Giáo trình Luật thương mại 3 - ThS. Dương Kim Thế Nguyên
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật thương mại 3 - ThS. Dương Kim Thế Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_luat_thuong_mai_3_ths_duong_kim_the_nguyen.pdf
Nội dung text: Giáo trình Luật thương mại 3 - ThS. Dương Kim Thế Nguyên
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA LUẬT µ--¸ GIÁO TRÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI 3 (PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN) Biên sọan : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Cần Thơ – 2008 Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 1
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG CỦA GIÁO TRÌNH I. THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ Họ và tên : Dương Kim Thế Nguyên. Sinh năm : 1974 Cơ quan công tác : Bộ môn : Luật kinh doanh – thương mại, Khoa : Luật Trường Đại học Cần Thơ Địa chỉ liên hệ : dktnguyen@gmail.com II. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG SỬ DỤNG 1. Giáo trình có thể dùng tham khảo cho các ngành : luật học, kinh tế và quản trị kinh doanh 2. Giáo trình có thể dùng như là giáo trình chính thức phục vu nghiên cứu và giảng dạy, học tập các môn học : luật thương mại, luật kinh tế, luật kinh doanh. 3. Các từ khóa : Luật kinh tế, luật thương mại, giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại, tòa án, mất khả năng thanh toán, phá sản, thanh lý, thủ tục giải quyết, thủ tục phá sản, 4. Yêu cầu kiến thức trước khi học môn này : Hiểu biết về pháp luật đại cương, lý luận chung về nhà nước và pháp luật, luật về các chủ thể kinh doanh (luật doanh nghiệp), luật về hợp đồng và bảo đảm nghĩa vụ. 5. Giáo trình là tài liệu giảng giạy chính thức tại khoa luật – Đại học Cần Thơ – Tài liệu lưu hành nội bộ dưới dạng bản photo, xuất bản trong phạm vi trường Đại học Cần Thơ Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 2
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản MỤC LỤC BÌA 1 THÔNG TIN VỀ TÁC GIẢ 2 PHẦN I: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 6 Chương I: TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 6 I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 6 1. Khái niệm 6 2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp kinh doanh, thương mại: 7 II. - CÁCH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI : 8 1. Thương lượng 9 2. Hòa giải 10 3. Trọng tài. 11 4. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án: 12 III. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI : 14 1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây 14 2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại ở các nước tư bản chủ nghĩa: 14 IV. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM. 15 1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế trước ngày 1/7/1994 15 2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại từ 1/7/1994 đến nay 17 Chương 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH BẰNG CON ĐƯỜNG TRỌNG TÀI 22 I. KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 22 1. Những ưu thế của trọng tài thương mại trong các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 22 2. Mối quan hệ giữa trọng tài thương mại và Tòa án: 23 II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TRUNG TÂM TRỌNG TÀI. 24 1. Khái niệm và Đặc trưng pháp lý của các trung tâm trọng tài: 24 2. Thành lập, tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài 25 III. QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ TRỌNG TÀI VIÊN 27 1. Điều kiện trở thành trọng tài viên 27 2. Quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên 29 3. Thay đổi trọng tài viên, 29 IV. THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 29 1. Về điều kiện thứ nhất : tranh chấp phát sinh là tranh chấp thương mại 30 2. Về điều kiện thứ hai : Các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài 31 Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 3
