Giáo trình môn học Tâm lý học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn học Tâm lý học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_mon_hoc_tam_ly_hoc.pdf
Nội dung text: Giáo trình môn học Tâm lý học
- Giáo trình Tâm lý học
- Chương I TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC I ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC. 1.Tâm lý và tâm lý học 1.1 Tâm lý là gì Khái niệm tâm lý không phải đơn giản. Thực tế từ xa xưa cho đến ngày nay con người đã tốn rất nhiều công sức để tìm hiểu khái niệm này. Người nguyên thuỷ có quan điểm cho rằng con người có hai phần: thể xác và tâm hồn. Tâm hồn chính là cội nguồn của tâm lý con người. Tâm hồn là bất tử, con người sau khi chết còn có cuộc sống của tâm linh Trong tiếng Việt thuật ngữ tâm lý đã có từ lâu T ừ điển tiếng Việt 1988 định nghĩa một cách tổng quát: “ tâm lý là ý nghĩa, tình cảm, làm thành thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người” Trong cuộc sống hàng ngày, chữ tâm thường được sử dụng ghép với các từ khác. Ta thường có cụm từ “tâm địa”, tâm can, tâm tình tâm trạng, tâm tư, được hiểu là lòng người thiên về mặt tình cảm. Như vậy tâm lý được dùng để chỉ những hiện tượng tinh thần của con người. Khái niệm tâm lý trong tâm lý học bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần như cảm giác, tư duy, tình cảm hình thành trong đầu óc con người điều chỉnh, điều khiển mọi hoạt động của con người. Nói một cách chung nhất: tâm lý là tất cả những hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con nguời. 1.2 Tâm lý học là gì? Sở dĩ nói tâm lý học là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu và có phương pháp luận nghiên cứu đặc thù riêng. 1
- Tâm lý học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Nó nghiên cứu các quy luật nảy sinh vận hành và phát triển của các hiện tượng tâm lý trong hoạt động đa dạng diễn ra trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người. Sự ra đời của tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập là kết quả phát triển lâu dài của nhưng tư tưởng triết học, những quan điểm tâm lý học trong trường kỳ lịch sử và phát triển của nhiều lĩnh vực khoa học khác . 2. Lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học. 2.1) Tâm lý học thời cổ đại Thời cổ đại chưa có tâm lý học nhưng đã có những tư tưởng về tâm lý người. Trong các di chỉ của người nguyên thuỷ đã thấy những bằng cứ chứng tỏ quan niệm của hồn, phách sau cái chết của thể xác. Trong các bản văn tự đầu tiên của thời kỳ cổ đại, trong các kinh ở Ấn Độ đã có những nhận xét về tính chất của hồn, như vậy đã có những ý tưởng tiền khoa học về tâm lý. Khái niệm tâm hồn được hệ thống hoá lần đầu tiên trong các tác phẩm triết học Hy lạp cổ đại. Những tri thức đấu tiên về tâm lý con người đã được phản ánh trong cả hệ tư tưởng triết học duy tâm và duy vật a) Quan niệm tâm lý người trong hệ tư tưởng triết học duy tâm. Hệ tư tưởng duy tâm cho rằng “linh hồn” của con người là do các lực lượng siêu tự nhiên như Thượng Đế, Trời, Phật tạo ra. Linh hồn là cái thứ nhất, có trước, còn thế giới vật chất là cái thứ hai, có sau. Tiêu biểu là nhà triết học duy tâm Platon (427- 347 tr.CN ) cho rằng thế giới “ý niệm” là cái có truớc, còn thế giới vật chất có sau và do thế giới “ý niệm” sinh ra. Linh hồn không gắn với thế giới hiện thực, nó gắn bó với cái gọi là “trí tuệ toàn cầu”. Con người chỉ cần nhớ lại. Nguồn gốc của thế giới chân thực là sự hồi tưởng của linh hồn con người đối với thế giới “ý niệm”. Platon cho rằng tâm hồn là cái có trước, thực tại là cái có sau, tâm hồn do Thượng Đế sinh ra. Tâm hồn trí tuệ nằm ở trong đầu, tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực và chỉ có ở từng lớp quí tộc, tâm hồn khát vọng nằm ở bụng và chỉ có ở tầng lớp nô lệ. Hoặc D. Hium (1811- 1916), một nhà duy tâm thuộc trường phái bất khả tri cho thế giới là những kinh nghiệm chủ quan, con người không thể nhận biết được tồn tại khách quan và phủ nhận cơ sở vật chất của sự vật. b) Quan niệm tâm lý con người trong tư tưởng triết học duy vật. 2
- Triết học duy vật cho rằng: tâm lý, tâm hồn là một, tâm lý gắn với thể xác. Tâm lý, tâm hồn đều cấu tạo từ vật chất. Người đầu tiên bàn vế tâm hồn là Arixtốt (384 – 322 tr.CN), ông cho rằng thể xác và tâm hồn là một, tâm hồn gắn với thể xác, nó là biểu hiện của tâm lý con người. Tâm hồn có 3 loại: - Tâm hồn thực vật: có chung cả người và động vật, làm chức năng dinh dưỡng, vận động ( Arixtốt gọi là tâm hồn cảm giác ). - Tâm hồn động vật có chung ở người và động vật làm chức năng cảm giác, vận động ( còn gọi là tâm hồn cảm giác) - Tâm hồn trí tuệ, chỉ có ở người (Arixtốt gọi là tâm hồn suy nghĩ). Để lý giải tâm hồn, Arixtốt đã đặt thế giới ấy trong mối quan hệ với cơ thể, trong môi trường chung quanh, tâm lý nẩy sinh và phát triển trong cuộc sống, tâm lý là chức năng của cuộc sống và có thể quan sát được, tức là có thể nghiên cứu thế giới này mặc dù nó cực kỳ phức tạp. Đại diện của quan điểm duy vật với tâm lý con người còn phải kể đến tên tuổi của các nhà triết học như: Talét (Thế kỷ VII-VI tr.CN), Heraclit (Thế kỷ thứ VI- V tr.CN). Các nhà triết học này cho rằng tâm lý, tâm hồn cũng như vạn vật đều được cấu tạo từ vật chất như: nước, lửa, không khí, đất . Đêmôcrit (460-370tr.CN): vạn vật đều do nguyên tử lửa tạo thành. Linh hồn, tâm hồn cũng do nguyên tử lửa tạo nên, nhưng đó là một loại nguyên tử rất tinh vi. Vật thể và linh hồn có lúc phải bị mất đi do nguyên tử bị tiêu hao. Xôcrát (469-399TCN) đã tuyên bố một câu nổi tiếng là hãy tự biết mình. Đây là một định hướng có giá trị to lớn trong cho tâm lý học: con người có thể và cần phải tự hiểu biết mình, tự nhận thức, tự ý thức về cái ta. 2. Những tư tưởng tâm lý học từ nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước. Trong suốt thời kỳ trung cổ, tâm lý học mang bản thể huyền bí. Sự phát triển các tri thức các tư tưởng tiến bộ bị kìm hãm. Đến thế kỷ XVII, R. Đêcác (1596-1650) đại diện cho phái nhị nguyên luận cho rằng vật chất và tâm hồn là hai thực thể song song tồn tại. Đêcác cho rằng cơ thể con người phản xạ như một cái máy, còn tinh thần, tâm lý của 3
- con người thì không thể biết được. Tuy nhiên phát kiến của ông về phản xạ là một cống hiến to lớn cho tâm lý học khoa học lúc bấy giờ. Sang thế kỷ XVIII. tâm lý học bắt đầu có tên gọi. Nhà triết học Đức Vônphơ đã chia nhân chủng học ra thành hai thứ khoa học, một là khoa học về cơ thể, hai là khoa học về tâm lý học. Năm 1732, ông xuất bản cuốn “Tâm lý học kinh nghiệm”, sau đó hai năm (1734) ông cho ra đời cuốn “Tâm lý học lý trí”. Thế là tâm lý học ra đời từ đó . Đến nửa thế kỷ XIX, L.Phơ bách đã có công đưa chủ nghĩa duy vật lên đỉnh cao thời bấy giờ. Ông là nhà duy vật lỗi lạc trước khi chủ nghĩa Mác ra đời. Theo ông, tinh thần, tâm lý không thể tách rời khỏi não người, nó là sản phẩm của thứ vật chất phát triển tới mức độ cao là bộ não người. Tâm lý là hình ảnh của thế giới khách quan. c) Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập Các thành tựu của các khoa học ảnh hưởng đến sự ra đời của tâm lý học đó là: - Học thuyết tiến hoá của Đacwin (Anh ) - Thuyết tâm sinh lý học giác quan của Hemhôn (Đức) - Tâm vật lý học cuả Phécne và Vêbe (Đức), tâm lý học phát sinh phát triển của Gantôn (Anh) - Các công trình nghiên cứu tâm thần học của Bác sỹ Sáccô (Pháp). Đối với tâm lý học thế kỷ XIX phải đặc biệt nhấn mạnh năm 1879 là năm tại thành phố Laixíc (nước Đức), nhà tâm lý học Vuntơ (1832-1920) đã thành lập phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới. Một năm sau phòng thí nghiệm này đã chuyển thành viện tâm lý học đầu tiên trên thế giới, xuất bản các tạp chí tâm lý học. Từ vương quốc của chủ nghĩa duy tâm coi ý thức chủ quan là đối tượng của tâm lý học và con đường nghiên cứu tâm lý bằng phương pháp tự quan sát, nội quan chuyển sang con đường nghiên cứu ý thức một cách khách quan, bằng quan sát, phân tích, đo đạc. Trong vòng 10 năm của đầu thế kỷ XX trên thế giới đã xuất hiện nhiều trường phái tâm lý học khách quan đó tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, tâm lý học Phơrơt. 3. Các quan điểm cơ bản trong tâm lý học hiện đại 4
- 3.1) Tâm lý học hành vi (Watsơn, 1878-1958, Mĩ) Chủ nghĩa hành vi do nhà tâm lý học Mỹ J.Watsơn sáng lập. Ông có ý định xây dựng một nền tâm lý học tối tân và khoa học, chỉ có đối tượng nghiên cứu là hành vi của con người và ở động vật không tính đến yếu tố nội tâm. Chính vì lẽ đó mà phái này gọi là hành vi chủ nghĩa. Chủ trương không mô tả hay giảng giải các trạng thái ý thức, mà nghiên cứu hành vi của con người (cơ thể người). Hành vi này được hiểu là tổng số các cử động bề ngoài được nẩy sinh để đáp ứng một kích thích nào đó, theo công thức kích thích - phản ứng (S - R). Các cử động này thực hiện chức năng thích nghi với môi trường chung quanh. Vì có thể quan sát được các cử động này, nên có thể và phải nghiên cứu chúng một cách khách quan. Từ đó người ta rút ra kết luận có thể điều khiển và hình thành hành vi cuả con người theo phương pháp thử và sai. Đây là một dòng tâm lý học duy vật máy móc từ chỗ coi con người như là một cái máy, như là một động vật biết nói, coi con người chỉ như là một cơ thể riêng có khả năng phản ứng để thụ động kích thích vào hoàn cảnh. Đây là quan điểm tự nhiên chủ nghĩa, thực dụng và phi lịch sử, không phản ánh được cuộc sống thực của con người cụ thể, đang sống và làm việc và hoạt động trong các điều kiện lịch sử xã hội. Ưu điểm: Với công thức trên, J. Watsơn đã nêu lên một quan điểm tiến bộ trong tâm lí học: coi hành vi là do ngoại cảnh quyết định, hành vi có thể quan sát được, nghiên cứu một cách khách quan, từ đó có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử - sai”. Nhược điểm: Chủ nghĩa hành vi quan niệm một cách cơ học, máy móc về hành vi, đánh đồng hành vi của con người với hành vi của con vật. Chủ nghĩa hành vi đồng nhất phản ứng với nội dung tâm lí bên trong làm mất tính chủ thể, tính xã hội của tâm lí con người, đồng nhất tâm lí con người với tâm lí con vật. Đây chính là quan điểm tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử và thực dụng. Ví dụ: * Skiner ( trường ĐH Havvard Mỹ) đã dùng nguyên lý tăng cường để huấn luyện chim, bồ câu, chuột. Để chuột cống đói trong hộp Skiner chứa thức ăn nhưng không nhìn thấy được có gắn đòn bẩy. Sau một thời gian chuột mò mẫm lấy chân thử ấn vào đòn bẩy lập tức thức ăn bật ra và từ đấy trở đi, khi nào đói chuột tiếp tục ấn chân vào đòn bẩy để lấy thức ăn. 5
- * TS tâm lý Hà lan Achian Kortlandt đã nghiên cứu nhiều hành vi tập tính của Hắc Tinh Tinh ở vùng châu Phi phát hiện nhiều tư liệu khá lý thú. Khi Hắc Tinh Tinh đưa bàn tay ra nhưng úp lòng bàn tay xuống là dấu hiệu phục tùng, chìa ngón tay trỏ xuống là nguy hiểm tói gần. Hai bàn tay giơ cao lên trời có nghĩa là đường không đi được. 3.2) Tâm lý học Gestalt gọi là tâm lý học cấu trúc do bộ ba Vecthaimơ, Côlơ, Côpca sáng lập ở Đức. Học thuyết tâm lý học Gestalt ra đời ở Đức thuộc trường phái tâm lý học duy tâm khách quan. Các nhà tâm lý học cấu trúc cho rằng bản chất hiện tượng tâm lý đều vốn có tính cấu trúc, vì vậy nghiên cứu phải theo xu hướng tổng thể với cả một cấu trúc chỉnh thể. Đây là một trong những dòng tâm lý duy tâm khách quan chuyên nghiên cứu tri giác và ít nhiều nghiên cứu tư duy trong những mối liên hệ thực giữa sự vật được tri giác hay hoàn cảnh đòi hỏi tư duy với người tri giác hay tư duy. Nhờ vậy đã tìm ra tính chất ổn định của tri giác, quy luật hình thành nền trong tri giác, quy luật bổ sung khi tri giác, quy luật bừng hiểu trong tư duy. Các nhà tâm lý Géstalt ít chú ý đến vai của vốn kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xã hội lịch sử. 3.3) Phân tâm học do bác sĩ người Áo đề xướng: Học thuyết này cho rằng không chỉ nghiên cứu ý thức mà bỏ qua vô thức. Ông cho rằng chính yếu tố vô thức mới là yếu tố quyết định nhất trong tâm lý con người. Phơrớt cho rằng nhân cách con người gồm 3 phần: vô thức, ý thức, siêu thức. Phần vô thức chứa đựng các bản năng sinh vật trong đó bản năng tình dục là trung tâm. Những bản năng sinh học là nguồn cung cấp năng lương cho hoạt động của con người. Những bản năng này tồn tại theo nguyên tắc đòi hỏi và thỏa mãn. Phần ý thức gồm những cách thức ứng xử và suy nghĩ đã được hình thành trong cuộc sống thông qua những kinh nghiệm để đối phó với thế giới bên ngoài nhằm giúp con người thích nghi với thực tế cuộc sống. Phần siêu thức gốm những kiểm chế thu được trong quá trình phát triển nhân cách. Đó là sự kiềm chế các họat động của phần vô thức và phần ý thức. 6
