bò sát có những ình thức tự vệ riêng, có thể là thích nghi thụ động hoặc thích nghị chủ động. Hình thức thích nghi thụ động: Có thể là ẩn nấp, chạy trốn là hình thức đơn giản và phổ biến ở mọi loài Bò sát. Hoặc là hình thức nguỵ trang. Màu sắc nguỵ trang: Rắn liu điu (Enhyđris Plumbea) thân có màu chì dễ lẫn với bùn đất trong các vực nước, Ô rô vảy (Acanthosaura Lepidogaster), Rắn roi (Ahaetunla Prasina) thân có màu dễ lẫn vào cành lá. Tắc kè, Nhông cánh (Praco Maculatus) có màu nâu dễ lẫn dưới vỏ cây . Cấu tạo nguỵ trang: Rắn sống trên cây có thân dài, nhỏ vừa dễ di chuyển trên cành nhỏ vừa dễ lẫn với dây leo. Rắn giun (Ramaphotyphlopsbramius) rắn hai đầu đỏ (Cilinđrophis Ruf) có đầu đuôi giống hệt nhau dễ đánh lừa. Nguỵ trang bằng bắt chước những loài rắn độc: Rắn giả cạp nia (Lycođonsubcintus) Rắn giả hổ mang (Pseudosenodon Macrops) có thể bạnh cổ và dựng đứng cổ lên như: Hổ mang Hình thức tự vệ tích cực bằng tập tính: Trong những hoàn cảnh nguy hiểm khác nhau, Bò sát có thể có những hình thức tự vệ khác nhau, những hình thức đó có thể giống nhau giữa các cá thể trong cùng loài: Một số loài như Hổ mang (Naja Naja) Hổ trâu có
  27. thể bạnh cổ phun phì phì. Nhông xanh (Klotesversicolor) có thể phình to cổ để lộ phần da dưới vảy đỏ như máu. Rắn hai đầu đỏ khi gặp nguy hiểm có thể dấu đầu vào các khoanh thân, dựng đuôi có màu đỏ để doạ kẻ thù. Cameleo nuốt khí làm cơ thể phình to một cách kỳ dị, Rắn khiến xám (Olygođon Cinereus) dùng mút đuôi nhọn và cứng làm kẻ thù bị đau. Hiện tượng tự cắt đuôi ở Thằn lằn cũng là hình thức tự vệ. Hình thức tích cực nhất ở Thằn lằn, rắn, cá sấu là cắn, truyền nọc độc (rắn độc), dùng đuôi quật ngã kẻ thù (cá sấu, kỳ đà) Rắn giả cạp nia (ophite subcintus) Tắc kố IV. Lớp chim Chim phân bố hầu khắp trên thế giới, thâm nhập vào cả vùng địa cực. Chim có mặt ở trên những dảy núi cao như Hymalia vừa có cả ở vung sa mạc Sahara. Trong một vùng chim có mặt ở mọi nới: Từ đồng ruộng đầm lầy, rừng cây đến cả sông ngòi Sở dỉ chim có sự phân bố rộng như vậy là vì chim là động vật đẳng nhiệt, có khả năng bay lượn khắp nơi, lại vừa mang những tập tính rất riêng, rất đọc đáo nên có thể thích nghi với nhiều điều kiện khác nhau *Khả năng điều hòa thân nhiệt: chim là động vật máu nóng và là động vật có khả năng duy trì nhiệt cơ thể hầu như không đổi và không phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, có được khả năng này là do chim có thể dử được sự cân bằng nhiệt cân bằng trao đổi chất và sự tỏa nhiệt của cơ thể. Khi chim nóng sự mất nhiệt tăng lên do các mạch máu giản ra (tỏa nhiệt) và
  28. tăng nhịp thở (mất nhiệt qua sự bay hơi nước) khi trời lạnh, chim xu lông để ngăn cách không khí với da, các mạch máu ngoại vi co lại để giảm tỏa nhiệt. Nếu cơ thể không đủ khả năng ngăn chặn sự giảm nhiệt khi cơ thể bị lạnh thì cơ thể chim run, khi run cơ co mạnh sẽ tạo ra nhiệt cần thiết làm tăng nhu cầu thức ăn, oxy của chim: ở nhiệt độ là 0oC chim sẽ tiêu thụ lương oxy và thức ăn nhiều gấp 2 lần so với ở nhiệt độ 37 oC . Nhờ mức độ trao đổi chất cao đảm bảo cho thân nhiệt chim cao và không đổi, làm cho chim có thể chịu đựng những điều kiện khí hậu khó khăn Thân nhiệt chim cao, biến đổi từ 40 – 42 oC tùy loài. ở chim nhỏ, nhiệt độ cơ thể có xu hướng biến thiên nhiều hơn so với chim lơn. Ví dụ: Nhiệt độ cơ thể của chim Hông Tước nuôi có thể giao động 8 oC qua 24 giờ *Sự chuyển vận của chim Hình thức chuyển vận cơ bản của chim là bay, chỉ có ở một số loài chim Pinguin, đà điểu và vài loài chim sống ở đảo đại dương mất khả năng bay. Ngoài ra, chim còn có thể vận chuyển bằng cách trèo, leo trên cây, chạy hay đi trên mặt đất, hoặc có thể bơi lặn dưới nước. Tùy thuộc vào đặc điểm cơ thể, hình thức hoạt động, mức độ phân bố mà các loài chim khác nhau có những hình thức vận chuyển khác nhau, hoặc có thể phối hợp nhiều kiểu vận chuyển + Chuyển vận bay ở chim: Tùy thuộc vào hình dạng kích thước cánh của các loài chim khác nhau nhuw cánh dạng elip, cánh bay nhanh, cánh chim bay lướt hay là cánh chim bay cao tạo nên những kiểu bay khác nhau của loài chim - N h ữ n g l o à - Những loài chim có dạng cánh Elip như Sẽ, Gõ Kiến, Rẽ Quạt có kiểu bay chèo