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản V. TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI 33 1. Khởi kiện và lập hội đồng trọng tài 33 2. Chuẩn bị giải quyết tranh chấp 36 3. Hoà giải 36 4. Mở phiên họp giải quyết vụ tranh chấp 36 VI. HUỶ QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI, THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI 37 1. Hủy quyết định trọng tài 37 2. Thi hành quyết định trọng tài 38 VII. CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA TÒA ÁN TRONG QUÁ TRÌNH TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 38 1. Sự hỗ trợ của Tòa án để đảm bảo thi hành điều khoản hoặc thỏa thuận trọng tài 38 2. Sự hỗ trợ của toà án trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời 39 3. Sự hỗ trợ của tòa án đối với Hội đồng trọng tài do các bên thành lập 40 CHƯƠNG III: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 42 I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN KINH TẾ 42 1. Cơ cấu tổ chức của tòa án kinh tế 42 2. Chức năng hoạt động và nhiệm vụ của tòa án kinh tế 42 II. TỐ TỤNG VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ CÁC NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 44 1. Khái niệm vụ án kinh doanh, thương mại 44 2. Các nguyên tắc giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại 44 III. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN KINH TẾ 46 1. Thẩm quyền theo vụ việc : 46 2. Thẩm quyền về cấp xét xử 48 3. Thẩm quyền theo lãnh thổ 49 4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn 50 PHẦN II: PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 53 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ LUẬT PHÁ SẢN 53 I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁ SẢN 53 1. Khái niệm về phá sản 53 2. Phân biệt phá sản và giải thể 55 3. Lịch sử luật phá sản 56 4. Phân loại phá sản : 59 5. Vai trò của pháp luật phá sản : 60 II. CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH THỦ TỤC PHÁ SẢN 62 1. Tòa án - cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản 62 2. Nhiệm vụ của thẩm phán trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 62 3. Tổ quản lý, thanh lý tài sản 63 Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 4
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản III. CÁC QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ NỢ VÀ DOANH NGHIỆP MẮC NỢ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN 65 1. Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ : 65 2. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ : 66 Chương II: THỦ TỤC PHÁ SẢN 67 I. Đối tượng có thể bị áp dụng các quy định của Luật phá sản doanh nghiệp: 67 II. Nộp đơn và thụ lý đơn 68 1. Những người có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản 68 2. Thụ lý đơn 69 III. Ra quyết định mở hoặc ra quyết định không mở thủ tục phá sản 70 IV.Gởi giấy đòi nợ và lập danh sách chủ nợ 71 V.Triệu tập hội nghị chủ nợ : 72 1. Thành phần tham gia Hội nghị chủ nợ 72 2. Thời hạn tổ chức hội nghị chủ nợ và Điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ 72 3. Nội dung Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất 73 VI. Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 74 VII. Thủ tục thanh lý tài sản 75 VIII. Phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp 76 IX. Cấm đảm nhiệm chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản 78 TÀI LỆU THAM KHẢO 80 Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 5
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản PHẦN I: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI Chương I: TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI I. KHÁI NIỆM TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Trong cách sách báo hiện nay chúng ta thường nghe đề cập đến các khái niệm tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại hoặc tranh chấp kinh doanh, thương mại. Xét ở những khía cạnh nhất định, chúng là những khái niệm có nội hàm rộng hẹp khác nhau. Tuy nhiên, chúng đều được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quá trình kinh tế. So với các khái niệm tương tự, tranh chấp kinh tế là khái niệm có nội hàm rộng, có thể có các dạng cơ bản sau : - Tranh chấp thương mại: là các tranh chấp diễn ra giữa các thương nhân, chủ thể tham gia kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong quá trình các thương nhân thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích lợi nhuận. - Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư: Loại hình tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các hợp đồng BTO, BT, BOT, thực hiện các điều ước quốc tế khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương và đa phương - Tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại song và đa phương. - Tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại đa phương. Như vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là một bộ phận của tranh chấp kinh tế. Tuy nhiên, trong các loại hình tranh chấp kinh tế kể trên, tranh chấp kinh doanh, thương mại là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau. Về cơ bản tranh chấp thương mại có các đặc điểm sau : + Các bên tranh chấp (chủ thể tranh chấp) thường là các doanh nghiệp hoặc giữa các chủ thể liên quan đến thành lập, tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp. + Nội dung tranh chấp phát sinh từ những hoạt động kinh doanh của các chủ thể. + Các tranh chấp này chính là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ích kinh tế của các bên Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 6