- Siêu thức ngăn không cho ý thức thực hiện những phần sai trái để thỏa mãn các bản năng. Phần siêu thức gần giống như cái mà ta gọi là lương tâm. Dòng tâm lý này lý giải tâm lý con người bằng cách sinh vật hoá con người tác giả của nó cho rằng bằng cách đó sẽ có một khoa học khách quan về con người. Luận điểm cơ bản của ông coi bản năng sinh dục là cội nguồn của toàn bộ thế giới tinh thần, từ nội tâm đến hành vi bên ngoài, thậm chí kể cả sáng tạo nghệ thuật. Học thuyết Phơrớt là là cơ sở ban đầu của tâm lý học hiện sinh, thể hiện quan điểm sinh vất hoá tâm lý con người Các dòng tâm lý trên đều tự gọi là khách quan nhưng đều bỏ qua các mối quan hệ bản chất của con người, thế là đánh mất con người cụ thể sống, làm việc, hoạt động trong trong xã hội lịch sử cụ thể, cho nên các dòng phái ấy đều không đạt tới mong muốn chân thành của họ là xây dựng một khoa học khách quan về thế giới tâm lý của con người, 3.4. Tâm lý học nhân văn Đại biểu là C.Rôgiơ và H. Maslaw. Họ cho rằng bản chất con người vốn là tốt đẹp, có lòng vị tha, có tiềm năng sáng tạo. Tâm lý học cần giúp con người tìm được bản ngã đích thực của minh. Con người cần đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở lẫn nhau Tuy nhiên tâm lý học nhân văn tách con người khỏi các mối quan hệ xã hội, chú ý tới mặt nhân văn trừu tượng trong con người. Họ không thấy được nguồn gốc hình thành tính nhân văn đó có ở hoạt động sống của mỗi người trong xã hội loài người, tách con người ra khỏi mối quan hệ xã hội. 3.5. Tâm lý học nhận thức : Học thuyết này do G. Piagiê, Brunơ (Thụy Sĩ) sáng lập. Trường phái này lấy hoạt động nhận thức của con người làm đối tượng nghiên cứu của mình. Họ nghiên cứu tâm lý con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và với bộ não. Họ đã phát hiện ra nhiều quy luật của tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ . 3.6. Tâm lý học hoạt động: Dòng phái này do các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như L.X.Vưgốtxky, X.L Lubinstein, A. Lêôchiép cùng với nhiều nhà tâm lý của Đức, Pháp, Bungari sáng lập. Trường phái này lấy triết học Mác-Lênin làm cơ sở lý luận và phương pháp luận, coi tâm lý là sự phản ánh hiện thực khác quan vào não 7
- thông qua hoạt động. Tâm lý người được hình thành trong hoạt động, giao tiếp và trong các mối quan hệ xã hội. 4. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học: a) Đối tượng của tâm lý học: Đối tượng của tâm lý học là nghiên cứu các hiện tượng tâm lý với tư cách là hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm lý. Tâm lý học nghiên cứu sự hình thành vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý. Các quy luật của hoạt động tâm lý và cơ cấu tạo nên chúng . b) Nhiệm vụ của tâm lý học. Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học là nghiên cứu: Bản chất hiện tượng tâm lý, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý. Cụ thể : + Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lý người + Cơ chế hình thành và biểu hiện của hoạt động tâm lý + Tâm lý của con người hoạt động như thế nào + Chức năng vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người Tóm lại có thể nêu ba nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học . 1. Nghiên cứu bản chất hoạt động tâm lý cả về số lượng lẫn chất lượng 2. Phát hiện các qui luật nẩy sinh, hình thành và phát triển tâm lý 3. Tìm ra cơ chế diễn biến và thể hiện của các hiện tượng tâm lý Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành và phát triển tâm lý, sử dụng tâm lý trong nhân tố con người có hiệu quả nhất. 4. Mối quan hệ giữa tâm lý hgọc với các khoa học khác Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Mỗi bộ môn khoa học nghiên cứu một mặt nào đó của con người. Trong các khoa học nghiên cứu về con người thì tâm lý học chiếm vị trí đặc biệt. 8
- Tâm lý học có quan hệ với nhiều khoa học, theo nhà tâm lý học người Nga B.G.Ananhiep cho rằng: Tâm lý học nằm ở vị trí trung tâm của hình tam giác và ba đỉnh là: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học. Triết học Khoa học TN Khoa học XH - Tâm lý học với triết học: Mỗi lý thuyết tâm lý đều dựa trên cơ sở phương pháp luận của một thứ triết học nào đó. tâm lý học mác xít lấy chũ nghĩa duy vật biện chứng và chũ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận định hướng cho việc nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Ngược lại những thành tựu của tâm lý học đã góp khẳng định các quy luật tự nhiên, xã hội thông qua họat động cải tạo tự nhiên xã hội và bản thân con người . - Tâm lý học quan hệ với khoa học tự nhiên đặc biệt với sinh lý học thần kinh cấp cao có thể nói hoạt động thần kinh cấp cao là cơ sở tự nhiên của tâm lý người, các thành tựu sinh vật học, di truyền học, tiến hoá luận góp phần làm sáng tỏ sự hình thành và phát triển tâm lý. - Tâm lý học có quan hệ với các khoa học xã hội Nhiều kết quả nghiên cứu của tâm lý học được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội như: giáo dục học, quản lý xã hội, pháp lý Ngược lại các thành tựu của khoa học xã hội góp phần giúp tâm lý học giải quyết bản chất hiện tượng tâm lý II- BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ: 1.Bản chất hiện tượng tâm lý: Có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất hiện tượng tâm lý người + Quan niệm duy tâm cho rằng tâm lý của con người là do thượng đế, do trời sinh ra và nhập váo thể xác con người. Tâm lý con người không phụ 9
- thuộc vào thế giới khách quan cũng như điều kiện thực tại của đời sống. Cũng có những nhà duy tâm cho rằng tâm lý con người là một trạng thaí tinh thần sẵn có trong con người, nó không gắn gì vào thế giới bên ngoài và cũng không phụ thuộc gì vào cơ thể. + Quan niệm duy vật tầm thường: Cho rằng tâm lý tâm hồn cũng như mọi sự vật hiện tượng đều được cấu tạo từ vật chất, do vật chất trực tiếp sinh ra, tâm hồn giống như gan tiết ra mật, họ đem đồng nhất cái vật lý, cái sinh lý với cái tâm lý, phủ nhận vai trò của chủ thể, tính tích cực năng động của tâm lý, ý thức, phủ nhận bản chất xã hội của tâm lý và tính tích cực của tâm lý con người. + Quan niệm khoa học về bản chất hiện tượng tâm lý người Quan niệm khoa học cho rằng : Tâm lý con người là chức năng của não, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não bộ người thông qua chủ thể. Tâm lý người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử. a) Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua hoạt động của mỗi người . - Hiện thực khách quan: là những cái tồn tại xung quanh chúng ta, có cái nhìn thấy được, có cái không nhìn thấy được . Hiện thực khách quan phản ánh vào não người nảy sinh ra hiện tượng tâm lý. Nhưng sự phản ánh tâm lý khác với sự phản ánh khác ở chỗ đây là sự phản ánh đặc biệt – Phản ánh thông qua lăng kính chủ quan của mỗi người: + Hình ảnh tâm lý mang tính chất sinh động, sáng tạo. + Hình ảnh tâm lý mang tính chất chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân, hay nói cách khác hình ảnh tâm lý là hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan, hình ảnh tâm lý mang tính chất chủ thể . Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện ở chỗ: Cùng nhận sự tác động của thế giới, về cùng một hiện thực khách quan nhưng ở những chủ thể khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lý với những mức độ khác nhau. 10
- Cùng một hiện thực khách quan, tác động đến một chủ thể duy nhất nhưng vào thời điểm khác nhau, ở những hoàn cảnh khác nhau, với trạng thái cơ thể, trạng thái tinh thần khác nhau, có thể cho ta thấy mức độ biểu hiện và các sắc thái tâm lý khác nhau ở chủ thể ấy. Nguyên nhân sự khác nhau: Do mỗi người có những đặc điểm riêng về cơ thể, giác quan, hệ thần kinh , và não bộ. Mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau, điều kiện giáo dục cũng không như nhau và đặc biệt là mỗi cá nhân thể hiện mức độ tích cực hoạt động, tích cực giao lưu khác nhau trong hoạt động, vì vậy tâm lý người này khác người kia. Rút ra một số kết luận - Tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan, vì thế khi ngiên cứu cũng như khi hình thành cải tạo tâm lý phải nghiên cứu hoàn cảnh con người đó sống và hoạt động. - Tâm lý người mang tính chất chủ thể, nên trong giáo dục, quản lý con người phải chú ý đến nguyên tắc sát đối tượng. - Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp, vì thế phải tổ chức hoạt động và giao tiếp để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lý người. b) Tâm lý người mang bản chất xã hội và có tính lịch sử: Bản chất xã hội và tính lịch sử của tâm lý người thể hiện như sau: * Bản chất xã hội : Tâm lý người có nguồn gốc là thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định. Phần xã hội của thế giới quyết định tâm lý người thể hiện qua, các quan hệ kinh tế xã hội, quan hệ đạo đức, pháp quyền, các mối quan hệ con người - con người Các mối quan hệ trên quyết định bản chất tâm lý người. Tâm lý người là sản phẩm hoạt động giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội. Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả lĩnh hội tiếp thu vốn kimh nghiệm xã hội loài ngườ, nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động, giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo. 11
- * Tính chất lịch sử: Tâm lý con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng. Vì vậy khi sinh ra là con người nhưng không sống trong xã hội loài người, trong các mối quan hệ người - người thì sẽ không có tâm lý người bình thường. Từ những luận điểm trên cần chú ý nghiên cứu môi trường xã hội, các quan hệ xã hội để hình thành và phát triển tâm lý, cần tổ chức có hiệu quả hoạt động đa dạng ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau giúp cho con người lĩnh hội nền văn hoá xã hội để hình thành và phát triển tâm lý con người. 2. Chức năng của tâm lý - Chức năng chung là định hướng: Thể hiện ở động cơ, mục đích khiến cho con người hoạt động như: nhu cầu, động cơ, niềm tin, lý tưởng, lương tâm, danh dự. - Chức năng động lực: Đó là chức năng thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khó khăn vươn tới mục đích đề ra. - Chức năng điều khiển: Chính nhờ chức năng này mà con người mới có mục đích, mục tiêu của cuộc sống, phải đặt ra kế hoạch, chương trình phấn đấu lâu dài mới đạt tới, làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả nhất định. - Chức năng kiểm tra điều chỉnh: là chức năng tự đánh giá kết quả hoạt động của con người so với yêu cầu, ý định đặt ra để xem mục đích hoạt động đã đạt đến đâu có gì cần phải điều chỉnh cho thích hợp. 3. Phân loại hiện tượng tâm lý: a) Phân loại theo thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách ta có : Các quá trình tâm lý (quá trình nhận thức, quá trình cảm xúc, quá trình hành động ý chí) Các trạng thái tâm lý (Chú ý, tâm trạng) Các thuộc tính tâm lý (Xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực) Có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý bằng sơ đồ sau: 12
- Tâm lý Các quá trình Các trạng thái Các thuộc tính tâm lí tâm lí tâm lý b) Cũng có thể phân loại hiện tượng tâm lý thành: - Các hiện tượng tâm lý có ý thức - Các hiện tượng tâm lý chưa có ý thức c) Hoặc có thể phân loại thành: Hiện tượng tâm lý sống động: Thể hiện trong hành vi, hoạt động Hiện tượng tâm lý tiềm tàng: tích động trong sản phẩm của hoạt động d) Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm lý của xã hội (phong tục, tập quán, định hình xã hội, dư luận xã hội, tâm trạng xã hội, “mốt”) III. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ 1.Các nguyên tắc phương pháp luận: 1.1 Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng. Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não của mỗi người, thông qua lăng kính chủ quan của con người. Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó cái quyết định xã hội là quan trọng nhất. 1.2 Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động . Hoạt động là phương thức hình thành phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức, nhân cách. Đồng thời tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động thống nhất với nhau. Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển. Cần phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó. 13