  29. liên tục, lối bày chèo này còn khác nhau tùy loài tùy theo cở lớn của chim - Những loài có dạng cánh bay nhanh, dạng hơI thuôn, cánh hơI quặt về sau, đầu cánh nhọn mặt cánh phẳng không có khe hở giữa lông như những loài chim bắt mồi trong khi bay (Nhạn, én, Nhàn biền ) có kiểu bay đập cánh lên xuống giữ cho thân đứng yên một chổ, số lần đập cánh ít, sử dụng năng lượng cơ thể - Những loài chim ở biển có cánh hẹp ngang có dạng cánh bay lướt cánh hẹp ngang không có khe hở giữa lông như những chim bay liệng trên đại (hảI âu) thì có kiêu bay lướt động. Kiểu bay này lợi dụng sự thay đổi của gió để bay, bay nhanh cao - Những loài chím có dạng cánh bay cao như chim Ưng, Kền Kền, Cắt, Diều Hâu là những chim ăn thịt, cánh có các khe cánh, khung cánh vồng lên rõ ràng, bề rộng cánh lớn có kiểu bay lướt tĩnh, chim bay cao lợi dung cá buồng không khí để
  30. nâng cánh chim chim mất ít năng lượng Tốc độ bay của chim sai khác tùy thuộc điều kiện nhất định: bồ câu bay 20 -60 Km/h và có thể bay 500 – 600 Km/h, Quạ bay 25 – 30 Km/h, nhạn 40 – 45 km/h, sáo 45km/h - Vận chuyển trên mặt đất Trên mặt đất, chim có thể đi, hay chạy nhưng khả năng đI hay chạy khác nhau tùy loài và tùy môI trường sống: các loài chim ở nước, khi lên cạn thì di chuyể chậm chạp nặng nề: Cóc, Le, vịt, ngỗng, ngan Những chim sống ở đầm lầy lên miền đất cứng có thể đI giỏi: các loài diệc, rẽ, gà nước, có chân cao, ngón dài, lủi rất nhanh. Trong các loài chim ở cạn, đà điểu là chim chạy nhanh nhất: đà điều úc chạy 31 km/h, đà điểu châu Phi có thể chạy nhanh bằng ngựa, một số loài chim trong bộ sẽ có thể chạy nhanh trên mặt đất cứng - Vận chuyển bằng trèo ở chim Những loài chim biết trèo thì có các kiểu trèo khác nhau tùy loài: vẹt ngoài dung chân trèo còn dùng mỏ quặp vào cần cây ở trên để lấy chổ tựa rồi trèo từ cành này lên cành khác. gõ kiến nhảy trên thanh cây vuốt sắc nhọn bám chặt vào võ cây. chân én đều có 4 ngón đều hướng về phía trước có vuốt sắc nhưng ngắn, yếu, trong khi cánh dai nên én chỉ bám vào vách đá thân cây chứ không dung chân để di chuyển được - Vận chuyển dưới nước: Các loài chim gắn với môi trường nước có thể bơi hay lặn dưới nước để bắt mồi. Tuy nhiên khả năng bơi và lặn giữa các loài không giống nhau, nhiều loài như vịt, ngõng thiên nga thường xúc mỏ xuống bùn để bắt mồi. Nhiều loài vừa bới giỏi vừa lặn giỏi nên hiệu quả bắt mồi lớn: Chim cốc, le, cánh cụt cánh cụt có thể lặn dưới nước với vận tốc 10m/s để đuổi theo cá
  31. * Chu kỳ hoat động ngày đêm và mùa Chu kỳ hoạt động ngày đêm của chim gắn liền với khả năng kiếm thức ăn và chịu ảnh hưởng của độ chiếu sáng. Phần lớn những loài chim hoạt động vào ban ngày gồm những chim bắt mồi bằng thị giác , còn ngủ về ban đêm như chim ăn sâu bọ (chích chòe, chào mào, sáo, chim ăn quạ, hạt (vẹt sẽ gà ), những loài ăn thịch ban ngày( cắt, diều hâu ), chim ăn cá (bói cá, bòng chanh ). Cũng có những loài chim hoạt động vào ban đêm nhất là lúc hoàng hôn: chim ăn thịt đêm (cú vọ, thù thì ), một số loài chim nước (diệc, vạc, sếu, ngỗng), chim ăn sâu bọ những vùng vĩ độ cao, do ngày ngắn làm thời gian nghỉ của chim giảm đi nên chim tích cực kiếm ăn vào ban ngày để đảm bảo kiếm đủ mồi Nhịp điệu hoạt động ngày thay đổi tùy loài chim và tùy mùa. Các loài chim ăn sâu bọ thức giấc và kiếm ăn muộn hơn các loài chim khác. Mùa hè chim đi ăn sớm hơn mùa đông. Vào mùa sinh sản hoạt động ngày thay đổi khá rỏ ràng: gà gô, cuốc, tu hú hoạt động sáng sớm và chiều, nhưng trong mùa sinh sản chúng kêu suet ngày và đêm. Hoạt động mùa của chim khác hẳn ếch nhái, bò sát, gặp điều kiện không thuận lợi chim không trú đông hoặc ngủ đông mà di cư sang vung khác cố điều kiện thuận lợi hơn tạo nên hiện tượng di cư của chim * Sự di cư Nhiều loài chim di chuyển theo mùa có quy luật giữa vùng sinh sản mùa hè và cùng trú đông. Di cử giúp choc him tránh được điều kiện khí hậu khắc nghiệt không thuận lợi để tìm đến điều kiện khí hậu thuận lợi nhất vào mọi thời điểm trong năm để có thể sinh sống ở những nơi có nguồn thức ăn phong phú. Di cư còn tạo điều kiện tối ưu cho sự sinh sản và nuôi dưỡng chim non, làm tăng không gian sống, giảm sự cạnh tranh.