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Ở nước ta, trong cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch trước đây, do các doanh nghiệp bị đặt trong quan hệ cấp phát - giao nộp theo chỉ tiêu pháp lệnh của cấp trên, Nhà Nước lo “ đầu vào “ và lo cả “đầu ra”, vì vậy doanh nghiệp không có quyền và cũng không quan tâm đến mối quan hệ hợp đồng với các bạn hàng của mình. Mặc dù vậy, trong cơ chế đó vẫn có những tranh chấp xảy ra. Tranh chấp kinh tế lúc đó là biểu hiện của những mâu thuẫn nội bộ của một hệ thống kinh tế phát triển thống nhất nhưng vẫn còn chưa có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; những tranh chấp này cũng có tính tác động dây chuyền với nhau, một tranh chấp xuất hiện kéo theo nhiều tranh chấp khác, do quá trình tái sản xuất xã hội là liên tục. Chính vì vậy, giải quyết tranh chấp là yêu cầu cấp thiết của bản thân hoạt động kinh tế, vì thế trong cơ chế quản lý kinh tế này, Trọng Tài Kinh tế là một cơ quan chuyên môn do nhà nước lập ra để giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế và thực hiện quản lý nhà nước trên lãnh vực hợp đồng kinh tế theo quy định của pháp luật. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau, các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu kinh tế mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể trong kinh doanh. Hoạt động kinh doanh giữa các đơn vị kinh tế nảy sinh các quan hệ kinh tế ( thí dụ : ký kết hợp đồng; quan hệ giữa các công ty và các thành viên công ty trong việc thành lập, giải thể công ty. ) mà nội dung của nó là những quyền và nghĩa vụ kinh tế. Các bên hưởng quyền và có nghĩa vụ thực hiện đúng và đủ những điều khoản mà mình đã thống nhất ý chí ghi vào các điều khoản của hợp đồng. Tuy nhiên, không phải lúc nào các chủ thể ký kết hợp đồng kinh tế cũng nghiêm chỉnh tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của mình. Mục đích đạt được lợi nhuận tối đa đã trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia trong hoạt động thương mại. Trong điều kiện như vậy tranh chấp trong thương mại phát sinh là một hệ quả tất yếu. Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, tranh chấp thương mại do vậy cũng trở nên phong phú hơn về chủng loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất, quy mô. Chính vì vậy việc áp dụng các hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, đảm bảo nguyên tắc pháp chế, thông qua đó góp phần tạo môi trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội. 2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp kinh doanh, thương mại: Trong môi trường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bắt nguồn từ nguyên tắc của pháp luật : “các chủ thể được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”, các quốc gia có nền kinh tế thị trường đều đều xây dựng một hệ thống “pháp luật tự hành” đối với lĩnh vực kinh doanh-thương mại. Bản chất của quan hệ kinh tế là sự tự do thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh, các thoả thuận này phù hợp với các quy định của nhà nước về “luật chơi chung”, chứ không phải theo sự sắp đặt ý chí của nhà nước. Tuy nhiên, có sự thỏa thuận thì cũng có thể phát sinh sự vi phạm thỏa thuận. Sự vi phạm này có thể từ nguyên nhân bất khả kháng không có sự chủ định của một bên, cũng có thể do lỗi của một hoặc các bên nhưng có chủ định trước Chính vì thế, việc phát sinh các tranh chấp trong quá trình kinh doanh là điều không tránh khỏi. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 7