- 1.3 Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong sự vận động và phát triển không ngừng của chúng Nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét nhìn nhận các hiện tượng tâm lý trong sự vận động và phát triển không ngừng. Không nên coi hiện tượng tâm lý là nhất thành bất biến. 1.4 Phải nghiên cứu tâm lý trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ với các hiện tượng tâm lý khác: các hiện tượng tâm lý không tồn tại một cách biệt lập mà chúng quan hệ chặt chẽ với nhau bổ sung cho nhau và chuyển hoá lẫn nhau, đồng thời chúng còn chi phối và chịu sự chi phối của các hiện tượng khác. 1.5 Phải nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, một nhóm người cụ thể, chứ không nghiên cứu một cách chung chung, nghiên cứu tâm lý ở một con người trừu tượng. 2.Các phương pháp nghiên cứu tâm lý: 2.1. Phương pháp quan sát. Quan sát là phương pháp nghiên cứu những biểu hiện bên ngoài của tâm lý con người (Hành vi, cử chỉ, nét mặt, lời nói, dáng điệu vv ) diễn ra trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên, bình thường của họ để từ đó rút ra kết luận. Quan sát là một loại tri giác có chủ định, cho phép chúng ta thu được nhiều tài liệu cụ thể, sinh động trực quan, khách quan trong các điều kiện tự nhiên của con người. Quan sát có nhiều hình thức: quan sát toàn diện, quan sát bộ phận, quan sát có trọng điểm, quan sát trực tiếp hay gián tiếp và tự quan sát. + Muốn quan sát có hiệu quả cao cần chú ý những vấn đề sau đây: * Xác định mục đích, nội dung, kế hoạch quan sát. * Tiến hành quan sát một cách cẩn thận, có hệ thống. * Ghi chép một cách khách quan và rút ra những nhận xét trung thực. Ưu điểm của phương pháp quan sát là sẽ cho ta thu được các tài liệu cụ thể, khách quan, các thông tin thô. 14
- Nhược điểm: là nó phụ thuộc khá lớn vào người tiến hành quan sát (trình độ, kinh nghiệm, tính trạng sức khoẻ người quan sát). Đối với các biểu hiện tâm lý sâu kín của người quan sát (niềm tin, lý tưởng, thói quen, nguyện vọng vv ) rất có thể quan sát được. 2.2. Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm là phương pháp tác động vào đối tượng một cách chủ động trong những điều kiện đã được khống chế, để gây ra ở đối tượng những biểu hiện cần nghiên cứu, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần đo đạc định lượng, định tính một cách khách quan. + Thường có hai loại thực nghiệm: - Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được thực hiện dưới điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, chủ động tạo ra những điều kiện làm nẩy sinh nội dung tâm lý cần nghiên cứu - Thực nghiệm tự nhiên được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống. Khác vơ(i quan sát, trong thực nghiệm tự nhiên, nhà nghiên cứu có thể chủ động gây ra những biểu hiện và diễn biến tâm lý bằng cách khống chế những mốt số nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nổi bật các yếu tố cần thiết của thực nghiệm. Ví dụ: Bố trí một phòng trong đó có 10 người được dặn trước khi đưa một cái hộp màu xanh hỏi màu gì thì người trả lời là màu tím. Sau đó mới người X- là người mà ta cần xem xét tính tự chủ của họ. Lúc vào phòng, sau khi hỏi 10 người đã được chuẩn bị đều trả lời hộp màu tím. Đến lượt người X thì họ có thể trả lời nhiều cách: - Nó là màu tím chứng tỏ là adua, không có chính kiến. - Nó là màu xanh có tính tự chủ cao. Ngoài ra tuỳ theo mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm tự nhiên lại được phân thành hai loại. * Thực nghiệm nhận định: là thực nghiệm nhằm xác định thực trạng vấn đề nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể. * Thực nghiệm hình thành: ở loại thực nghiệm này người nghiên cứu tiến hành các tác động giáo dục, rèn luyện nhằm hình thành một phẩm chất tâm lý nào đó ở đối tượng thực nghiệm. 15
- 2.3. Test (Trắc nghiệm): + Test là một phép thử để đo lường tâm lý, đã được chuẩn hoá trên một số lượng người tiêu biểu. Ngày nay có rất nhiều loại test khác nhau để xác định các loại phẩm chất tâm lý sinh lý của con người như: khả năng trí tuệ, năng lực, trí nhớ, độ nhạy cảm của các giác quan, đời sống tình cảm Ngày xưa các vua chúa, tướng lĩnh vẫn thường dùng test để tuyển chọn nhân tài. Trong sách “văn thư yếu lược” có dạy rằng: giao việc khó khăn lớn lao để biết nhân tài, giao việc nguy hiểm để thử lòng can đảm, giao việc quân cơ bí mật để thử lòng trung thành với Tổ quốc, giao việc phức tạp nan giải để thử trí thông minh, giao việc tiền tài để thử lòng tham lam của con người. + Ưu điểm cơ bản của Test Các cách thử này ngày nay trong các bài tập gọi là test. Ưu điểm của Test - Có khả năng làm cho hiện tượng tâm lý cần đo trực tiếp bộc lộ qua hành động giải bài tập test - Có khả năng tiến hành tương đối đơn giản bằng giấy bút, tranh vẽ. - Có khả năng lượng hoá và chuẩn hoá chỉ tiêu tâm lý cần đo Tuy nhiên test cũng có những khó khăn, hạn chế. - Khó soạn một bộ test đảm bảo tính chuẩn hoá, hoàn chỉnh - Test chủ yếu là cho ta biết kết quả, ít bộc lộ qúa trình suy nghĩ của nghiệm thể để đi đến kết quả Vì thế, cần sử dụng test như là một trong các chẩn đoán tâm lý con người ở một thời điểm nhất định. 2.4. Phương pháp đàm thoại (trò chuyện) Là phương pháp nghiên cứu tâm lý con người thông qua việc trò chuyện chân tình, cởi mở với họ, nêu ra các câu gợi mở, các câu hỏi và dựa vào câu trả lời của họ nhằm thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu. 16
- Ưu điểm của phương pháp trò chuyện là ở chỗ cho phép đi sâu nghiên cứu nội tâm con người mà ít chi phí tốn kém. Nhược điểm là: thứ nhất nó lệ thuộc khá lớn vào kinh nghiệm và khả năng tiếp xúc của người nghiên cứu. Thứ hai: nó dễ xẩy ra việc lồng ý chủ quan của người nghiên cứu qua trao đổi. Thứ ba: không phải đối tượng nào cũng dễ dàng chấp nhận lối nghiên cứu này. Thứ tư là độ chính xác không cao vì kết quả dựa vào những câu trả lời Có thể đàm thoại trực tiếp hay gián tiếp, có thể hỏi thẳng hoặc hỏi đường vòng. Khi đàm thoại muốn thu được tài liệu tốt nên: - Xác định rõ mục đích yêu cầu (Vấn đề cần tìm hiểu). - Tìm hiểu thông tin về một số đặc điểm của đối tượng. - Có kế hoạch chủ động “lái hướng câu chuyện”. - Cần linh hoạt, khéo léo tế nhị khi lái hướng câu chuyện, vừa giữ được lô gích tự nhiên vừa đáp ứng yêu cầu của người nghiên cứu. 2.5. Phương pháp điều tra (An két) + Là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số đối tượng nghiên cứu, nhằm thu thập ý kiến cuả họ về một số vấn đề nào đó. Có thể bằng các câu hỏi, hoặc trả lời miệng do người điều tra ghi lại + Câu hỏi có thể là câu hỏi đóng (nhiều đáp án để chọn), hoặc câu hỏi mở để họ tự trả lời. Ví dụ: Anh chị hãy cho biết lý do vì sao xin vào làm việc công ty này? Bạn chọn và đánh dấu vào câu phù hợp: Vì được trả lương cao Vì công việc phù hợp với bạn Vì có nhiều cơ hội thăng tiến Vì những lý do khác 17
- + Dùng phương pháp điều tra có thể trong một thời gian ngắn thu thập được một số ý kiến của nhiều người nhưng là ý kiến chủ quan. Để có tài liệu tương đối chính xác phải điều tra nhiều lần và cần soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên theo yêu cầu cụ thể. Ưu điểm của phương pháp này là thu thông tin khá nhanh và nhiều. Đảm bảo tự do tư tưởng cho người được hỏi, nhưng cần có sự hợp tác và trách nhiệm cao của người trả lời để thông tin được chính xác và khách quan. Để phương pháp này đạt được hiệu quả cao khi sử dụng cần: - Câu hỏi soan thảo phải rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với tình độ của đối tượng được nghiên cứu . - Soạn kỹ bản hướng dẫn điều tra viên- người sẽ phổ biến câu hỏi điều tra cho các đối tượng . - Khi xử lý số liệu cần dùng phương pháp toán xác suất thống kê để tránh sự sai sót. 2.6. Phương pháp phân tích kết quả hoạt động: Đó là phương pháp dựa vào kết quả sản phẩm hoạt động do con người làm ra để nghiên cứu các chức năng tâm lý của con người đó. Cần chú ý rằng kết quả các hoạt động phải được xem xét trong mối liên hệ vối các điều kiện tiến hành hoạt động. Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện, vì sản phẩm của con người dễ dàng có thể lấy ra để quan sát và đánh giá, hơn nữa lại có thể cùng một lúc sử dụng nhiều người nghiên cứu mà không tốn kém. Nhưng nó có nhược điểm là người nghiên cứu phải giỏi nghiệp vụ mới đưa ra các kết luận bổ ích . 2.7. Phương pháp phân tích tiểu sử cá nhân: Đây là phương pháp nghiên cứu tâm lý gián tiếp thông qua hồ sơ, lý lịch lịch sử của người cần xem xét. Qua bản khai lý lịch quá trình công tác hoạt động trong quá khứ để dự đoán đặc điểm tâm lý của họ về các vấn đề cần quan tâm. Phương pháp này nó có ưu điểm là dễ thực hiện, nhưng lại có nhược điểm là cần phải quản lý tốt hồ sơ, đồng thời lý lịch theo mẫu định sẵn chỉ có thể phản ánh một cách tổng quát theo một số nội dung nhất định nên khó phát hiện yếu tố tâm lý sâu sắc của họ. 18
- Tóm lại: các phương pháp nghiên cứu tâm lý khá phong phú. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy muốn nghiên cứu một chức năng tâm lý một cách khoa học cần: - Sử dụng phương pháp nghiên cứu thích hợp với vấn đề nghiên cứu - Sử dụng phối hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu để đem lại kết quả khoa học toàn diện. 19
- Chương II CƠ SỞ TỰ NHIÊN VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ NGƯỜI I- CƠ SỞ TỰ NHIÊN CỦA TÂM LÝ NGƯỜI 1. Não và tâm lý Mối liên hệ giữa não và tâm lý là một trong những vấn đề cơ bản trong việc lý giải cơ sở tự nhiên, cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý người. Song xung quanh mối quan giữa tâm lý và não cũng có nhiều quan điểm khác nhau - Quan niệm tâm lý - vật lý song song : Ngay từ thời R.Đêcác với các quan điểm nhị nguyên, các đại biểu của tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa coi các quá trình tâm lý và tâm lý thường song song diễn ra trong não người không phụ thuộc vào nhau trong đó tâm lý được coi là hiện tượng phụ. - Quan điểm đồng nhất tâm lý với sinh lý: đại biểu chủ nghĩa duy vật tầm thường Đức (Bucne, Photxtơ, Môlêsôt) cho rằng: tư tưởng do não tiết ra, giống như mật do gan tiết ra. - Quan điểm duy vật : Coi tâm lý và sinh lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lý có cơ sở vật chất và hoạt động của não bộ, chỉ khi có não hoạt động tâm lý người mới xuất hiện. Vỏ????????????? não cùng với các bộ phận dưới võ là cơ sở vật chất là nơi tồn tại cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, ý thức Không có não và võ não (Hoặc võ não không bình thường ) thì không có tâm lý (hoặc có tâm lý không bình thường) nhưng tâm lý không song song và đồng nhất với sinh lý. Tâm lý là kết quả hệ thống chức năng những hoạt động phản xạ của não 20
- Cấu tạo của não bao gồm - Hành tủy ( nối liền tủy sống phình ra thành hình củ hành) - Cầu não (ở giữa não tủy và hành tủy) - Não giữa : Gồm hai cuống đại não và bốn củ não sinh tư) - Não trung gian gồm mấu não, hai đồi thị - Tiểu não: ( nằm phía sau trụ não, dưới các bán cầu đại não) - Bán cầu đại não( vỏ não và các hạch dưới vỏ) Chức năng chung phần dưới vỏ não ( hành tủy, tiểu não, não giữa, não trung gian ) dẫn truyền hưng phấn từ dưới lên, từ bộ phận này sang bộ phận kia từ trên xuống dưới, điều khiển các vận động thăng bàng khi vận động, họat động các tuyến nội tiết, các cơ quan nội tạng và một phần họat động định hướng vùng não trung gian, đảm bảo sự thực hiện các phản xạ không điều kiện phức tạp. 21
- 2. Vấn đề định khu chức năng trong não Đây là vấn đề hết sức phức tạp , từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau Tâm lý học theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định: Trên vỏ não có nhiều miền ( vùng, thùy ) mỗi miền này là cơ sở vật chất của các hiện tượng tâm lý tương ứng. Tuy nhiên mỗi quá trình tâm lý xảy ra là dosự phối hợp của nhiều miền trên vỏ não. Một hiện tượng tâm lý xẩy ra, nhất là các hiện tượng tâm lý phức tạp, bao giờ cũng có nhiếu trung khu, nhiều miền tham gia tạo thành hiện tượng đó. Tùy theo hiện tượng tâm lý khác nhau mà các trung khu tần kinh cũng được taio thành khác nhau – nghĩa là hệ thống trung khu thần kinh luôn luôn thay đổi. Sự họat động dựa trên nguyên tắc “phân công” kết hợp với nguyên tắc nhịp nhàng như vật tạo nên một hệ thống. Một số vùng chức năng của võ não 1. Vùng thị giác, 2. Vùng thính giác; 3. Vùng vị giác; 4. Vùng cảm giác cơ thể; 5. Vùng vận động; 6. vùng viết ngôn ngữ; 6. Vùng nói ngôn ngữ, 8. Vùng nghe hiểu tiếng nói; 9. Vùng nhìn hiểu chữ viết 22
- 3. Phản xạ có điều kiện và tâm lý: Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ. Đêcác là người đầu tiên tìm ra khái niệm phản xạ và dùng khái niệm phản xạ để giải thích hiện tượng tâm lý nhưng Đêcác mới nói hoạt động vô thức với phản xạ. - IM. Xêtrênốv nhà sinh lý học người Nga đã mở rộng nguyên tắc phản xạ đến toàn bộ hoạt động của não. Tất cả các hoạt động tâm lý có ý thức lẫn không có ý thức đều bắt nguồn từ phản xạ. Có hai lọai phản xạ: phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện 3.1 Phản xạ không điều kiện: Là cơ sở sinh lý của bản năng ở động vật và con người, mỗi bản năng họat động đều dựa vào sự phối hợp họat động của một phản xạ không điều kiện như: bản năng dinh dưỡng, bản năng tự vệ, bản năng sinh dục. Tuy nhiên ở người phản xạ không điều kiện cũng chịu sự chi phối của sự phát triển lịch sử xã hội. Do đó ở con người bản năng cũng chịu sự chi phối của sự phát triển llịch sử xã hội. Phản xạ không điều kiện có trung khu thần kinh ở các phần dưới vỏ não và đại diện trên võ não 3.2 Phản xạ có điều kiện: Là phản xạ tự tạo của từng người đối với ngọai giới. Nó được hình thành trên cơ sở hình thành các đường liên hệ thần kinh tạm thời trên võ não. Đặc điểm của phản xạ có điều kiện: - Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo; Phản xạ có điều kiện được hình thành trong quá trình sống và họat động cụ thể - Quá trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường liên hệ thần kinh tạm thời giữa trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện trên võ não của trung khu trực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện - Cơ sở giải phẫu của phản xạ có điều kiện nằm trong võ não - Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể 23