  32. Tuỳ theo nhu cầu khác nhau, điều kiện sống, tập tính và khả năng chống chịu của các loài chim mà có các hình thức di cư khác nhau: + Chim di trú: Một số chim sống ở đới lạnh hay ôn đới, cứ đến mùa lạnh là có tập tính di chuyển theo từng đàn sang các nước có khí hậu ẩm hơn để trú đông. Mùa đông năm sau chúng lại trở về chốn cũ để làm tổ và sinh đẻ. Ví dụ: Những loài chim đến trú đông ỏ nước ta như cóc đế, diệc xám, mòng bét, mày trắng, vịt vàng, diều hâu, cắt, ngỗng trời, rẽ gà và nhiều loại trong họ mòng bể. Chim định cư: Một số loài chim quanh năm sống trong điều kiện thuận lợi nên chỉ sống trong một ranh giới ổn định như: Cò hương, le nâu, diều ăn cá bé và đa số trong bộ gà như: Công, gà rừng, gà gô hay đa đa, vít, cu gáy. Chim bay qua: Trên đường đi trú đông chúng không trú đông ở một nơi nào mà chỉ bay qua để đến một nơi khác, ví dụ: Chim đớp ruồi lưng vàng, phường chèo trắng lớn, đớp ruồi Nhật, đớp ruồi vàng Chim lang thang: Nhiều loài chim di chuyển hàng năm trong phạm vi vùng phân bố của chúng, ví dụ: Bộ nông chân xám. Ở Việt Nam có le cổ đen, cốc biển, Lại có những loài định cư, song cũng trú đông như: Vịt trời làm tổ ở vùng đồng bằng miền Bắc và miền Trung Việt Nam, về mùa đông lại có những quần thể lại bay đến phía bắc trú đông làm tăng số lượng. Ngoài ra còn có chèo bẻo đen, vành khuyên Nhật Bản. - Đường và sự định hướng di cư: Hầu hết chim di cư đều theo con đường thuận lợi cho chúng, có liên quan đến việc kiếm mồi hoặc trú ngụ tạm thời trên đường đi. Nhiều loài bay dọc bờ biển, bay qua biển hay dọc theo các con sông. Chim định hướng di cư nhờ vào thị giác, khi vựơt biển, chim định hướng bằng phương bị ánh sáng mặt trời hoặc ngôi sao lớn. Đường di cư có thể rộng và hẹp, độ cao và khoảng cách sai khác tuỳ loài. Khoảng cách di cư xa nhất được thực hiện bởi nhạn biển (Hirundo Rustica) xuất phát từ bờ biển bắc cực ở Liên Xô cũ đến Châu Úc với đường dài khoảng 12.000km. Chim di cư thường bay ở độ cao 450m-750m trên mặt biển, chỉ khoảng 10% ở độ cao 3000 m. Thời gian trên đường di cư tuỳ loài: Nhiều loài chim nước thường hoàn thành đường di cư trong thời gian ngắn, loài khác kéo dài thời gian trên đường di cư vì chúng vừa di cư vừa kiếm mồi. Có thể di cư vào ban ngày hoặc cả ban đêm tuỳ loài và tuỳ kích thước cơ thể. Đại bộ phận đều là những chim có kích thước nhỏ thường bay vào ban đêm, nghỉ và ăn uống vào ban ngày để tránh kẻ thù. Trái lại những chim có cỡ lớn như: diều, đại bàng thì bay ngày nghỉ đêm. Số cá thể di cư thành đàn rất đông có khi tới hàng nghìn cá thể như: Ngỗng, vịt, mòng két có những loài vẫn thường sống riêng lẻ nhưng khi di
  33. trú lại kết thành đàn, sog cũng có loài di trú đơn độc như cú muỗi. Đội hình bay: Cũng không giống nhau: Những loài chim có kích thứơc lớn như: sếu, ngỗng thường bay theo đội hình chữ V. Những loài chim nhỏ thường bay không có thứ tự Thức ăn: Thức ăn quyết định phần lớn đặc điểm sinh thái học của chim, là nguyên nhân khởi đầu của sự di cư, ảnh hưởng đến sinh sản. Hầu hết các loài chim đều có thể ăn nhiều loại thức ăn, ít loài chuyên ăn một loại thức ăn có 03 Di cư của chim nhóm cơ bản: Nhóm chim ăn động vật: gồm các loại chim ăn động vật khác như: chim ăn sâu bọ ban ngày như: Chích choè bắt mồi trên mặt đất, gõ kiến (Picidae) bắt mồi dọc thân cây, chim sâu, chim bạc má bắt mồi trên lá cây Chim ăn sâu bọ về đêm như: cú muỗi vừa bay vừa há rộng miệng để đớp sâu bọ; Chim ăn thịt ban ngày như ưng, diều hâu, đại bàng; chim ăn thịt về đêm như cú lợn, cú mèo ; chim ăn xác động vật như một số loài chim ăn thịt ở vùng cao như kền kền (Gyps); chim bắt cá: cánh cụt, cốc biển, bồ nông, những loài bắt cá ở nước nông như diệc xám (Ardea Cinerea), cò trắng (Egretla Garzetta). Nhóm chim ăn thực vật: Gồm các loài ăn hạt, quả như: Chim ăn hạt: một số loài trong bộ sẻ; chim ăn quả phân bố ở vùng nhiệt đới: chào mào, cu xanh, vẹt ; chim hút mật: có tới 1/5 loài chim trên thế giới ít hoặc nhiều đều ăn mật hoa là những chim bé nhỏ, bay giỏi, lưỡi dài, mỏ dài hoặc cong tuỳ loài. Nhóm chim ăn tạp: Cả thực vật và động vật Chim hút mật và có thể là xác ướp động vật như quạ đen, sếu xám, giẻ cùi Thức ăn đã làm thay đổi hình dạng của mỏ chim Do sự trao đổi năng lượng mạnh mẽ nên chim ăn rất nhiều, chim nhỏ ăn nhiều hơn chim lớn. Ví dụ: chim ruồi nặng 03 g có thể ăn lượng thức ăn trong một ngày bằng 100% khối lượng cơ thể, gà nặng khoảng 2 kg là 3,4%. Tuổi và mùa ảnh hưởng lớn đến lượng thức ăn tiêu thụ: chim non trong 48 giờ sau khi nở tiêu thụ một khối lượng bằng 80% trọng lượng cơ thể. Về mùa đông ngày ngắn thời gian đi kiếm mồi hạn chế nên thức ăn tiêu thụ ít hơn mùa hè. Về mùa sinh sản lượng thức ăn tiêu thụ tăng lên. Sự thay đổi thành phần thức ăn còn xảy ra theo giai đoạn phát triển của con vật: chim non chúng ăn sâu bọ có vỏ mềm tới ngày sắp rời tổ tỷ lệ quá mềm trong thức ăn tăng tới 50% chào mào chủ yếu ăn quả thịt. * Sinh sản:
  34. Sự sai khác đực cái: Thể hiện khi chim đã trưởng thành sinh dục chim cỡ nhỏ trong bộ sẻ trưởng thành sinh dục từ 8-12 tháng, quạ, chim Ưng 2 tuổi, những loài cỡ lớn như mòng biển lớn, ngỗng, vịt vào năm thứ 3. + Đặc điểm trưởng thành sinh dục cố định như một số loài chim trống lớn hơn chim mái, ngược lại ở chim ăn thịt ban ngày. Ở vài loài con mái có bộ lông sặc sỡ hơn. Nhiều loài con trống có bộ lông rất dài (Công) hoặc lông trên đầu dài thành mào (uyên ương). Sự sai khác đực cái còn thể hiện ở tiếng hót. Một số loài chim mái không biết hót như chim trống mà chỉ biết kêu như chích choè. + Đặc điểm sinh dục tạm thời chỉ thể hiện trong mùa sinh dục như ở vịt, mòng két và một số loại rẽ ngược lại ở những loài chư bồ câu, ngỗng, cú không phát hiện được sự sai khác chủng tính. Tập tính khoe mẽ tìm bạn tình, ghép đôi: Trước khi bước vào ghép đôi chim trống xác lập cho mình một lãnh địa. Là nơi có đủ điều kiện cho việc giao phối, đẻ trứng và nuôi con. Nó cất cao tiếng hót hùng hồn, phô diễn bản thân bằng một số hình thức đặc biệt hoặc thực hiện cả hai. Tiếng hót hay cách phô diễn là tín hiệu đe doạ nhằm cảnh báo những con đực khác tránh khỏi lãnh thổ của chúng và cũng là tín hiệu để thu hút những con chim mái độc thân. Khi đã quyến rũ được chim mái, con đực tiếp tục “tỏ tình” bằng cách nhảy múa, đi khệnh khạng, “cúi chào” trước con mái. Chúng xèo rộng bộ lông, giương cao lông đuôi, khoa trương những chiếc lông vũ rực rỡ đầy màu sắc (công, gà tây). Ngược lại có một số ít loài chim như: cun cút, nhát hoa, chim mái có tập tính chủ động khoe mẽ, gù chim đực, đánh nhau để dành con trống. Trong mùa sinh sản, chim thường sống theo đôi, một trống một mái. Tuy nhiên ở một số loài đôi chỉ tồn tại trong một lứa đẻ và sống cho hết mùa sinh dục hư ở hận bụng trắng. Trong hình tượng đơn thê, chim trống và chim mái hợp thành đoi trong nhiều năm hay suốt đời như quạ, đại bàng, gồm ghi trắng, thiên nga, ngỗng trời, uyên ương, cánh cụt và một vài loài cú, ở hình tượng đa thê, một chim trống sống chung với nhiều chim mái như gà, đà điểu phi, đa phu có ở cun cút và nhát hoa. * Tập tính làm tổ: Tổ chim là nơi đẻ trứng ấp và nuôi con báo khí hậu thuận lợi cho sự phát triển chim non và che mắt kẻ thù. Mỗi loài có một phương thức làm tổ, phạm vi làm tổ khác nhau. Ví dụ có loài chim làm cái tổ rất trau chuốt, dùng mỏ và bàn chân để thu nhặt, tha đi và đan .kết những vật liệu đan tổ lại với nhau như cheo lưo, chim chích, chim ri, chim sấu Cú muỗi tìm chỗ đất trống lòng chảo để đẻ trứng hoặc có thể đào hang trong đó như rầu, bói cá chim cú rốc khoét gõ mụn và gõ kiến khoét gỗ tươi lànm tổ, lại có những loài chim không làm tổ như: sáo, yểng, vẹt, bạc má, chích choè mà chỉ đến hốc cây có sàn để lót ổ rồi đẻ trứng vào đó.
  35. - Sự đẻ trứng và ấp trứng: Sơ loại trứng khác nhau ở các loài khác nhau: Cánh cụt, yến mào, hải âu để đẻ trứng một tấy cu gáy, đại bàng đẻ hai trứng, chim sẻ, chào mào, bạc má (Parus) đẻ 5-7 trứng. Gà rừng, vịt đẻ 12-15 trứng. Một số loài chỉ đẻ trứng hạn định như cu gáy,bồ câu chỉ 2 trứng, choi choi 4 trứng dù mất cũng không đẻ thêm một số loài đẻ trứng không hạn định, nếu bị lấy mất trứng chúng đẻ thêm cho đủ số lượng không định tuỳ loài để phù hợp với khả năng ấp trứng của nó. + Ở phần đông các loài chim thì việc ấp trứng được cả chim trống và chim mái cùng tham gia nhưng cũng có loài chỉ có con mái ấp (nhạn, gà, quạ ) hoặc chỉ có con trống ấp như đà điểu châu Mỹ, cun cút + Thời gian ấp trứng thay đổi tuỳ từng loài: Những loài chim có kích thước cơ thể nhỏ thường có chim ấp trứng ngắn như vàng anh 13 -15 ngày. Chim cỡ trung bình như cốc, gà gô, bồ câu từ 17 - 23 ngày, chim cỡ lớn: đà điểu, công, gà lôi, hải âu, kền kền ấp từ 27 - 60 ngày. + Hầu hết các loài chim thường đẻ trứng vào tổ của mình rồi tự ấp lấy, song cũng có loài có hình tượng để nhớ như tu hú, tìm vịt, chèo chẹo, cu cu, bắt cô, trói cột có tập kích không làm tổ mà đẻ nhờ vào tổ chim khác và nhờ các loài chim đó ấp trứng và nuôi