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Tranh chấp kinh doanh, thương mại xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả nguyên nhân chủ quan lẫn những nguyên nhân khách quan. Có thể phân tích một vài nguyên nhân sau đây: - Do sự thúc đẩy của lợi nhuận : Mục đích của hoạt động kinh doanh là vì lợi nhuận. Chính vì lợi nhuận mà có những nhà kinh doanh vì xem trọng lợi nhuận đã chấp nhận phá vỡ hợp đồng. dẫn đến sự vi phạm hợp đồng. - Sự hạn chế trong kiến thức pháp luật của nhà kinh doanh - Pháp luật vẫn còn những khoản trống nhất định không thể bao quát hết được các quan hệ có thể xảy ra. Chính vì những lý do đa dạng này mà tranh chấp giữa các nhà kinh doanh là tất yếu có thể xảy ra. Tuy vậy, pháp luật luôn hướng đến mục tiêu hạn chế nó, khắc phục hậu quả của nó có thể xảy ra. Chính vì vậy, pháp luật cho phép các bên tranh chấp có quyền lựa chọn những biện pháp khác nhau để giải quyết tranh chấp. II. - CÁCH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI : Tranh chấp là một trong những hệ quả xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy, giải quyết tranh chấp phát sinh được coi như là một nhu cầu tất yếu khách quan. Giải quyết tranh chấp thương mại theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thương nhân và các chủ thể kinh doanh khác, bảo vệ trật tự kỷ cương của xã hội. Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lực chon phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình. Việc lựa chọn phương thức nào thường căn cứ vào một số yêu cầu như : - Phương thức đó có thể giải quyết nhanh chóng, thuận lợi tranh chấp xảy ra, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh không? - Việc giải quyết bằng phương thức đó có khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bên trong kinh doanh không? - Giải quyết bằng phương thức đó có giữ được bí mật kinh doanh, giữ được uy tín của các bên trên thương trường hay không? - Đó có phải là phương thức giải quyết kinh tế nhất (ít tốn kém nhất) hay không? Tùy thuộc vào trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội và do những ảnh hưởng của những đặc điểm về phong tục, tập quán, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại được pháp luật của mỗi quốc gia được quy định không giống nhau. Tuy nhiên xuất phát từ đặc trưng riêng của hoạt động kinh doanh và nhu cầu điều chỉnh của pháp luật, việc giải quyết tranh chấp thương mại có thể bằng các phương thức như thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 8
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản 1. Thương lượng Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc và đi đến thỏa thuận một cách thức giải quyết tranh chấp mà không cần đến sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba. Nếu việc thương lượng thành công sẽ cho phép hai bên đạt đến một sự thỏa thuận. Thỏa thuận này được thừa nhận như một hợp đồng, sự thống nhất ý chí giữa các bên, là “luật” giữa các bên và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Trong thực tiễn, hầu hết các trường hợp có tranh chấp phát sinh thì các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng, tìm cách tháo gỡ bất đồng, với mục đích chung là giữ mối quan hệ kinh doanh tối đẹp và lâu giữa họ. Có thể coi đây là hình thức thương lượng để đạt được sự thỏa thuận chung về bất đồng phát sinh, vừa là một hình thức giải quyết tranh chấp. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới trong đó có Luật Thương mại Việt Nam khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng giữa các bên, sau đó mới sử dụng phương thức khác (xem điều 317 Luật Thương mại 2005). Tuy nhiên, luật không bắt buộc các bên phải thương lượng trước khi gải quyết bằng các phương thức tài phán như trọng tài hoặc tòa án (thương lượng không phải là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiến đến trọng tài hoặc tòa án). Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày, phát biểu quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết các bất đồng1. Từ lâu thương lượng đã được xem là một phương thức giải quyết được ưa chuộng vì những ưu điểm như: - Ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, - Đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và hiệu quả. - Nhìn chung ít gây hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên. Không gây tác động xấu trong kinh doanh, quan hệ hai bên vẫn cũng có khi thương lượng xong, - Ít căng thẳng về tâm lý vì không giải quyết công khai (như xét xử) Tuy vậy, thương lượng cũng có những hạn chế cần chú ý là : - Hình thức thương lượng chỉ thích hợp đối với các bên thực sự có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Nếu có bên muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian hơn. - Hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật. Trong thực tế, thương lượng có thể tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại tòa án hoặc trọng tài. Trong những trường hợp cụ thể này thì việc xác định hiệu lực pháp lý của thương lượng là khác nhau : - Đối với thương lượng độc lập thì nghĩa vụ của các bên tiến hành thương lượng được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp, do đó cũng được thực hiện 1 Trần Đình Hảo - Hoà giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1/2000 - trang 30. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 9