- - Phản xạ có điều kiện được thành lập với kích thích bất kỳ.Vì vậy phản xạ có điều kiện chuẩn bị cho họat động sắp xẩy ra, không phải lúc nào phản xạ có điều kiện cũng xuất hiện. Tất cả các hiện tượng tâm lý đều có cơ sở là phản xạ có điều kiện. Hoạt động phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi. Phản xạ có 3 khâu : + Khâu đầu tiên là quá trình nhận kích thích từ bên ngoài vào, biến thành hưng phấn theo đường thần kinh hướng tâm đi về não. + Khâu giữa là qúa trình thần kinh trên não và tạo ra hoạt động tâm lý. + Khâu kết thúc dẫn truyền thần kinh từ trung ương theo đường li tâm gây nên phản ứng của cơ thể. - IP Pávlov kế tục sự nghiệp của Xêtrênốp đã thành lập ra học thuyết phản xạ có điều kiện- cơ sở sinh lý của hiện tượng tâm lý. 4.Quy luật hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lý. a) Qui luật họat động theo hệ thống Trong điều kiện tự nhiên của đời sống, các kích thích không tác động một cách riêng lẻ, chúng thường tạo thành một tổ hợp các kích thích đồng thời hoặc nối tiếp. Mặt khác cơ thể cũng không phản ứng riêng lẻ mà phản ứng một cách tổ hợp các kích thích đó. Hoạt động của cho phép hợp nhất những kích thích riêng lẻ hay không riêng lẻ thành một hệ thống. Đó là quy luật hoạt động theo hệ thống của võ não. Động hình là một chuỗi phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo một thứ tự nhất định đã được lặp đi lặp lại nhiều lần. Khi có một phản xạ có điều kiện trong chỗi đó xẩy ra thì phản xạ này kéo theo phản xạ khác trong chup64i cùng xẩy ra . Động hình là cơ sở sinh lý của cảm xúc, tình cảm, thói quen. b) Quy luật lan toả và tập trung . Hưng phấn Ức chế 24
- Hưng phấn và ức chế là hai trạng thái cơ bản của hệ thần kinh. Khi vỏ não có một điểm(vùng ) hưng phấn hoặc ức chế nào đó, thì quá trình hưng phấn, ức chế đó không dừng lại ở điểm đó, nó sẽ lan toả ra chung quanh, sau đó trong những điều kiện bình thường chúng lại tập trung vào một nơi nhất định. Hai quá trình lan toả và tập trung xảy ra kế tiếp nhau trong một trung khu thần kinh. Nhờ đó mà hình thành một hệ thống chức năng các phản xạ có điều kiện- cơ sở sinh lý của các hiện tượng tâm lý. c) Quy luật cảm ứng qua lại Khi qúa trình thần kinh cơ bản có ảnh hưởng qua lại với nhau,tạo nên qui luật cảm ứng qua lại. Có bốn dạng cảm ứng qua lại cơ bản: đồng thời ,tiếp diễn, dương tính và âm tính. - Cảm ứng qua lại đồng thời xảy ra giữa nhiều trung khu :hưng phấn ở điểm này gây nên ức chế ở phần kia hoặc ngược lại. - Cảm ứng qua lại tiếp diễn : Ở một trung khu ( Hay trong một điểm) vừ hưng phấn sau đó chuyển sang ức chế ở chính trung khu ấy. - Cảm ứng dương tính : Đó là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn và ngược lại ức chế làm cho hưng phấn mạnh hơn. - Ngược lại , hưng phấn gây nên ức chế, hoặc ức chế làm giảm hưng phấn, thì đó là cảm ứng âm tính. d) Qui luật phụ thuộc vào cường độ kích thích: Trong trạng thái tỉnh táo, khoẻ mạnh, bình thường của vỏ não nói chung thì độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ kích thích . Ở người sự phụ thuộc này mang tính chất tương đối, vì phản ứng của con người không chỉ phụ thuộc vào kích thích mà còn phụ thuộc vào chủ thể của mỗi người. Tóm lại: các quy luật cơ bản trên có quan hệ mật thiết với nhau, cùng chi phối sự hình thành , diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lý của con người. 5. Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lý: 5.1 Hệ thống tín hiệuthứ nhất: Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan và các thuộc tính của chúng là những tín hiệu được phản ánh trực tiếp vào não và để lại dấu vết tromg vỏ não gọi là hệ thống tín hiệuthứ nhất . Hệ thống tín hiệu thứ nhất là 25
- cơ sở sinh lý của họat động nhận thức cảm tính, trực quan, tư duy cụ thể và các cảm xúc cơ thể của người và động vật. 5.2 Hệ thống tín hiệu thứ hai Toan( bộ những ký hiệu tượng trưng ( tiếng nói, chữ viết, biểu tượng ) về sự vật hiện tượng khách quan được phản ánh vào đầu óc con người là những tín hiệu thứ hai. Hệ thống tín hiệu thứ hai chỉ có ở người Hệ thống tín hiệu thứ hai là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, ý thức và tình cảm II.CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA TÂM LÝ CON NGƯỜI. S ự Phát triển tâm lý của con người không chỉ bị chi phối của qui luật tự nhiên mà còn chịu sự chế ước quy luật của xã hội- lịch sử. 1. Quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội và tâm lý của con người Tâm lý của con người có bản chất xã hội và mang tính lịch sử - Chũ nghĩa Mác khẳng định: các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người. Các quan hệ xã hội trước hết là quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế, chế độ chính trị, quan hệ con người- con người, quan hệ đạo đức pháp quyền qui luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội loài người là : qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất. Hoạt động tâm lý của con người chịu sự tác động của quy luật xã hội, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất. Chỉ có sống và hoạt động trong xã hội con người mới thực hiện được chức năng phản ánh của mình. - Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lý của con người là cơ chế lĩnh hội nền văn hoá xã hội Đặc điểm cơ bản của qúa trình lĩnh hội là nó tạo ra ở con người những chức năng tâm lý mới, những năng lực mới. Qúa trình lĩnh hội là quá trình tái những thuộc tính, những năng lực của loài người thành những thuộc tính, năng lực của cá thể mỗi người, hay nói cách khác đi, thông qua cơ chế lĩnh hội mà con người tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội thành bản chất con người, tâm lý con người. 2.Hoạt động và tâm lý. 2.1.Khái niệm chung về hoạt động . - Hoạt động là gì ? 26
- Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động - Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượnh thần kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thoã mãn những nhu cầu của mình . Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới(khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người(chủ thể) Họat động là phương thức tồn tại của con người thể hiện hai cấp độ - Cấp độ vi mô: là cấp độ hóat động của cơ thể, các giác quan, các bộ phận tuân theo quy luật sinh học. Nhờ có họat động mà con người tồn tại và phát triển, nhưng họat động ở cấp độ này không phải là đối tượng của tâm lý học. - Cấp độ vĩ mô: là hoạt động có đối tượng của con người với tư cách là một chủ thể của hoạt động có mục đích. Đây chính là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Họat động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài- thế giới tự nhiên và xã hội giữ mình với người khác, giữa mình với bản thân. Trong quá trình quan hệ đo có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau + Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hoá, trong đó chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động hay nói cách khác đi tâm lý của con người(cuả chủ thể) được bộc lộ, được khách quan hoá trong quá trình làm ra sản phẩm Quá trình này còn gọi là qúa trình “xuất tâm”. + Quá trình chủ thể hoá, có nghĩa là khi hoạt động con người chuyển từ phía khách thể vào bản thân mình những quy luật bản chất của thế giới để tạo thành tâm lý,ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh thế giới Quá trình chủ thế hoá còn gọi là quá trình nhập tâm 27
- Như vậy là trong quá trình hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác đi tâm lý nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động. 2.2 Những đặc điểm của hoạt động - Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng - Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể - Hoạt động bao giờ cũng có mục đích - Hoạt động bao giờ cũng tiến hành theo nguyên tắc gián tiếp. Trong hoạt động con người gián tiếp tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở trong đầu, gián tiếp qua việc sử dụng công cụ lao động và sử dụng phương tiện ngôn ngữ. Như vậy , công cụ tâm lý, ngôn ngữ, công cụ lao động giữ chức năng trung gian giữa chủ thẻ và khách thể, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động. 2.3 Các loại hoạt động : Có nhiều cách phân loại hoạt động * Xét về phương diện cá thể ta thấy con người có 4 loại hoạt động cơ bản : Vui chơi, học tập, lao động và hoạt động xã hội * Xét về phương diện sản phẩm ( vật chất hay tinh thần) ta có hai loại hoạt động lớn - Hoạt động thực tiễn: Hướng vào vật thể hay quan hệ tạo ra sản phẩm cật chất là chủ yếu. - Hoạt động lý luận: diễn ra vơí hình ảnh biểu tượng khái niệm tạo ra sản phẩm tinh thần. Ngòai ra còn có cách phân lọai khác chi họat động của con người thành 4 lọai - Họat động biến đổi - Họat động nhận thức - Họat động định hướng giá trị - Họat động giao tiếp 28
- 2.4. Cấu trúc của hoạt động . Chủ nghĩa duy vật hành vi cho rằng hoạt động của con người và động vật có cấu trúc chung là: kích thích - phản ứng (S-R) Trong tâm lý học có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tố diễn ra ở phía con người : Hoạt động – hành động- thao tác. Quan điểm của A.N Lêônchiev về cấu trúc vĩ mô của hoạt động bao gồm 6 thành tố và mối quan hệ giữa 6 thành tố này Khi tiến hành hoạt động về phía chủ thể bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ giữa 3 thành tố này là Hoạt động- hành động- thao tác. Ba thành tố này thuộc các đơn vị thao tác ( mặt kỹ thuật ) của hoạt động. Còn về phía khách thể (Về phía đối tượng của hoạt động) cũng bao gồm 3 thành tố và mối quan hệ của chúng là Động cơ- mục đích- phương tiện. Ba thành tố này tạo nên “nội dung đối tượng “ của hoạt động ( mặt tâm lý) Có thể khái quát cấu trúc chung của hoạt động như sau: Dòng các hoạt động Chủ thể Khách thể Hoạt động cụ thể Động cơ Hành động Mục đích Thao tác Phương tiện 29
- Sản phẩm 3. Giao tiếp và tâm lý 3.1.Giao tiếp là gì ? Giao tiếp là mối quan hệ qua lại giữa con người vơí con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người cới người, thông qua đó mà con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác giao tiếp xac lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hoá các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác. Mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xẩy ra với các hình thức sau đây: - Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân - Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm - Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với cộng đồng. 3.2. Chức năng của giao tiếp + Chức năng thuần túy xã hội Là các chức năng giao tiếp phục vụ cho nhu cầu chung của xã hội hay của một nhóm người ( Chức năng thông tin, chức năng phối hợp) + Chức năng tâm lý xã hội: Đó là các chức năng giao tiếp phục vụ cho các nhu cầu của từng thành viên của xã hội, đáp ứng nhu cầu quan hệ giữa bản thân với người khác (Chức năng cảm xúc, Chức năng nhận thức lẫn nhau, chức năng điều chỉnh hành vi) 3.3. Các loại giao tiếp Có nhiều cách phân loại * Theo phương tiện giao tiếp, có thể có 3 loại giao tiếp sau 30
- - Giao tiếp vật chất : giao tiếp thông qua hành động với vật thể Ví dụ: Thông qua đồ chơi người lớn giao tiếp với trẻ em, người ta tặng cho nhau những vật kỷ niệm để nhớ nhau, để gửi gắm, tình cảm, suy nghĩ cho nhau - Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: Là giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, hành động, ánh mắt, nụ cười để biểu thị sự đồng tình hay phản đối - Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Là thông qua tiếng nói, chữ viết * Theo khoảng cách ta có : - Giao tiếp trực tiếp - Giao tiếp gián tiếp: Được thực hiện qua phương tiện trung gian như thư từ, báo chí, điện thọai * Theo quy cách người ta phân thành 2 loại - Giao tiếp chính thức - Giao tiếp không chính thức 3.4 Vai trò của giao tiếp Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người - Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, quy tắc đạo đức, chuẩn mực xã hội, đồng thời nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so sánh với người khác vơí chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình như một nhân cách để hình thành thái độ giá trị cảm xúc. Hay nói một cách khá đi, qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức 4.Tâm lý người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp. Chũ nghĩa DVBC đã khẳng định: Tâm lý con người có nguồn gốc từ bên ngoài, từ thế giới khách quan chuyển vào trong não mỗi người. Trong thế giới thì quan hệ xã hội, nền văn hoá xã hội là cái quyết dịnh tâm lý con người 31