con hộ. + Hình dáng, kích cỡ,màu sắc trứng tuỳ loài: To nhất là trứng đà điểu châu phi gấp 20 lần trứng gà, nhỏ nhất là trứng chim ruồi chỉ to bằng hạt đậu xanh. Tuy có hình dạng quả lê bầu dục tròn và dài, màu trứng tuỳ thuộc nơi đẻ: Thường đẻ trứng các loài chim để nơi kín có màu trắng, nơi hở có màu bảo vệ, có lốm đốm nâu, cánh trên nền trắng cú muỗi đẻ trứng trên đất có màu vàng đất. Têt cựa đẻ trứng trên bãi cát có màu xám nâuvà những chấm đen nhạt. - Chim non: Chim non nở ra có hia loại, chim non khỏe và chim non yếu. Chim non yếu như bồ câu, gõ kiến, sả, yến, sẽ khi mới nở chưa mở mắt thường có ít lông tơ không thể tự kiếm thức ăn mồi mà phải nằm trong tổ một thời gian nhất định được bố mẹ chăm sóc, mớm mồi ăn chim non khoẻ mới mở đã mở mắt, có bộ lông dày và chỉ sau một thời gian ngắn sau khi đã nở có thể đi theo chim bố mẹ để kiếm ăn: gà, trĩ, vịt. Chim non yếu được bố mẹ chăm sóc, mớm mồi, ở lại tổ cho đến khi tự bay và tự kiếm mồi, thời gian chim non sống trong tổ với sự chăm sóc của bố mẹ cũng khác nhau tuỳ từng loài thường thì loài có kích thước lớn và bay giỏi có thời gian lưu ở tổ lâu hơn như: sếu 03 tháng, cốc đế 02 tháng. Đa số những chim cỡ
  36. trung bình thuộc chim sẻ khoảng 3 tuần, cỡ nhỏ 2 tuần tuổi. Tuy nhiên cũng vẫn có những ngoại lệ như ở chim cỡ nhỏ: chim nhạn 06 tuần, yến 10 tuần. * Sự thích nghi tự vệ. - Hình thức thụ động: Đa số chim co màu sắc giống với môi trường các loài chim cỡ nhỏ sống trên cay thường có lông màu xanh, các loài rẽ kiếm ăn ở đất thường có màu vàng đốm đen và đốm nâu xám ở chim đẻ trứng vào đất (cú muỗi). Hình thức làm tổ tập đoànvà đi kiếm ăn teo đàn ở các loài chim như sáo, vẹt, diệc giúp phát hiện nhanh chóng kẻ thù và nơi có nhiều thứ ăn. - Hình thức thích nghi chủ động: Cực ở chân gà và ở góc cách của tư cựa (HOplopteus) các loài chim ăn thịt đều có chân khoẻ, vuốt nhọn, mỏ khoẻ, có khía răng sắc để bắt mồi và tự vệ. Ngỗng, thiên nga có cánh to khoẻ có thể đập kẻ thù. Một số loài có “tiếng kêu báo động” kịp thời báo cho đồng loại khi có dấu hiệu nguy hiểm cho đàn. * Tập tính tổ chức xã hội giữa các loài: Khi không thanm gia vào các hoạt động sinh sản số lượng các cá thể chim cùng loài sẽ tập hợp với nhau thành bày. Tồn tại một hệ thống trị cứng rắn, cá thể hung hăng nhất sẽ thống lĩnh tất cả những thành viên khác đảm bảo tính tổ chức trong đàn. Hoạt động bầy đàn giúp việc tìm kiếm dễ hơn và nhanh chóng hơn so với từng cá thể riêng lẻ trốn chạy khỏi nguy hiểm cũng có cơ hội thành công nhiều hơn vì có thể phát hiện sắm kẻ thù và có phản ứng bác động. V. Lớp thú. * Sự phân bố của thú. Nhờ những đặc điểm hình thái và thích nghi tiến bộ mà thú phân bố hầu khắp trên trái đất, bờ lục địa nam cực, ngay cả bờ nam cực cũng có chó bẻ (Phocidae) và cá voi, ở bắc cực mỹ có gấu trắng, chân màng và cá voi nac van (Monode monoceros). Thú không phân bố rộng rãi mà còn sống trong nhiều tổ sinh thái rất đa dạng. * Trao đổi sự thích nghi của thú với môi trường. Tập tính trong hoạt động sống của thú có ý nghĩa rất lớn trong điều hoà thân nhiệt của cúng giúp chúng thích nghi với những điều kiện khắc nghiệt trong điều kiện sống, phân bố rộng rãi. - Sự thích nghi của thú với môi trường nóng: Điều kiện sống ở môi trường hoang mạc rất khắc nghiệt, nhiệt độ ban ngày quá nóng, ban đêm mát, thiếu nước, có cây che phủ, mỗi loài thú thể hiện những hình thức chống chịu khác nhau. + Thú nhỏ sống trong hang, nhiệt độ cao hay thấp hơn bên ngoài, giúp chống được sự mất nước của cơ thể qua bốc hơi, thú nhỏ hoang mạc lấy nước qua thức ăn uống nước nếu có điều kiện ô xi hoá thứ ăn, sinh ra nước, nước tiểu đậm đặc, phân khô.
  37. + Thú lớn không thể sống trong hang: có cơ chế chống mất nước và đun nóng cơ thể khi ở ngoài trời khá hoàn chỉnh, bộ lông màu tái nhợt, bóng láng phản xạ được ánh sáng môi trường, bộ lông cách nhiệt được toả sức nóng của tia nắng mặt trời ra ngoài, khi nhiệt độ cơ thể bị đun nóng thú tiết mồ hôi và thở gấp. Sự bốc hơi nước của mồ hôi và hơi thở sẽ làm giảm nhiệt độ thở xuống mức cần thiết, mặt khác còn có cơ chế giữ nước lại trong cơ thể, nước tiểu đậm đặc, phân khô, ô xi hoá lớp mỡ dưới da và bướu tạo nước cần thiết cho cơ thể. - Sự thích nghi với môi trường lạnh: Thú vùng lạnh có bộ lông dày vào mùa đông, những phần thò ra như chân, đuôi, tai, mũi được sưởi ấm bằng dòng máu đông mạch. Trong điều kiện lạnh thú sản ra nhiệt nhiều hơn bằng sự hoạt động tích cực hơn của run, những thú nhỏ có bộ lông bảo vệ cơ thể chúng cách ly với nhiệt độ thấp ở môi trường ngoài, chúng thường sống dưới tuyết nhiệt độ tuyết ít khi thấp hơn 50C. - Tuỳ thuộc vào những vùng sinh thái khá nhau của các loài thú mà ta có thể chia lớp thú như sau: + Nhóm thú ở đất gồm nhiều loài nhất, phân bố trên khắp mặt đất. + Nhóm thú dưới đất gồm một số loài chủ yếu là gặm nhấm, thú ăn sâu bọ, đào hang để ở, kiếm ăn trên mặt đất (tê tê, chuột đồng, nhím ) và kiếm ăn dưới đất (chuột chũi, dế ) + Nhóm thú ở cây gồm đa số các loài linh trưởng, gặm nhấm, tú túi, nhiều răng, thú ăn thịt (cầy vòi, cầy mái ) - Thú ở nước gồm nhiều loài thú thuộc nhiều bộ khác nhau, mức độ ở nướ này tuỳ theo nhóm thú, sống bám thuỷ sinh có thú mỏ vịt, chuột chịu nước hải ly, gấu trắng, hà mã, thú hoàn toàn ở nước, thú chân vịt, bò biển và cá voi, hai bộ sau chuyển hoá với đời sống ở nước, không thể lên cạn. * Đặc tính lãnh thổ và vùng sống: những loài thú có lãnh thổ riêng Bao gồm các cơ thể riêng sống chung với nhau hoặc của riêng con đực và con cái mà cá thể khác loài thậm chí các loài không thể xâm nhập tới, đặc biệt là thời kỳ sinh dục, kích thước lãnh thổ tuỳ thuộc cỡ và tập quán kiếm ăn của loài thú có thể xác định lãnh thổ bằng các vật tự nhiên và bằng tuyến thơm, nước tiểu, phân ở loài hươu có tuyến nước mắt, tiết ra chất dịch, quệt lên lá cây để khoanh vùng chiếm cứ, độc quyền hươu cái. Do mức độ tiến hoá của hệ thần kinh, các hệ thống liên lạc trong bầy, đàn rất đa dạng, phức tạp. Chủ nhân lãnh thổ bảo vệ lãnh thổ của chúng, phạm vi lãnh thổ không theo kiểu nhất định, có thể có vùng đệm, 1-12 vùng lãnh thổ để tìm kiếm thức ăn ở một số loài chó rừng có vùng phân bố lãnh thổ tổng hợp trong đàn. Hầu hết các loài thú đều cần nơi trú ẩn để nghỉ, sinh sản, thay lông, riêng cá voi không có nơi trú. Theo mức độ sử dụng, tập tính của các loài nơi trú của thú có thể là:
  38. + Nơi trú tạm thời của những loài thú sống lang thang không có nơi ở xác định: sư tử biển, gấu biển, các loài thú móng guốc: nai, trâu, bò, voi, tê giác chúng sinh đẻ ở những chỗ bất kỳ. Con non sinh ra đã phát triển đầy đủ chạy theo mẹ được ngay. + Một số loài có nơi cư trú tạm thời và làm tổ để sinh đẻ tạm thời (lợn rừng). + Số thú khác nghỉ ngơi cố định song lại chọn chỗ khác để đẻ, kín hơn để bảo vệ con non (báo, hổ, các loài thú ăn thịt khác) con non sinh ra yếu, mù mắt, cần mẹ chăm soc một thời gian. + Nơi trú và nơi sinh sản cố định ở một nơi nhất định như linh trưởng, dơi, đon chúng có nơi ở cố định trong hang, hốc, chungs sinh con, chăm sóc con non tại nơi ở đó. Con non mới đẻ tuy có lông, mở mắt, nhưng phải sống trong tổ một thời gian. + Nhiều loài có tổ chính thức để ở, sinh sản (nhiều loài gặm nhấm, thú ăn sâu bọ) những thú đơn thê như hải ly, nhím sống thành “gia đình” làm tổ để ở sinh sản và có sự phân công công việc xây tổ và chămm sóc con non. Tập tính lãnh thổ ở động vật nói chung và đặc biệt ở thú, thay đổi thường xuyên trong quá trình sinh sản, sinh sống do tranh dành, chiếm cứ nguồn thức ăn do trốn tránh kẻ thù thay đổi do đấu tranh sinh tồn bảo vệ nòi giống tập tính lãnh đạo thể hiện trở hành vi bảo vệ đàn, bảo vệ nơi sinh sống. * Cách thức di chuyển: Thú phân bố ở khắp các môi trưòng trên trái đất do đó có những cách di chuyển khác nhau. Đi và chạy là cách di chuyển của các loài thú trên mặt đất có loài chạy nhanh có chi với số ngón giảm, số móng guốc. Nhiều loài di chuyển bằng nhảy chi sau dài hơn chi trước (thỏ rừng, căng gu ru ). Những loài thú trên mặt đất vụng về nhưng lại đào hang rất giỏi như: nhím, dúi Bơi: Đa số thú đều biết bơi song những loài thú ở nướ có cấu tạo thích nghi bơi lội (chuột hải ly, rái cá ) chi sau có màng bơi. Một số loài sống gần như hoàn toàn trong nước (thú chân vịt) hoặc sống hẳn trong nước thiếu hẳn chi ít nhiều bị biến đổi thành mái chèo như cá voi. Bay: Các loài thú ở cây thường có thân và đuôi dài và xù, chi phát triển có loài bàn chân nắm được như khỉ, đuôi cuốn vào cành cây. Các loài ở cây nhảy từ cành này sang cành khác nhờ đuôi xù định hướng. Vượn có đôi tay dài di chuyển trên cây bằng cách đu nhanh như bay. Các loài sóc bay, chồn dơi có màng da bên thân để lượn chuyền từ cành này sang cành khác. Chỉ có dơi là thú bay thực thụ chúng bay ban đêm, bay và lái bằng cách định hướng bằng siêu âm. * Hoạt động ngày và mùa: Không phụ thuộc vào khí hậu như động vật ở cạn bậc thấp mà phụ thuộc vào khả năng bắt mồi vào những thời gian nào trong ngày.