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản nghiêm chỉnh như mọi điều khoản khác của hợp đồng. Kết quả thương lượng được coi như một thỏa thuận mới về vấn đề tranh chấp, các bên phải thi hành tự nguyện thỏa thuận đó theo quy định của luật áp dụng về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. - Nếu thương lượng được tiến hành trong khuôn khổ tố tụng trọng tài hay tố tụng tư pháp thì trọng tài viên hoặc thẩm phán phụ trách việc xét xử sẽ ra văn bản công nhận kết quả thương lượng của các bên theo yêu cầu của các bên. Văn bản này có giá trị như một quyết định của trọng tài hay tòa án. (xem Nghị quyết số 01/HĐTP TANDTC/2005) 2. Hòa giải Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba, đóng vai trò trung gian để hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột hoặc bất hòa Bên trung gian đóng vai trò hỗ trợ đôi bên đi đến giải pháp có lợi nhất cho đôi bên, có khi bên trung gian hòa giải thuyết phục đôi bên chấp nhận giải pháp do họ đề ra, chấm dứt xung đột. Bên trung gian hòa giải có thể là cá nhân, là tổ chức, là cơ quan. Đây là hòa giải ngoài tố tụng nên pháp luật cũng không khẳng định cá nhân nào, tổ chức nào, cơ quan nào được làm trung gian hòa giải, mà đây là sự thống nhất đôi bên tranh chấp lựa chọn trung gian hòa giải. Hiện nay, trong hoạt động thương mại quốc tế, phương pháp hoà giải rất được ưa chuộng dùng để giải quyết tranh chấp và các quy tắc hoà giải của các tổ chức thường được lựa chọn là quy tắc hoà giải không bắt buộc của phòng thương mại quốc tế ICC, (năm 1998); quy tắc hoà giải của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại (1980); quy tắc hoà giải của Trung tâm hoà giải Bắc kinh (1987); quy tắc hoà giải thương mại của hiệp hội trọng tài Mỹ AAA (1992) Cũng như thương lượng, hòa giải là giải pháp tự nguyện, tùy thuộc vào sự lựa chọn của các bên tham gia tranh chấp. Tuy nhiên, thương lượng là hình thức tự hòa giải, còn hòa giải là hình thức có sự tham gia của người thứ ba vào quá trình giải quyết. Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa hai hình thức giải quyết tranh chấp này. Dù vậy, sự giống nhau của hai giai đoạn này là cách thức giải quyết tranh chấp là do chính đôi bên thống nhất ý chí; người thứ ba có mặt là để hỗ trợ, để phân tích, để đối chiếu cho đôi bên hiểu rõ. Về mặt nguyên tắc, bên thứ ba đứng làm trung gian hòa giải không có quyền quyết định mà chỉ sử dụng kỹ năng và áp dụng các biện pháp mang tính kỹ thuật để giúp các bên đạt được giải pháp trung hòa, còn giải pháp có đạt được hay không vẫn là sự tự định đoạt của đôi bên. Ưu điểm và khuyết điểm của hình thức “hòa giải” giống như hình thức thương lượng. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất có hiệu quả, được giới kinh doanh ưa chuộng, giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại ở các quốc gia khác. Theo thông lệ chung, hòa giải có thể được tiến hành ngoài thủ tục tố tụng và cũng có thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng của tòa án hoặc trọng tài. Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là việc các bên mời một tổ chức hoặc cá nhân đứng ra làm trung gian để cùng đàm phán, thương lượng. Chẳng hạn, một trong những chức năng của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam là giúp các thành viên trong việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, khi được yêu cầu (Xem khoản 9, điều 5 Điều lệ Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 10