- Tâm lý người là kinh nghiệm xã hội- lịch sử đã chuyển thành kinh nghiệm bản thân thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo. Tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp. Chương III SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ý THỨC I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ 1. Sự nẩy sinh và hình thành phát triển tâm lý về phương diện loài Từ động vật bậc cao chưa có ý thức phát triển thành người có ý thức 1.1Tiêu chuẩn xác định sự nẩy sinh tâm ly Sự nẩy sinh và phát triển tâm lý gắn với sự sống. Sự sống ra đời cách đây khoảng 2500 triệu năm với hình thức đầu tiên là giọt prôtít ( Côaxécva). Từ hình thức đơn giản ấy phát triển thành sinh vật. Thế giới sinh vật bắt đầu từ đây với đặc trưng khác hẳn với thế giới vô sinh là có tính chịu kích thích. Tính chịu kích thích là khả năng đáp lại các tác động của ngoại giới có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của cơ thể Tính chịu kích thích là là cơ sở cho sự phản ánh tâm lý nẩy sinh. Tính chịu kích thích có ở những sinh vật chưa có tế bào thần kinh hoặc mạng thần kinh phân tán khắp cơ thể 32
- Ví dụ: Cơ thể đơn bào do có tính chịu kích thích nên vận động di chuyển về phía ánh sáng hoặc nhiệt độ cao hơn Tính chụi kích thích phát triển lên một giai đoạn cao hơn đó là tính cảm ứng. Tính cảm ứng là năng lực đáp lại những kích thích những kích thích có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự tồn tại của cơ thể. Ví dụ ếch phản ứng với kích thích gián tiếp thông qua màu vàng hoa mướp, nhện giăng luới bắt mồi con cóc vồ đớp que diêm có hình thù giống như con sâu mà nó quen ăn, que diêm gỗ chỉ báo hiệu tín hiệu cho con cóc về một thức ăn quen thuộc Tính nhạy cảm được coi là mầm mống tâm lý đầu tiên xuất hiện cách đây 6oo triệu năm xuất hiện ở sinh vật có hệ thần kinh hạch (Ong, giun) 1.2) Các thơì kỳ phát triển tâm lý * Xét theo mức độ phản ánh thì tâm lý cuả loài người đã trải qua 3 thời kỳ sau + Thời kỳ cảm giác: Ở những động vật không xương sống . Ở thời kỳ này con vật chỉ trả lời từng loại kích thích riêng lẻ. Ơ bậc thang tiến hoá cao hơn và loài người đều có cảm giác. Cảm giác là cơ sở cho sự xuất hiện các thời kỳ phản ánh tâm lý cao hơn + Thời kỳ tri giác. Bắt đầu xuất hiện ở loài cá cách đây khỏang 300- 350 triệu năm, hệ thần kinh ống với tủy sống và vỏ não giúp động vật có khả năng đáp ứng lại một tổ hợp kích thích ngoại giới chứ không đáp lại từng kích thích riêng lẻ – khả năng này gọi là tri giác (lưỡng cư, bò sát, loài chim, động vật có vú, tri giác đạt tới mức hoàn chỉnh) + Thời kỳ tư duy -Tư duy bằng tay: Ở loài vượn Oxtralôpitêc cách đây khoảng 10 triệu năm - Tư duy bằng ngôn ngữ * Xét về nguồn gốc nẩy sinh của hành vi tâm lý ta có: 33
- + Thời kỳ bản năng : Từ loài côn trùng trở đi bắt đầu có bản năng. Ở động vật có xương sống và người cũng có bản năng Nhưng bản năng con người khác xa về chất so với bản năng con vật: Bản năng của con người là bản năngg có ý thức Ví dụ: đứa trẻ sinh ra đã biết bú, vịt con nở ra đã biết bơi, con ong xây tổ + Thời kỳ kỹ xảo: Kỹ xảo là một hình thức hành vi mới xuất hiện sau bản năng – một hành vi do cá thể tự tạo . Hành vi kỹ xảo là các thao tác, hành động do cá thể tự tạo nên bằng cách tập luyện lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục, trở thành định hình trong não . Ví dụ: ong có bản năng là khi sinh ra đã biết bay, ta tập cho nó bay theo một đường nhất định. Bồ câu đưa thư + Thời kỳ hành vi trí tuệ: Hành vi trí tuệ là hành vi cao hơn kỹ xảo và bản năng là hành vi đặc trưng cho các động vật bậc cao ( như, khỉ, cá heo, voi). hành vi trí tuệ được phát triển mạnh là hành vi đặc trưng cho con người. Đây là kiểu hành vi mềm dẻo v hợp lý trong điều kiện sống luôn luôn biến đổi. Hành vi trí tuệ là hành vi do luyện tập, do cá thể tự tạo trong đời sống của nó. Chính nhờ hành vi trí tuệ con người con người có thể thích ứng v cải tạo khch quan, đồng thời cải tạo chính bản thân mình 2. Sự phát triển tâm lý theo phương diện cá thể 2.1 Thế nào là sự phát triển tâm lý về phương diện cá thể Sự phát triển tâm lý về phương diện cá thể là một quá trình chuyển đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác. Ở mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triển tâm lý đạt tới chất lượng mới và diễn ra theo một quy luật đặc thù. Các giai đoạn phát triển tâm lý cá thể: + Giai đoạn tuổi sơ sinh và hài nhi : Từ 0 đến 12 tháng + Giai đoạn trước tuổi học - Thơì kỳ vườn trẻ - Thời kỳ mẫu giáo + Giai đoạn tuổi đi học 34
- - Thời kỳ đầu tuổi học ( nhi đồng) - Thơì kỳ giữa tuổi học ( thiếu niên) - Thời kỳ cuối tuổi học ( tuổi thanh niên) Mỗi giai đoạn lứa tuổi có một hoạt động chủ đạo : -Tuổi sơ sinh: Hoạt động giao tiếp cảm xúc trực tiếp - Tuổi Nhà trẻ : Chơi với đồ vật là hoạt động chủ đạo - Tuổi mẫu giáo: Vui chơi là hoạt động chủ đạo - Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi học sinh - Lao động và hoạt động xã hội là hoạt dộng chủ đạo của lứa tuổi thanh niên và người trưởng thành. II. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC. 1. Khái niệm chung về ý thức 1.1) Ý thức là gì: Từ ý thức được dùng theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng ý thức đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng Theo nghĩa hẹp khái niệm ý thức để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý của con người. Vậy ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất, chỉ riêng con người mới có phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được từ trước, ý thức là Là tri thức của tri thức, phản ánh của phản ánh). 1.2) Cac thuộc tính của ý thức * Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới Ý thức giúp con người : 35
- - Nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ. - Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó, làm cho hành vi mang tính chủ định * Ý thức thể hiện thái độ của con người với thế giơi Ý thức không chỉ nhận thức sâu sắc thế giới mà còn bao hàm thái độ đối với nó. * Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người * Khả năng tự ý thức: Khả năng tự nhận thứ về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, tự hoàn thiện mình. 1.3.Cấu trúc cuả ý thức : Ý thức có một cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm 3 mặt thống nhất với nhau, điều khiển hoạt động ý thức của con người + Mặt nhận thức: Đây là nội dung cơ bản của ý thức, là hạt nhân của ý thức giúp con người hình dung ra kết quả hoạt động và hoạch định kế hoạch hành vi + Mặt thái độ của ý thức: nói lên thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc thái độ đánh giá của chủ thể vơi hành vi. + Mặt năng động của ý thức :Ý thức điều khiển điều chỉnh hoạt động của con người làm cho hoạt động của con ngươi có ý thức. Đó là quá trình con người vận dụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới và cải biến bản thân 2.Sự hình thành và phát triển ý thức 2.1 Sự hình hành ý thức của con người (về phương diện loài người) Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thới vơí là ngôn ngữ đó là hai động lực chủ yếu để biến bộ óc con vượn thành bộ não người. Đây cũng là hai yếu tố tạo nên sự hình thành ý thức của con người + Vai trò của lao động đối vơi sự hình thành ý thức 36
- - Điều khác biệt giữa con người và con vật là con người trước khi lao động làm ra sản phẩm nào đó con người phải hình dung ra sản phẩm của mình, con người ý thức mà cái mình sẽ làm ra. - Trong lao động con người phải chế tạo ra và sử dung các công cụ lao động , tiến hành các thao tác lao động, tác động vào đôí tượng lao động để làm ra sản phẩm. Ý thức của con người được hình thành và thể hiện trong quá trình lao động. - Kết thúc lao động con người có ý thức đối chiếu sản phẩm làm ra với mô hình tâm lý của sản phẩm mà mình đạ hình dung ra trước để hoàn thiện, đánh giá sản phẩm đó. + Vai trò cuả ngôn ngữ và giao tiếp đối vơí sự hình thành ý thức Trong lao động các thành viên cần trao đổi với nhau, nói với nhau ý nghĩ của mình. Nhu cầu đólàm nẩy sinh ra ngôn ngữ Hoạt động ngôn ngữ giúp con người ý thức về việc sử dụng công cụ lao động, tiến hành hệ thống các thao tác lao động để cùng làm ra sản phẩm. Ngôn ngữ cũng giúp con người phân tích đối chiếu đánh giá sản phẩm mình làm ra Nhờ có ngôn ngữ và hoạt động giao tiếp mà con người ý thức về bản thân mình, ý thức về người khác (biết mình, biết người) trong lao động chung. 2.2 Sự hình thành ý thức và tự ý thức của cá nhân – Ý thức cá nhân được hình thành trong hoạt động và thể hiện trong sản phẩm hoạt động của cá nhân. - Ý thức của cá nhân được hình thành trong mối quan hệ giao tiếp giữa cá nhân vơí người khác, vơí xã hội - Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tiếp thu nền văn hoá xã hội - Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân tích hành vi của mình 3. Các cấp độ ý thức : - Cấp độ chưa ý thức 37
- - Cấp độ ý thức, tự ý thức - Cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể. 3.1 Cấp độ chưa ý thức: Trong cuộc sống ta thường gặp những hiện tượng tâm lý diễn ra mà cá nhân chưa nhận thức được. Hiện tượng tâm lý không ý thức được, chưa nhận thức được trong tâm lý học gọi là vô thức. Vô thức có đặc điểm sau: Cá nhân không nhận thức được hiện tượng tâm lý, các hành vi, cảm nghĩ của mình, không diễn đạt được bằng ngôn ngữ cho mình và cho người khác hiểu. Vì vậy vô thức không kèm theo sự dự kiến trước, không có chủ đích. Sự xuất hiện hành vi vô thức thừng đột ngột, bất ngờ nảy sinh trong thời gian ngắn . Vô thức thường gồm các hiện tượng tâm lý khác nhau - Vô thức ở tầng bản năng - Các hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý thức - Tâm thế - Có những hiện tượng tâm lý vốn là có ý thức, nhưng do lặp đi lặp lại nhiều lần chuyển thành dưới ý thức đó là tiềm thức. Tiềm thức chỉ đạo tư duy, hành động tới mức không cần ý thức tham gia. 3.2 Cấp độ tự ý thức: Ở cấp độ tự ý thức con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ tâm và dự kiến trước hành vi của minh, làm cho hành vi trở nên có ý thức.Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức. Tự ý thức bắt đầu hình thành ở tuổi lên 3. Tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau: - Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình - Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, tự đánh giá - Tư điều khiển tự điều chỉnh hành vi của mình theo mục đích tự giác - Cá nhân có khả năng tự giáo dục và tự hòan thiện mình 38
- 3.3 cấp độ ý thức nhóm và ý thức tập thể Ở cấp độ này con người họat động không theo nhu cầu, hứngf thú quan điểm, của ác nhân mà còn hoạt động theo ý thừc mình là đại diện cho cộng đồng vì lợi ích, danh dự của nhóm người. 4 Chú ý – điều kiện hoạt động có ý thức. 4.1 Chú ý là gì ? Chú ý là sự tập trung của ý thức vào nột hay một nhóm sự vật hiện tượng, để định hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả. 4.2 Các loại chú ý : a) .Chú ý không chủ định Là lọai chú ý không có mục đích đặt ra từ trước không cần sự nổ lực của bản thân, xẩy ra chủ yếu do những tác động bên ngòai gây ra, phụ thuộc vào đặc điểm của kích thích bên ngòai, cụ thể: - Độ mới lạ của kích thích - Cường độ kích thích - Sư trái ngược vật kích thích với bối cảnh - Độ hấp dẫn ưa thích a) Chú ý có chủ định b) Chú ý sau chủ định c) Các thuộc tính của chú ý : + Sức tập trung chú ý: Là khả năng gạt bỏ những gìn không liên quan đến họat động, tập trung ý thức cao độ vào một phạm vi đối tượng tương đối hẹp, cần thiết cho họat 39
- động. Khái niệm sức tập trung chú ý liên quan đến khái niệm khối lượng chú ý. + Sự phân phối chú y là đồng thời cùng mốt lúc chú ý tới nhiều đối tượng hay nhiều họat động khác nhau một cách có chủ định. sự phân phối chú ý không phải là sự chia đều sức chú ý cho nhiều đối tượng, hoạt động + Sự di chuyển chú ý: Là sự chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác theo yêu cầu của hoạt động. Sư di chuyển chú ý là sức chú ý được thay thế có thức + Sự bền vững chú ý: Là khả năng duy trì lâu dài vào một hay một số đối tượng của chú ý 40
- Phần II. CÁC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC. Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người ( Nhận thức, tình cảm, hành động ) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người. Họat động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau và thể hiện ở những mức độ phản ánh hiện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan( hình ảnh, biểu tượng, khái niệm). Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia họat động nhận thức thành hai mức độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau, thống nhất trong qua trình nhận thức CHƯƠNG IV CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC I . CẢM GIÁC I . Khái niệm chung về cảm giác 1.1 Cảm giác là gì . Một số ví dụ về cảm giác Tay đụng vào một vật nhọn thấy đau, sờ vào nước đá thấy lạnh Để một vật tròn trên tay, nhắm mắt lại cảm thấy vật đó là tròn , nhẵn Mùa đông gió thổi vào da cảm thấy lạnh buốt 41
- Cắn quả ớt thấy cay, Đi qua bờ kênh cảm thấy mùi bốc lên rất khó chịu Tất cả những hiện tượng đó đều gọi là cảm giác Vậy: Cảm giác là một qúa trình tâm lý phản ánh thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của ta. 1.2 Đặc điểm của cảm giác . - Là một quá trình tâm ly, có kích thích là bản thân các sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan - Chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vât hiện tượng - Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp. - Cảm giác không chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của đối tượng bên ngòai, mà còn phản ánh những trạng thái bên trong của cơ thể. ( Đói cồn cào, gặp người đẹp tim hồi hộp) 1.3 Bản chất xã hội của cảm giác. Cảm giác có cả ở người và vật, nhưng cảm giác ở người khác xa về chất so với cảm giác của động vật. Bản chất xã hội của cảm giác thể hiện ở chỗ: - Đối tượng phản ánh của cảm giác không phải chỉ là sự vật hiện tượng có trong tự nhiên mà bao gồm cả những sản phẩm lao động của con người tạo ra. Ví dụ: Chế tạo ra máy lạnh để tạo ra cảm giác mát mẻ về mùa hè T ường sơn màu xanh để tạo ra một cảm giác dễ chịu khi làm việc Chế biến thức ăn để ăn ngon miệng: Chuột đồng miền tây, cá lóc nướng chui, cá lóc chiên xù - Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất mà cả hệ thống tín hiệu thứ hai Ví dụ: Một đứa trẻ té xuống ta khen nó ngoan, giỏi thì nó không thấy đau và không khóc 42
- Hoặc ban đêm đi một mình ta nói chỗ đó có ma thì cảm giác gợn tóc gáy. - Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của họat động và giáo dục . Ví dụ: Các thợ máy ô tô, máy bay chuyên nghe tiếng nổ động cơ Các thầy thuốc nội khoa chuyên nghe tim và phổi để chấn đóan bệnh Những người chăn vịt lành nghề chỉ nhìn qua trứng hay con vịt mới nở cũng biết phân biệt được đâu là con cái, đâu là con đực. Những người làm nghề nếm thử ( trong các nghành chế biến rượu, chè, thuốc lá ) phân biệt được 40 thứ bậc từng lọai vị, mùi có người chỉ tợp một ngụm rượu cũng biết là rượu đó do cây nho ở xứ nào làm ra. - Cảm giác của con người còn chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lý cao cấp nhất. Ví dụ: Lúc buồn, hay đau khổ thì ăn cảm thấy không ngon, thậm chí không có cảm giác đói. 1.4.Vai trò của cảm giác: - Cảm giác là hình htức định hướng đầu tiên của con người trong hiện thực khách quan - Cảm giác cung cấp những nguyên liệu cần thiết cho hình htức nhận thức cao hơn - Cảm giác là điều kiện đảm bảo trạng thái họat động của võ não, nhờ đó mà họat động tinh thần của con người được bình thường - Cảm giác là con đường nhận thức hiện thực khách quan đặc biệt quan trọng đối với những người bị khuyết tật.Những người câm, mù, điếc đã nhận ra người thân và hàng lạot đồ vật nhờ cảm giác, đặc biệt là xú giác. 2.Các loại cảm giác Căn cứ vào nguồn kích thích gây nên cảm giác ở ngòai hay ở trong cơ thể thì cảm giác được chia thành hai lọai: 43
- * Cảm giác ngoài gồm : - Cảm giác nhìn ( Thị giác): Cho ta biết hình thù khối lượng, độ sáng, độ xa màu sắc của sự vật. Nó giữ vai trò cơ bản trong sự nhận thức thế giới bên ngòi của con người nảy sinh do các sóng điện từ dài từ 380 đến 770 mi-li-mi- crông tác động vào mắt. - Cảm giác nghe ( thính giác): Phản ánh những thuộc tính về âm thanh, tiếng nói, nảy sinh chuyển động của sóng âm thanh có bước sóng từ 16 đến 20. 000 hec( tần số giao động trong một giây) tác động vào màng tai - Cảm giác ngưởi ( Khứu giác): cho biết thuộc tính mùi của đối tượng - Cảm giác nếm ( vị giác): Cho ta biết thuộc tính vị của đối tượng có 4 lọai: Cảm giác ngọt, cảm giác chua, mặn và đắng - Cảm giác da ( mạc giác): cho ta biết sự đụng chạm, sức ép của vật vào da cũng như nhiệt độ của vật. Cảm giác da gồm 5 loại: Cảm giác đụng chạm, cảm giác nén, cảm giác nóng, cảm giác lạnh, cảm giác đau. * Cảm giác bên trong - Cảm giác vận động : ( còn gọi là cảm giác cơ khớp) là cảm giác về vận động và vị trí của từng bộ phận của thân thể phản ánh độ co duỗi của các cơ, dây chằng, khớp xương của thân thể . Phần lớn các cơ quan thụ cảm vận động được phân bổ ở các ngón tay, lưỡi và môi vì đó là những cơ quan phải thực hiện những cử động lao động và ngôn ngữ tinh vi và chính xác. - Cảm giá thăng bằng Cho ta biết vị trí và phương hướng chuyển động của đầu ta so với phương của trọng lực. Cơ quan của cảm giác thăng bằng nằm ở thành ba của ống bán khuyên ở tai trong và liên quan chặt chẽ với nội quan . Cơ quan cảm giác thăng bằng bị kích thích quá mức sẽ gây mất thăng bàng ta cảm thấy chóng mặt, có khi nôn mửa . - Cảm giác cơ thể: Cho ta biết những biến đổi trong họat động của các cơ quan nội tạng gồm cảm giác đói, no, khát, buồn nôn, và các cảm giác khác liên quan đến hô hấp và tuần hòan - Cảm giác rung: do các dao động của không khí tác động lên bề mặt thân thể tạo nên. Nó phản ánh sự rung động của các sự vật, cảm giác này đặc biệt phảt triển mạnh ở người điếc, nhất là vừa điếc vừa câm. 44
- 3 Các quy luật cơ bản của cảm giác 3.1 Quy luật về ngưỡng của tri giác Không phải mọi kích thích nào cũng gây ra cảm giác: kích thích yếu hay quá mạnh đều không gây ra cảm giác. Giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra cảm giác thì gọi là ngưỡng của cảm giác. Có hai loại ngưỡng : - Ngưỡng tuyệt đối phía trên là cường độ kích thích tối đa vẫn gây cho ta cảm giác. - Ngưỡng tuyệt đối phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu đủ gây cho ta cảm giác( còn gọi là ngưỡng tuyệt đối), nó tỷ lệ nghịch với độ nhạy cảm của cảm giác. Trong phạm vi giữa ngưỡng dưới và ngưỡng trên là vùng cảm giác được trong đó có một vùng phản ánh tốt nhất Chẳng hạn đối với cảm giác nhìn ngưỡng dưới của mắt là những sóng ánh sáng có bước sóng 390 milimicron và ngưỡng trên 780 milimicron, vùng phản ánh tốt nhất 565 milimicoron của cảm giác nghe là 1000hec - Ngưỡng sai biệt :Đó là mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để cho ta phân biệt hai kích thích đó. Ngưỡng sai biệt là một hắng sô. Cảm giác thị giác là 1/100. thính giác là 1/10 Ví dụ: Một vật nặng 1kg, phải thêm vào ít nhất là 34 gam nữa thì mới gây cảm giác về sự biến đổi trọng lượng của nó 3.2 Quy luật về sự thích ứng của cảm giác Để đảm bảo cho sự phản ánh được tốt nhất và đảm bảo cho hệ thần kinh khỏi bị huỷ hoại, cảm giác của con người có khả năng thích ứng vơí kích thích. Đó là khả năng thay đổi độ nhạy cảm cho phù hợp vơí cường độ kích thích. Có nhiều kiểu thích ứng của cảm giác: a) Cảm giác hòan tòan mất đi khi quá trình kích thích kéo dài 45
- Ví dụ: Ít ai có cảm giác về sức nặng của đồng hồ đeo tay, kính đeo ở mắt, quần áo mặc trên người, b) Khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm. Ví dụ: Từ chỗ tối bước qua chỗ sáng , phải qua một thời gian đợi cho tính nhạy cảm của khí quan phân tích giảm xuống ta mới phân biệt được các vật chung quanh . Người lái máy bay bị đền chiếu dọi vào mắt ít nhất cũng qua từ 3 đến 6 giây mới giảm được sự nhạy cảm để nhìn rõ con số trên đồng hồ c) Khi cường độ kích thích giảm thì độ nhạy cảm tăng Ví dụ : Từ nơi sáng bước vào bóng tối Hai bàn tay, một ngâm vào nước nóng, một ngâm vào nước lạnh sau đó nhúng cả hai vào chậu nước bình thường thì bàn tay ngâm ở châu nước cảm thấy nước ở chậu lạnh hơn so với bàn tay kia Mức độ thích ứng của các loại cảm giác khác nhau là không giống nhau. Khả năng thích ứng của các cảm giác là do rèn luyện 3.3 quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác Sự tác động qua lại giữa các cảm giác là sự thay đổi tính nhạy cảm của một cảm giác này dưới ảnh hưởng của cảm giác kia. Sự tác động qua lại đó diễn ra theo một quy luật chung như sau: sự kích thích yếu lên một cảm giác này sẽ làm tăng độ nhạy cảm của cảm giác kia. Sự kích thích mạnh lên một cảm giác này sẽ làm giảm độ nhạy cảm của cảm giác kia. Ví dụ: Những âm thanh nhẹ làm tăng thêm tình nhạy cảm nhìn M ột mùi thơm dễ chịu làm cho mắt ta nhìn tinh hơn Lúc bệnh ăn gì cũng không cảm thây ngon Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hay nối tiếp giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại. Ví dụ: Sau một kích thích lạnh thì một kích thích ấm sẽ có vẻ nóng hôn- Đó là tương phản nối tiếp 46
- II.TRI GIÁC 1. Khái niệm chung về tri giác 1.1 Tri giác là gì Ví dụ: Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan ta 1.2 Đặc điểm của tri giác : - Là quá trình tâm lý cũng chỉ phản ánh thuộc tính bên ngòai của sự vật hiện tượng đang tác động trực tiếp vào các giác quan - Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn: Tính trọn vẹn của sự vật hiện tượng là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật hiện tượng quy định - Tri giác là quá trình tích cực gắn liền với họat động của con người. Tri giác mang tính tự giác giải quyêt1t một nhiệm vụ nhận thức cụ thể nào đó là một hành dộng tích cực trong đó có sự kết hợp chặt chẽ của các yếu tố của cảm giác vận động. Những đặc điểm trên đây chứng tỏ rằng tri giác là mức phản ánh cao hơn cảm giác, nhưng vẫn thuộc giai đọan nhận thức cảm tính, chỉ phản ánh thuộc tính bề ngòai của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào 2 Các loại tri giác. Phân loại theo cơ quan phân tích nào giữ vai trò chính trong số các cơ quan tham gia vào quá trình tri giác ta có : - Tri giác nhìn - Tri giác nghe - Tri giác sờ mó Phân loại theo đối tượng phản ánh ta có 47
- - Tri giác không gian: là tri giác về hình dáng, độ lớn, vị trí, độ xa và phương hướng của các sự vật đang tồn tại trong không gian, tri giác này giữ vai trò quan trọng trong sự tác động qua lại của con người với môi trường xung quanh, nó là điều kiện để con người định hướng trong môi trường - Tri giác thời gian: Lọai tri giác này cho biết độ dài lâu, tốc độ, nhịp điệu và tính liên tục khách quan của các hiện tượng trong hiện thực . Nhờ tri giác thời gian mà những biến đổi xẩy ra trong thế giới chung quanh được phản ánh. Trong tri giác thời gian cũng có những ảo giác, nghĩa là những sai lầm trong việc nhận xét độ ngắn dài của khỏang thời gian , chẳng hạn khi chúng ta bận nhiều công việc, hoặc trạng thái phấn khởi thì thời gian hình như đi nhanh hơn, rút ngắn lại. Trái lại những lúc nhàn rỗi hoặc trong trạng thái chờ đợi hoặc buồn bực thì chúng ta cảm thấy thời gian như đi chậm lại - Tri giác vận động: là sự phản ánh những thay đổi về vị trí các sự vật trong không gian, lọai này cho ta biết phương hướng, tốc độ, thời gian chuyển động của đối tượng tri giác - Tri giác con người (tri giác xã hội): Là quá trình nhận thức lẫn nhau của con người trong điều kiện giao lưu trực tiếp. Đây là lọai tri giác đặc biệt vì đối tượng tri giác cũng là con người. quá trình này bao gồm tất cả các mức độ của sự phản ánh tâm lý từ cảm giác cho đến tư duy 3. Quan sát và năng lực quan sát: - Quan sát là một hình thức tri giác cao nhất mang tính tích cực, chủ động, có mục đích, có kế họach rõ rệt có sử dụng những phương tiện cần thiết. quan sát diễn ra thường xuyên trong họat động. - Năng lực quan sát là khả năng tri giác nhanh chóng và chính xác những đặc điểm quan trọng, chủ yếu và đặc sắc của sự vật hiện tượng cho dù những đặc điểm đó khó nhận thấy hoặc có vẻ là thứ yếu. Năng lực quan sát ở mỗi người khác nhau và phụ thuộc vào những đặc điểm nhân cách. Những người mắc bệnh thị giác hay thính giác ( cận thị, lọan thị, nghễng ngãng ) thì khả năng quan sát bị hạn chế 4.Các quy luật cơ bản của tri giác 4.1Quy luật về tính đối tượng của tri giác : Tính đối tượng của tri giác đó là hình ảnh trực quan mà tri giác đem lại bao giờ cũng là cũng thuộc về một 48