  39. Thú ăn đêm: Gồm thú ăn thịt nhỏ và cỡ lớn (Báo, hổ, chó sói ) chúng thường chọn lúc thật tối mới ra hoạt động, thường vào lúc trăng chưa mọc hoặc đã lặn. Thời gian hoạt động ăn đêm có thể thay đổi theo tuần trăng hoặc theo mùa. Thú ăn ngày gồm những loài chuyên ăn cá (rái cá ) các loài ăn chim (cầy mái, cầy triết (Mustela) thú ăn thực vật thường ăn ngày (sóc, khỉ, nai ), một số loài ăn thực vật về chiều hoặc đêm như lợn rừng, chuột đồng, nhím Hoạt động mùa thể hiện sự thích ứng của thú đối với những bất lợi về thời tiết hoặc thức ăn theo mùa trong năm, thể hiện rõ ở thú vùng ôn đới và hàn đới. * Sự di cư: Một số loài di cư theo mùa để kiếm ăn. Về mùa thu thức ăn trở nên khan hiếm nên nhiều loài di cư về phương nam.Sự di cư xảy ra với thú sống ở biển (cá voi, chân màng). Dơi móng guốc, hổ, voi cũng di cư hàng trăm km để kiếm mồi. Một số loài thú ăn sâu bọ, ăn thịt nhỏ, gặm nhấm, không di cư. * Sự ngủ đông: Là đặc trưng của một số thú thích ứng với sự khan hiếm thức ăn hay tránh rét. Trong hiện tượng ngủ đông, thú mất khả năng điều hoà nhiệt cơ thể, nhịp thở, nhịp tim, cường độ trao đổi chất giảm xuống rõ rệt. Hiện tượng nhủ đông thường thấy ở thú ôn đới. Ngoài ra ở thú vùng cận nhiệt, nhiệt đới còn có hiện tượng trú đông. Trong khi trú đông thú dễ tỉnh dậy do sự thay đổi hoàn cảnh. * Thức ăn: Nhu cầu thứ ăn của thú đặc biệt cao, thức ăn là nhân tố chủ yếu quyết định ở hình thái, cấu trúc, tập tính của thú thích nghi với tấn công, bảo vệ, tìm kiếm thức ăn, cấu tạo cơ quan tuần hoàn và tiêu hoá thức ăn, có các nhóm. Nhóm thú ăn thực vật: nhóm ăn cỏ (ngựa, dê, cừu, gặm nhấm ); nhóm ăn cành lá, vỏ cây (hươu, voi, thỏ rừng ) đa số ăn cỏ. Thường về mùa đông, chúng ăn cành, vỏ cây; Một số ít ăn quả, lá như: khỉ (Macaca), vooc mũi hếch, vượn đen; Một số khác ăn mật hoa, ăn củ, rễ cây . Nhóm thú ăn sâu bọ: Gồm các loài trong bộ thú ăn sâu bọ, đa số các loài dơi, tê tê, thú răng ống. Thực ra hầu như các loài thú ít nhiều đều ăn côn trùng, ví dụ: Dơi bắt sâu bọ trên không; thú ăn kiến; tê tê chuyên bắt kiến và ấu trùng của kiến ở đất. Chuột chũi sống trong đất chuyên bắt sâu bọ Nhóm thú ăn thịt: Gồm bộ thú ăn thịt, bộ chân màng và bộ cá voi. Số chuyên ăn thịt như: Hổ, báo, chồn, cầy ăn các loài thú nhỏ, chim, bò sát có loài đôi khi ăn động vật chết như: Chó sói Châu á, chúng hoạt động nhanh nhẹn. Tuỳ theo thành phần thức ăn có thể có: Thú ăn cá (rái cá, cá voi, thú chân vịt ); thú ăn rắn, thú chuyên ăn chim, chuyên chuyên ăn giun đất (cầy vằn, lững lợn ); thú chuyên ăn thân mềm, cầu gai (rái cá biển)
  40. Cách bắt mồi cũng thay đổi tuỳ loài: Mèo, báo, sư tử chủ yếu rình mồi rồi bất chợt vồ mồi phù hợp với việc kiếm ăn trong rừng có cây rậm rạp; Cáo (Vulpes Vulpes) nhiều khi còn rượt đuổi mồi thích hợp với lối sống ở bìa rừng; chồn (Martes Flavigula), cầy triết (Mustela Erminea) đến tận hang ổ để tìm mồi. Nhóm ăn tạp: ăn cả động vật và thực vật. Nhiều loài có chế độ ăn rộng nên phân bố rộng rãi và dễ thích ứng với những điều kiện sống khác nhau. Chế độ và thành phần thức ăn ở nhiều loài không hoàn toàn cố định mà phụ thuộc vào khu phân bố và mùa. Hổ Dê Chuột chủi ( talpa) Tập tính dự trữ thứ ăn để dùng trong thời kỳ khó khăn, khan hiếm thức ăn. Hiện tượng này phổ biến ở nhiều loài thú vùng ôn đới, ít gặp ở vùng nhiệt đới. Vào những năm được mùa ấm ở ôn đới một con sóc tích trữ được từ vài chục đến 2.000 nấm khô. Thú ăn thịt thường không dự trữ lớn, cáo, chồn, khi giết được mồi lớn không thể ăn hết ngay nên tìm chỗ vùi xuống trong khu vực kiếm mồi để ăn dần. Khối lượng cơ thể và tiêu thụ thức ăn: Nhu cầu tiêu thụ thức ăn ở thú tỷ lệ với diện tích tương đối của bề mặt trên khối lượng cơ thể. Do đó những thú nhỏ có nhu cầu thức ăn lớn hơn thú lớn. * Sự sinh sản: Sự sai khác đực cái không thể hiện rõ ở thú. Chỉ một số ít ở thú guốc ngón chẵn, khỉ, sư tử thể hiện sự sai khác đực cái rõ hơn cả: Ở một số thời điểm trong năm voi đực ở trong trạng thái hung hăng, trong khoảng thời gian này một chất lỏng có mùi rất nồng tiết ra từ các tuyến gần mắt,voi đực trở nên khó chịu và bị kích động đó là việc đòi được thực hiện chức năng sinh sản, thú mỏ vịt đực có một cặp cựa sừng ở mặt trong của cặp chân sau có thể đẩy lùi các con đực tình địch trong mùa giao phối. Con đực trong hàu hết các loài hươu đều có cặp sừng rất nổi bật. Tuổi thành thục thay đổi theo cỡ lớn: Thú nhỏ thành thục hơn thú lớn, gặm nhấm nhỏ khoảng 3 tháng; voi từ 20-25 năm.