- sự vật, hiện tượng nhất định nào đó của thế giới bên ngoài. Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng – nó là cơ sở của chức năng định hướng hành vi và hoạt động của con người 4.Quy luật về tính lựa chọn của tri giác : khi ta tri giác một sự vật hiện tượng nào đó tì có nghĩa là ta tách sự vật đó ra khỏi bối cảnh chung quanh lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình .Vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể hoán đổi cho nhau: Một vật nào đó lúc này là đối tượng của tri giác, lúc khác lại có thể trở thành bối cảnh và ngược lại. Tính lựa chọn của tri giác phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan ( đặc điểm của vật kích thích, ngôn ngữ của người khác, đặc điểm của hoàn cảnh tri giác ) 4.3 Quy luật về tính có ý nghĩa của tri giác. Những hình ảnh của tri giác mà con người thu được luôn luôn có một ý nghĩa xác định. khi tri giác một sự vật hiện tượng nào đó ta gọi tên được sự vật hiện tượng đó trong óc, và xếp sự vật hiện tượng đó vào một nhóm, một lớp các sự vật hiện tượng nhất định, ngay cả tri giác sự vật không quen thuộc, chúng ta cũng cố thu nhận trong nó một sự giống nhau nào đó vơí những đối tượng mà mình đã biết, xếp nó vào một nhóm phạm trù nào đó . 4.4 Quy luật về tính ổn định của tri giác. Tính ổn định của tri giác là khả năng phản ánh sự vật hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi . Tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động với đồ vật và là một điều kiện cần thiết của đời sống con người. Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có. 4.5 Quy luật tổng giác. Ngoài bản thân những kích thích gây ra nó, tri giác của con người còn bị quy định bơỉ một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác. Sự phụ thuộc của tri giác vào vào nội dung của đơì sống tâm lý, vào đặc điểm nhân cách của họ gọi là tổng giác. 5. Đặc điểm của nhận thức cảm tính và vai trò của nó . a) Đặc điểm của nhận thức cảm tính 49
- - Phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng - Phản ánh trực tiếp các sự vật hiện tượng - Phản ánh sự vật hiện tượng một cách cá lẻ nghĩa là phản ánh từng thuộc tính hay trọn vẹn các thuộc tính của từng sự vật hiện tượng Những đặc điểm trên đây nói lên nhận thức cảm tính là giai đoạn ban đầu, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người. a) Vai trò của nhận thức cảm tính Cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên của con người, là nguồn nguyên liệu để con người có nhận thức cao hơn Cảm giác là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của võ não, do đó đảm bảo hoạt động bình thường của con người Tri giác thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người trong thế giới chung quanh Chương V TƯ DUY VÀ TƯỞNG TƯỢNG I. TƯ DUY 1.Khái niệm về tư duy 1.1 Tư duy là gì: T ư duy là một qúa trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiẹn thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. T ư duy của con người có những đặc điểm cơ bản sau đây. 50
- 1.2 Bản chất xã hội của tư duy Bản chât xã hội của tư duy thể hiện như sau;l - Hành động tư duy đều dựa trên cơ sở kinh nghiệm mà các thế hệ trước đã tích lũy, tức là dựa vào kết quả họat động nhận thức mà xã hội lòai người đã tích lũy từ trước tới nay. - Tư duy dựa vào vốn từ ngữ mà các thế hệ trước đã sáng tạo ra với tư cách là một phương tiện biểu đạt, khái quát và giữ gin các kết quả họat động nhận thức của con người. - Bản chất của quá trình tư duy do thúc đẩy của nhu cầu xã hội, nghĩa là ý nghĩ cua con người được hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ nóng hổi nhất của thời đại. - Tư duy mang tính tập thể, nghĩa là phải sử dụng các tài liệu thu được trong các lĩnh vực tri thức liên quan, nếu không sẽ không giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra. 1.3. Đặc điểm của tư duy Tư duy có những đặc điểm cơ bản sau đây: * Tính có vấn đề của tư duy T ư duy chỉ nẩy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nẩy sinh những mục đích mơí, và những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ đã có trưức đây trở nên không đủ (mặc dù là cần thiết) để đạt được mục đích đó. Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ tư duy của cá nhân – nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã biết, cái gì chưa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm * Tính gián tiếp của tư duy Tư duy phản ánh phản ánh sự vật hiện tượng một các gián tiếp bằng ngôn ng. Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật, quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn đạt trong các từ Mặt khác những phát minh, những kếtquả tư duy của người khác, cũng như kinh nghiệmcá nhân của con người đều là những công cụ để con người tìm hiểu 51
- thế giới chung quanh để giải quyết những vấn đề nới đối vơí họ. ngoài ra những công cụ do người tạo ra cũng giúp chúng ta hiểu biết được những hiện tượng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng một cách trực tiếp được. * Tính trừu tượng và khái quát của tư duy T ư duy có khả năng tách trừu tượng khỏi sự vật hiện tượng, những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hiện tượng rồi trên cơ sở đó mà khái quát các sự vật và hiện tượng riêng lẻ khác nhau, nhưng có những thuộc tính bản chất thành một nhóm, một loại phạm trù, nói cách khác tư duy mang tính chất trừu tượng hoá và khái quát hoá. Nhờ đặc điểm này mà con người có thể nhìn vào tương lai * Tư duy có quan hệ chặc chẽ với ngôn ngữ T ư duy của con người gắn liền vơí ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy của con người không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không thể có được nếu không dựa vào tư duy. Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được * Tính chất lý tính của tư duy Chỉ có tư duy mơí giúp con người phản ánh được bản chất của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng. Nhưng nói như vậy không phải tư duy phản ánh hoàn toàn đúng đắn bản chất sự vật hiện tượng. Tư duy có phản ánh đúng hay không còn phụ thuộc vào chiến thuật và phương pháp tư duy nữa c) Tư duy có quan hệ mật hiết với nhận thức cảm tính Mối quan hệ này laà quan hệ hai chiều: tư duy được tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận thức cảm tính đem lại, kết quả tư duy được kiểm tra bằng thực tiễn dưới hình thức trực quan, ngược lại tư duy và kết quả của nó có ảnh hưởng đến quá trình nhận thức cảm tính Những đặc điểm trên đây cho thấy tư duy là sản phẩm của sự phát triển lịch sử – xã hội mang bản chất xã hội 2. Tư duy là một quá trình 52
- 2.1 Các giai đọan cơ bản của một quá trình tư duy Mỗi hành động tư duy là một qúa trình giải quyết một nhiệm vụ nào đó, nẩy sinh trong qúa trình nhận thức hay hoạt động thực tiễn của con người. Qúa trình tư duy bao gồm nhiều giai đoạn từ khi cá nhân gặp phải tình huống có vấn đề và nhận thức được vấn đề, cho đến khi vấn đề đó được giải quyết. Đó là các giai đọan. Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề -> Huy động các tri thức kinh nghiệm có liên quan đến vấn đề xác định -> Sàng lọc các liên tưởng và hình thành các giả thuyết-> Kiểm tra giả thuyết -> Giải quyết nhiệm vụ. KK. Platônốp đã sơ đồ hoá như sau Nhận thức vấn đề Xuất hiện các liên tưởng Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết Kiểm tra giả thuyết 53
- Khẳng định Chính xác hóa Phủ định Giải quyết Vấn đề Hành động Tư duy mơí 2.2. Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của tư duy chỉ mới phản ánh được mặt bên ngoài, cấu trúc bên ngoài của qúa trình tư duy. Còn nội dung bên trong nó diễn ra trên cơ sở những thao tác trí tuệ, các thao tác tư duy là những quy luật bên trong của tư duy. Có các thao tác sau đây. + Phân tích- tổng hợp. Phân tích là sự phân chia bằng trí óc đối tượng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần, thuộc tính , quan hệ khác nhau để nhận thức nó sâu sắc hơn. Tổng hợp là sự hợp nhất bằng trí óc các bộ phận, thành phần, thuộc tính , quan hệ của đối tượng nhận thức thành một chỉnh thể. Phân tích và tổng hợp thống nhất với nhau: Sự phân tích được tiến hành theo phương hướng của sự tổng hợp. Còn tổng hợp được thực hiện trên kết quả của sự phân tích 54
- + So sánh : là sự xác định bằng trí óc giống hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật hiện tượng + Trừu tượng hoá – khái quát hoá : Trừu tượng hoá là sự gạt bỏ bằng trí óc những mặt, những thuộc tính những liên hệ và quan hệ thứ yếu, không cần mà chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết để tư duy mà thôi. Khái quát hoá: là sự hợp nhất bằng trí óc nhiều đối tượng khác nhau nhưng có chung những thuộc tính, liên hệ quan hệ nhất định thành một nhóm, một loại. Khái quát hoá bao giờ cũng mang lại một cái chung gì đo . Trừu tượng hoá và khái quát hoá có quan hệ qua lại với nhau. Khái quát hoá chính là sự tổng hợp ở mức độ cao 3 Các loại tư duy Nếu xét theo lịch sử hình thành thì và mức độ phát triển của tư duy thì người ta chia thành 3 loại *Tư duy trực quan hành động : Là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống , nhờ các hành động vận động có . * Tư duy trực quan -hình ảnh : Đó là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải tổ tình huống chỉ trên bình diện hình ảnh mà thôi. Loại tư duy này chỉ có ở con người đặc biệt là trẻ nhỏ. * Tư duy trưù tượng : ( hay tư duy từ ngữ lô gích): Đó là loại tư duy mà việc giai quyết nhiệm vụ dựa trên sự sử dụng các khái niệm, các kết cấu lôgíc được tồn tại và vận hành trên cơ sở ngôn ngữ. N ếu căn cứ vào hình thức biểu hiện của nhiệm vụ và phương thức giải quyết nhiệm vụ thì người ta chia 3 loại tư duy sau đây ở người trưởng thành; * Tư duy thực hành: Là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng phương thức thực hành. 55
- Ví dụ: Người ta dùng sa bàn, bản đồ hoặc xuống hẳn thực tế ruộng đồng và có những hành động cụ thể để tìm ra phương án làm mương tưới tiêu nước tốt nhất cho một địa phương nào đó * Tư duy hình ảnh cụ thể: là lọai tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng cách dựa trên những hình ảnh trực quan đã có Ví dụ: Sau khi đã thực tế quan sát đồng ruộng, người ta họp nhau lại và vạch ra phương án làm mương tưới tiêu nước tốt nhất cho khu vực ruộng đó. * Tư duy lý luận. Là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ đòi hỏi phải sử dụng những khái niệm trừu tượng, những tri thức lý luận. Ví dụ: tư duy của học sinh khi nghe giảng bài, tư duy của thầy khi sọan bài II.TƯỞNG TƯỢNG 1.Khái niệm chung về tưởng tượng 1.1 Tưởng tượng là gì Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mơí trên cơ sở những biểu tượng đã có 1.2 Đặc điểm của tưởng tượng : - Tưởng tượng chỉ nẩy sinh khi con người đứng trước một hòan cảnh có vấn đề, những đòi hỏi thực tế mà con người phải giải quyết. Giá trị của tưởng tượng chính là ở chỗ tìm được lối thóat trong hòan cảnh có vấn đề nhưng không đủ điều kiện tư duy để giải quyết. - Tưởng tượng mang tính gián tiếp cao hơn so với trí nhớ. Biểu tượng củc tưởng tượng là một hình ảnh mới được xây dựg từ những biểu tượng của trí nhớ – nó là biểu tượng của biểu tượng. - Tưởng tượng liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính thu lượm, cung cấp. 56
- - Về nội dung phản ánh: thì tưởng tượng phản ánh những cái mới, cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân hoặc của xã hội - Về phương thức phản ánh: tưởng tượng tạo ra cái mới từ các biểu tượng đã có và được thực hiện chủ yếu dưới hình ảnh cụ thể - Tưởng tượng là một quá trình tâm lý có nguồn gốc xã hội được hình thành và phát triển trong lao động nên chỉ có ở con người. 2 Các loại tưởng tượng Tưởng tượng có 2 đặc điểm là tính tích cực và tính hiệu qủa . Căn cứ vaò hai đặc điểm đó người ta chia * Tưởng tượng tiêu cực : là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh không thể hiện trong cuộc sống, vạch ra những chương trình hành vi không được thực hiện T ưởng tượng tiêu cực có thể xẩy ra một cách có chủ định. Điều này chủ yếu xẩy ra khi con người ở trạng thái trong giấc ngủ(chiêm bao), trong trạng thái bệnh lý ( ảo giác, hoang tưởng) * Tưởng tượng tích cực Là loại tưởng tượng tạo ra những hình ảnh nhằm đáp ứng những nhu cầu, kích thích tính tích cực thực tế của con người. Tưởng tượng tích cực có hai loại - Tưởng tượng tái tạo là loại tưởng tượng chỉ tạo ra những hình ảnh mơí đối vơí người tưởng tưựng và dựa trên sự mô tả của người khác - Tưởng tượng sáng tạo: là loại tưởng tượng xây dựng hình ảnh mơí một cách độc lập những hình ảnh này là mơí đối vơí cá nhân và mơí đối với xã hội - Ước mơ và lý tưởng: là một loại tưởng tượng hướng về tương lai, nó biểu hiện những mong muốn, ước mơ cuả con người. Ước mơ là một loại tưởng tượng sáng tạo, nhưng không hướng vào hoạt động trong hiện thực, ước mơ có lợi khi nó thúc đẩy cá nhân vươn lên, ước mơ có hại là ước mơ không dựa vào khả năng thực tế đó là mộng tưởng . 57
- Lý tưởng có tính tích cực và tính hiện thực cao hơn ước mơ. Lý tưởng là một hình ảnh choí lọi, rực sáng cụ thể của tương lai mong muốn nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy con người vươn lên giành tương lai. 1.1 Các cách tạo ra hình ảnh mơí của tưởng tượng * Thay đổi kích thước, số lượng của sự vật hay các thành phần của sự vật : Người khổng lồ , hay người tí hon . Nhấn mạnh các chi tiết thành phần của sự vật * Chắp ghép, kết dính Là phương pháp ghép các bộ phận của nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau thành một hình ảnh mới. * Liên hợp; Phương pháp này có vẻ giống như phương pháp chắp ghép nhưng sự thật thì nó không phải là sự kết hợp máy móc. Khi tham gia vào một hình ảnh mới , các yếu tố ban đầu bị cải tổ, biến đổi và nằm trong mối tương quan mới. * Điển hình hoá: Là phương pháp tạo hình ảnh mơí phức tạp nhất, trong đó các thuộc tính điển hình, những đặc điểm điển hình của nhân cách được biểu hiện trong hình ảnh mơí này. * Loại suy 1.3. Tư duy và tưởng tượng T ư duy và tưởng tượng có quan hệ mật thiết vơí nhau , chúng có những điểm giống nhau và những điểm khác nhau. Tưởng tượng và tư duy phản ánh cái mơí chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân và đều mang tính có vấn đề. Do đó chúng đều là mức độ cao của nhận thức cảm tính . Đứng trước hoàn cảnh có vấn đề khi nào ta tư duy, khi nào ta tưởng tượng . Điều này phụ thuộc vào tính bất định của hoàn cảnh có vấn đề . Nếu những tài liệu khởi đầu của nhiệm vụ là rõ ràng, sáng tỏ thì quá trình giải quyết nhiệm vụ chủ yếu được tuân theo những quy luật của tư duy. Còn khi hoàn cảnh có vấn đề mang tính bất định khá lớn những tài liệu khởi đầu khó được phân tích 58
- một cách chính xác thí quá trình giải quyết nhiệm vụ diễn ra theo cơ chế tưởng tượng Chương VI TRÍ NHỚ I. Khái niệm chung về trí nhơ. 1. Định nghĩa Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ảnh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo sao đó ở trong óc những cái cái mà con nguời đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây. 2. Cơ sở sinh lý của trí nhớ Lý luận về sự hình thànhnhững đường liên hệ thần kinh tạm thời được coi là lý luận về cơ chế hình thành trí nhớ cá nhân. Phản xạ có điều kịen là cơ sở sinh lý của ghi nhớ. Sự củng cố, bảo vệ đường liên hệ thần kinh tạm thời đã được hình thành là cơ sở sinh lý của sự giữ gìn và tái hiện của trí nhớ 3.Vai trò của trí nhớ: Trí nhớ có vai trò rất rất to lớn trong đời sống tâm lý của con người: Không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không có bất kỳ một hoạt động nà, cũng như không thể hình thành nhân cách Trí nhớ là điều kiện không thể thiếu được để con người có đời sống tâm lý bình thường, ổn định lành mạnh. trí nhớ cũng là điều kiện để con người có và phát triển các chức năng tâm lý bậc cao để con người tích luỹ vốn kinh nghiệm sống của minh và sử dụng vốn kinh nghiệm đó ngày cáng tốt hơn trong đời sống và trong hoạt động. Đối với nhận thức trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn. Nó là công cụ để lưu giữ kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác. trí nhớ là một điều kiện quan trọng để diễn ra quá trình nhận thức lý tính và làm cho quá trình này đạt được kết quả hợp lý . 59
- Ở những người bị hỏng trí nhớ, ta thấy cuộc sống hàng ngày cuả họ bị rối loạn, không bình thường . Ngày nay người ta xem trí nhớ không chỉ giới hạn trong hoạt động nhận thức mà còn là một thành phần tạo nên nhân cách của con người, vì đặc trưng tâm lý nhân cách mỗi người được hình thành trên cơ sở vốn kinh nghiệm cá thể về mọi mặt của họ, mà kinh nghiệm do trí nhớ đem lại II. các loại trí nhớ : 1. Căn cứ vào tính chất của tính tích cực Tâm lý trong họat động a) Trí nhớ vận động: Là loại trí nhớ phản ảnh những cử động và những hệ thống cử động .Ý nghĩa to lớn của nó là ở chỗ nó là cơ sở để hình thành kỹ xảo thực hành và lao động khác nhau : đi, đứng, viết, vẽ vv Sự khéo chân, khéo tay , những bàn tay vàng là những biểu hiện của trí nhớ vận động tốt. b Trí nhớ cảm xúc: Là loại trí nhớ phản ảnh những rung cảm, trải nghiệm của con người. những rung cảm trải nghiệm được giữ lại trong trí nhớ bộc lộ như là những tín hiệu kích thích hành động , hoặc kìm hãm hành động c) Trí nhớ hình ảnh Đó là loại trí nhớ phản ánh những hình ảnh, biểu tượng, thị giác, thính giác khứu giác, vị giác của các sự vật hiện tượng đã tác động vào ta trước đây. Loại trí nhớ này đặc biệt phát triển ở những người làm nghề nghệ thuật. d) Trí nhớ từ ngữ lôgíc: Loại trí nhớ này phản ánh những ý nghĩ tư tưởng của con người. Hệ thống tín hiệu thứ hai giữ vai trò chính trong loại trí nhớ này. Đây là loại trí nhớ giữ vai trò chủ đạo của con người, giữ vai trò chính trong việc lĩnh hội ti thức của học sinh . 2. Căn cứ vào mục đích của họat động 2.1 Trí nhớ có chủ định và trí nhớ không có chủ định: 60
- a) Trí nhớ có chủ định là loại trí nhớ diễn ra theo theo những mục đích xác định b) Trí nhớ không chủ định: Là loại trí nhớ diễn ra không theo những mục đích được định trước. 3. căn cứ vào thời gian củang cố và giữ gìn tài liệu 3.1 Trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn trí nhớ thao tác a) Trí nhớ ngắn hạn: Là loại trí nhớ tức thời là trí nhớ sau khi giai đoạn vừa ghi nhớ b) Trí nhớ dài hạn: c) Trí nhớ thao tác Là loại trí nhớ sau một giai đoạn ghi nhớ mõt khoảng thời gian cho đến mãi mãi. Nó rất quan trọng để con người tích luỹ kiến thức. III. Những quá trình cơ bản của trí nhớ . 1. Sự ghi nhớ: S ự ghi nhớ là quá trình trí nhớ đưa tài liệu nào đó vào ý thức, gắn tài liệu đó với những kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá trình gìn giữ về sau đó, nói cách khác là tạo ra dấu vết, ấn tượng cũa đối tượng mà ta đang tri giác Sự ghi nhớ con người được quyết định bởi hành động, nói cách khác, động cơ, mục đích, và phương tiện đạt mục đích đó quy định chất lượng của sư ghi nhớ. sự ghi nhớ thường diễn ra theo hai hướng: ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không chủ định. a) Ghi nhớ không chủ định: Là ghi nhớ không có mục đích đặt ra từ trước không đòi hỏi một sự nổ lực nào đó mà dường như thực hiện một cách tự nhiên loại ghi nhớ này được thực hiện trong trường hợp nội dung của tài liệu trở thành mục đích chính của hành động, hơn nữa hành động đã lặp đi lặp lại nhiều lần dưới hình thức nào đó Ghi nhớ có chủ định đặc biệt nó gắn liền với những cảm xúc rõ ràng và mạnh mẽ, Hứng thú có vai trò to lớn với ghi nhớ không chủ định. 61
- b) Ghi nhớ có chủ định : Là ghi nhớ theo một mục đích đã định từ trước nó đòi hỏi một sự nổ lực ý chí nhất định và cũng như những thủ thuật và phương pháp xác định. Hoạt động học tập và giảng dạy của giáo viên chủ yếu là ghi nhớ có chủ định Trong ghi nhớ có chủ định việc sử dụng phương pháp hợp lý là rất quan trọng để đạt hiệu quả cao. Có hai trường hợp chính như sau: - Dùng nhiều biện pháp để nhớ tài liệu trên cơ sở không hiểu nội dung tài liệu . Tâm lý học gọi là ghi nhớ máy móc - Dùng biện pháp để nắm lấy bản thân lô gíc tài liệu, tức là nhớ tài liệu trên cơ sở hiệu nội dung tài liệu. Gọi là biện pháp ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ lô gíc ( ghi nhớ có ý nghĩa). *Các biện pháp ghi nhớ lô gíc - Biện pháp quan trọng là lập dàn bài cho tài liệu học tập, Muốn vậy phải làm những việc sau đây: + Phân chia tài liệu thành từng đoạn. + Đặt cho mỗi đoạn một tên thích hợp vớii nội dung tài liệu + Nối liền những điểm tực thành một tổng thể phức hợp bằng một tên thích hợp nhất. - Phân tích, tổng hợp, mô hình hoá, khái quát hoá so sánh và phân loại tài liệu. Học sinh cần sử dụntg thành thạo những biện pháp này khi làm việc với tài liệu ghi nhớ . - Biện pháp tái hiện dưới hình thức nói thầm . Nói thầm 2 đến 3 lần và nên ghi chép ra giấy. khi dùng biện pháp này có thể tiến hành theo tình tự sau đây + Cố gắng tái hiện tòan bộ tài liệu một lần + Tiếp tục tái hiện từng phần, đặc biệt là tài liệu khó. + Lại tái hiện toàn bộ tài liệu. - Ôn tập cũng là một biện pháp quan trọng để ghi nhớ một cách vững chắc và lâu dài. 62
- Học sinh phải sử dụng tất cả các biện pháp ghi nhớ trên 2. Sự giữ gìn Giữ gìn là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã được hình thành trên não trong qúa trình ghi nhớ. Có hai hình thức giữ gìn: tích cực (là bằng cách nhớ lại mà không cần tri giác lại) và giữ gìn tiêu cực ( tái hiện lại tài liệu) 3. Sự tái hiện: Sự tái hiện là một qua trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã ghi lại trên đây. Quá trình này có thể diễn ra dễ dàng, hoặc khó khăn, thường bao gồm ba loại: a)Nhận lại: nhận lại là sự tái hiện khi tri giác đối tượng được lặp lại. Trong nhận lại có khi đòi hỏi quá ttrình rất phức tạp mới đạt được kết quả xác định b)Nhớ lại: là sự tái hiện lại khi không tri giác lại đối tượng. Nhớ lại là một điều kiện của hoạt động nhận lại c)Hồi tưởng Hồi tưởng là hình thức tái hiện phải có sự cố gắng rất nhiều của trí tuệ, đây là một hành động trí tuệ phức tạp mà kết quả cuả nó phụ thuộc vào chỗ cá nhân ý thức rõ ràng chính xác đến mức độ nào nội dung của nhiệm vụ tái hiện 4. Sự quên và sự giữ gìn tri thức trong trí nhớ a) Quên: Là không tái hiện lại được nội dung đã ghi nhớ trước đây vào thời điểm cần thiết, nó diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau: Quên hoàn toàn, quên cục bộ(không nhớ lại được nhưng nhận lại được), quên vĩnh viễn. b) Quên có nhiều nguyên nhân: Có thể là do quá trình ghi nhớ, có thể là do quy luật ức chế của hoạt động thần kinh trong quá trình ghi nhớ, và do không gắn được hoạt động hàng ngày, c) Quên cũng diễn ra theo quy luật + Người ta thường quên những cái gì không liên quan hoặc ít liên quan đế đời sống, những cái gì không phù hợp với hứng thú, sở thích nhu cầu của cá nhân. 63
- + Những cái gì không sử dụng thường xuyên cũng dễ bị quên. + Người ta cũng hay quên khi gặp những kích thích mới lạ hay những kích thích mạnh . + Sự quên cũng diễn ra theo một trình tự nhất định : quên cái tiểu tiết, vụn vặt trước, quên cái đại thể chính yếu sau: + Sự quên diễn ra với tốc độ không đồng đều. Ở giai đoạn đầu tốc độ quên khá lớn , về sau tốc độ quên giảm dần + Về nguyên tắc: quên cũng là một hiện tượng hợp lý hữu ích d) Biện pháp chống quên: + Gắn tài liệu cần ghi nhớ vào tài liệu học tập của học sinh , làm cho nội dung đó trở thành mục đích của của hành động , hình thành được nhu cầu , hứng thú của học sinh đối với tài liệu đó như học sinh giải lao khi chuyển từ tài liệu này sang tài liệu khác, không nên dạy học kế tiếp nhau hai bộ môn có nội dung tương tự để tránh quy luật ức chế + Tổ chức cho học sinh tái hiện tài liệu học tập, làm bài tập ứng dụng ngay sau khi học tài liệu mới, sau đó việc ôn tập có thể thưa dần . IV. Sự khác biệt cá nhân về trí nhớ . 1.Sự khác biệt cá nhân trong quá trình trí nhớ Sự khác biệt cá nhân về trí nhớ thể hiện ở đặc điểm của quá trình trí nhớ và đặc điểm nội dung trí nhớ, tức là ở chỗ con người thực hiện các quá trình ghi nhớ như thế nào và ghi nhớ tái hiện được những . Chính sự thay đổi của các đặc điểm này tạo nên chất lượng trí nhơ của từng người Sự khác biệt thể hiện gồm có tốc độ, độ chính xác,, độ bền vững của ghi nhớ và sự nhanh chóng để tái hiện Những điểm khác biệt cá nhân về trí nhớ nêu trên có liên quan đến đặc điểm kiểu loại hoạt động thần kinh cao cấp, phụ thuộc vào điều kiện sống và giáo dục và cách thức ghi nhớ của mỗi người . 2.Kiểu trí nhớ cá nhân Sự khác biệt cá nhân về trí nhớ còn thể hiện qua kiểu trí nhớ : 64
- Các cá nhân thường có các kiểu trí nhớ khác nhau : + Kiểu trí nhớ trực quan- hình ảnh + kiểu trí nhớ từ ngữ- trừu tượng + Kiểu trí nhớ trung gian ( giữa hai kiểu trí nhớ trên) Từ những điều trên trong dạy học thầy giáo cần lưu ý đến các kiểu khác biệt cá nhân về trí nhớ đồng thời cần phát huy tất cả các kiểu trí nhớ Chương VII NGÔN NGỮ VÀ NHẬN THỨC I. Khái niệm chung về ngôn ngữ : 1. Ngôn ngữ Trong quá trình giao tiếp với nhau, con người sử dụng từ ngữ theo theo những quy tắc ngữ pháp nhất định của một thứ tiếng nào đó của một thứ tiếng (tiếng nĩi, chữ viết) Tiếng nói là là một hệ thống ký hiệu từ ngữ có chức năng là một phương tiện để giao tiếp, một công cụ của tư duy. Mỗi quốc gia, dân tộc có một hệ thống ký hiệu từ ngữ theo những quy tắc ngữ pháp riêng để giao tiếp Tiếng nói gồm 2 bộ phận : từ vựng các ý nghĩa của từ và ngữ pháp- là một hệ thống các quy tắc quy định việc ghép từ thành câu. B ất cứ một thứ tiếng nào cũng chứa đựng hai phạm trù: phạm trù ngữ pháp và phạm trù lô gíc. Phạm trù ngữ pháp là một hệ thống quy định việc thành lập từ và câu (Từ pháp và cú pháp) cũng như qui định sự phát âm (âm pháp) phạm trù này ở các thứ tiếng khác nhau là khác nhau. Phạm trù lô gíc – là quy luật đúng đắn của con người, nó chung cho cả loài người. Vì vậy khi dùng các thứ tiếng khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau. 65