  41. Đa số thú đơn thê, chỉ ssống đơn trong mùa sinh sản, một số loài sống đôi cả đời 9cáo, sói, hải li ). Nhiều loài thú đa thê ( ngựa, lừa, hươu. nai.trâu ) Hầu hết các loài thú sinh sản theo mùa, thường là vào mùa xuân là mùa có thức ăn môi trường phong phú và nhiệt độ môi trường thuận lợi. Hoạt động giao phối của thú có nhiều sự khác nhau rõ rệt giữa các loài. Ơ nhiều loài thú con đực có thể giao phối với con vái bất kì thời gian nào nhưng con cái chỉ hoạt động giao phối trong thời kì động dục. Có loài chỉ động dục một lần trong năm, có loài hai hoặc ba lần do đó thời gian ghép đôi tùy theo chu kì động dục của con cái. - Thời gian mang thai của thú tùy thuộc vào cỡ lớn,thú nhỏ thời gian mang thai ngắn ( chuột nhắt 21 ngày, voi 12 tháng ). Ví dụ: chuột chũi giao phối xảy ra suốt đầu mùa xuân và đôi khi cả mùa thu; Dơi ngủ đông giao phối vào mùa thu nhưng trong một tiến trình là thụ thai muộn, tinh trùng được giữ trong tử cung suốt mùa đông và trứng không rụng, sự thụ tinh tiến hành khi mùa xuân đến. Ơ cá voi, suốt mùa giao phối, cá voi đực và cá voi cái của một số loài bơi bên nhau, cọ xát sục mũi vào nhau, vờn nhau bằng chân chèo, và nhảy bổng lên khỏi mặt nước. Linh trưởng và hổ có thể chọn bạn đời vào bất cứ lúc nào, Hươu đực chỉ tìm đến hươu cái vào mùa giao phối sau đó bỏ đi bỏ mặc con cái. Ở thú có 3 kiểu sinh sản: + Kiểu đẻ trứng ở thú huyệt,chúng không có thời gian mang thai, thú mỏ vịt đẻ 2 qủa trứng kích thước nhotrong một cái hố sâu trong hang cạnh một con sông dài hoặc cái hồ, nó ấp trứng bằng cách cuộn tròn xung quanh trứng + Kiểu đẻ con ở thú túi: Thời gian mang thai rất ngắn ( khoảng 1 tuần), đẻ con non không có sự trợ giúp của cơ thể mẹ. Con non không biết bú, chỉ gắn miệng vào núm vú, sữa tiết vào miệng con non nhờ cơ bong đặc biệt của con mẹ. + Kiểu đẻ con phát triển ở thú nhau: phôi nằm trong tử cung con mẹ, hấp thụ chất dinh dưỡng cơ thể mẹ qua nhau. Thời gian mang thai khác nhau tùy loài > con non đẻ ra đã phát triển đầy đủ, tự bú mẹ : cá voi mang thai 1 năm- 16 tháng, voi khoảng 21 tháng. Số kượng con sinh ra trong một lứa phụ thuộc nhiều yếu tố: Thường thú lớn đẻ ít hơn thú nhỏ: gặm nhấm đẻ mỗi lứa 4-12 con, thú ăn thịt lớn đẻ từ 1-2 con, voi 50 năm đẻ 4-5 lần mỗi lần một con, dơi đẻ một năm 1 con
  42. - Một số loài có hiện tượng chăm sóc con non sau khi đẻ: một vài con đơi hình thành nên đàn nuôi con,với hàng ngàn dơi con treo với nhau trong khi mẹ chúng đi kiếm mồi bên ngoài. Cá voi mẹ bơi chậm rãi, xoay vòng một bên khi cá con chạm vào núm vú mẹ, cơ chung quanh vú co thắt đẩy sữa vào miệng cá con. Cá heo con lúc còn nhỏ có một cá “ dì” bơi bên cạnh nó đối diện với cá mẹ để nó được bảo vệ cả hai phía. * Tuổi thọ: Tuổi thọ của thú phụ thuộc vào kích cỡ con vật, loài thú lớn thường sống lâu hơn loài thú nhỏ. Tuổi voi Âns Độ thọ 70-80 năm,gặm nhấm nhỏ ít khi quá 2,5 năm, Chó nhà 20-30 năm, gấu nâu sống trên 45 năm, hươu sao 15-25 năm * Sự thích nghi với tự vệ Ở thú có hai hình thức thích nghi: + Thích nghi thụ động: Mằu sắc ngụy trang: đa số thú có màu sắc cơ thể giống với môi trường khiến nhiều kẻ thù khó phát hiện. Các loài thú sống ở Bắc cực ( gấu trắng, cáo ) có bộ lông màu trắng dể lẩn với tuyết, các loài thú sống sống ở các lùm cây gần đầm lầy ít ánh sáng như trâu rừng, lợn lòi, lợn rừng thường có bộ lông màu xám hoặc đen. Tê tê có bộ lông vảy song cứng rắn có tập tính tự vệ bằng cách cuộn mình, đầu ẩn vào phía bong chìa lưng ra ngoài. nhím có bộ lông sắc nhọn nên khi cuộn mình thành một quả bóng tua tủa những gai làm kẻ thù phải sợ. Những tuyến ở gần hậu môn tiết mùi hôi khó ngửi của các loài chuột chù , cày vằn (chrotogale) , long chó (nyctereutes), cầy triết(mustela)làm kẻ thù không giám lại gần. Nhiều loài sông đàn như khỉ, chó, ngựa vằn có thể phát hiện sớm kẻ thù để cả đàn cùng chạy trốn. Một bộ áo đốm che chở cho hươu nhỏ và sự ít di chuyển khiến nó không thể nhìn they đối với chúa ăn thịt. Thỏ rừng chọn cách án binh bất động trước khi nhảy vọt trong cuộc đào tẩu lắt léo bất ngờ. Con opossum giả chết duỗi chân tay, nhắm mắt và lưỡi thò ra ngoài + Hình thức thích nghi chủ động bằng tập tính: tùy thuộc vào những bộ phận có choc năng tự vệ mà con vật được sở hữu thì chúng có những cách thức tự vệ khác nhau. Một trong nhũng biện pháp tự vệ ràng nhất là chạy trốn ví dụ: kangaroo và thỏ rừng có cặp chân sau dài nên thoát thân với tốc độ cao. Các loài thú ăn thịt(hổ, báo, chó sói, gấu )
  43. có nanh sắc để cắn xé, nhiều loài có vuốt sắc để cào và giữ chặt đối phương. các loài mống guốc có sừng để húc (trâu, bò, hưu, nai) hoặc đá bằng chân có guốc khỏe như ngựa, lợn lòi có răng nanh dài nhon, voi dung vòi để quăng, đập và dùng chân để dày xéo kẻ thù. Với những hình thức thích nghi rất riêng và rất độc đáo đó đã giúp cho thú tránh được hiểm họa để tồn tại và phát triển. Như vậy, từ môi trường nước lên môI trường cạn là sự thay đổi lớn của điều kiện tự nhiên về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, thức ăn. Chính điều đó đã tạo nên sự khác biệt rõ rệt trong ca cấu tạo, hình thái, lẩn đặc điểm hoạt động của các loài động vật có xương. Bắt đầu từ đời sống ở nước như lớp cá, cùng với sự tiến hoá về cấu tạo con vật chuyển dần lên chiếm lĩnh môi trường cạn và phát triển ở đó (bò sát, chim, thú). Dù ở dưới nước hay chuyển lên cạn con vật đều thích nghi với đời sống của mình. chính môi trường sống đã tạo nên cho chúng những tập tính hoạt động riêng biệt, những tập tính đó được ổn định và giữ vững qua nhiều thế hệ. Mỗi loài mang một tập tính riêng đã tạo nên sự đa dạng phong phú của giới sinh vật. Việc tìm hiều tập tính động vật có xương sống (ở cá, ếch nhái, bò sát, chim, thú) đã giúp cho em có thêm hiểu biết về giới động vật xung quanh mình để có thể gần gũi với chúng hơn.