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam). Các bên tranh chấp thông tin cho nhau và trình bày quan điểm của mình, người hòa giải hướng các bên tham gia vào việc tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm loại trừ những ý kiến bất đồng, những xung đốt về lợi ích phát sinh giữa các bên. Sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp được thể hiện bằng văn bản, có sự xác nhận của bên đứng ra làm trung gian hòa giải và có giá trị ràng buộc với các bên tham gia. Ngược lại, hòa giải trong thủ tục tố tụng được tiến hành khi một bên tham gia tranh chấp đã có đơn kiện đến tòa án hoặc có đơn yêu cầu trọng tài giải quyết. Thực tế cho thấy, kết quả hòa giải chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố : + Thiện chí giữa các bên tham gia tranh chấp, nhằm mềm hóa các xung đột với mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hợp tác, làm ăn lâu dài. + Uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của người đứng ra làm trung gian hòa giải. 3. Trọng tài. Trọng tài là thể thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuận đưa những tranh chấp ra trước một trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài để giải quyết và trọng tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết ràng buộc các bên tranh chấp. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là một bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt các xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện. Đây là hình thức giải quyết tranh chấp rất phổ biến, được áp dụng rộng rãi do những ưu điểm và lợi thế mà các hình thức giải quyết tranh chấp khác không có được như - Các bên được bảo đảm tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện (lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm, thủ tục, phương thức giải quyết tranh chấp ) - Thủ tục đơn giản, ngắn gọn và trong trường hợp cần thiết thì bảo đảm bí mật hơn so với giải quyết bằng tòa án. Ngoài ra, hình thức trọng tài không giống với hình thức đưa ra đề nghị của người hòa giải, đề nghị của người trung gian hòa giải phải hoàn toàn được các bên chấp nhận và thống nhất trước khi trở thành bắt buộc. Trái lại phán quyết của trọng tài là một ràng buộc có hiệu lực thi hành không bắt buộc phải dựa trên sự thống nhất của đôi bên. Tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế xã hội, tập quán pháp luật của mỗi nước mà quy mô và mô hình tổ chức trọng tài trên thế giới khá đa dạng với những tên gọi không giống nhau song tựu trung lại trọng tài được tồn tại dưới hai hình thức là trọng tài theo vụ việc (hay còn gọi là trọng tài ad-hoc, trọng tài lâm thời) và trọng tài thường trực. a. Trọng tài theo vụ việc (trọng tài lâm thời, trọng tài ad-hoc) là hình thức trọng tài được lập ra để giải quyết những tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết tranh chấp đó xong. Về đặc điểm, trọng tài theo vụ việc không có trụ sở và không hình thành bộ máy ổn định, không thống nhất lệ thuộc một cách ổn định vào bất kỳ một quy tắc xét xử nào. Về nguyên tắc, các bên tham gia không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý về tố tụng Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 11
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản nếu đảm bảo được nguyên tắc khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp. Chính vì thế trọng tài theo vụ việc là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt và mềm dẻo về phương thức hoạt động. Hình thức trọng tài này phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết về pháp luật cũng như có kinh nghiệm tranh tụng. Tuy vậy, trên thực tế, số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết thông qua hình thức trọng tài loại này không nhiều. b. Trọng tài thường trực (còn gọi là trọng tài quy chế) là những trọng tài có tổ chức, trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng. Các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín đều tổ chức theo mô hình này. Đặc điểm tố tụng trọng tài thường trực là quy chế tố tụng chặt chẽ. Bởi vì mỗi tổ chức trọng tài thường trực đều có điều lệ riêng nên có điều kiện thay đổi, bổ sung, hoàn thiện để ngày càng thích ứng với những điều kiện và đòi hỏi của thực tiễn. Hơn nữa, để tăng cường khả năng cạnh tranh, ngoài việc hạ thấp biểu phí, các tổ chức trọng tài trên thế giới đều cố gắng cải tiến để rút ngắn thời gian tố tụng và đưa vào danh sách trọng tài viên những người có uy tín, hiểu biết rộng và giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp. Đây chính là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trọng tài, làm cho hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng chiếm ưu thế, hấp dẫn giới kinh doanh nhiều hơn. Ở các nước tiên tiến, trọng tài thương mại là hình thức tranh chấp được ưa chuộng. Khi lựa chọn hình thức trọng tài, họ thỏa thuận trong hợp đồng được các bên ký kết, theo đó thỏa thuận giải quyết các tranh chấp của họ bằng trọng tài và thống nhất chọn lựa trọng tài, hoặc thống nhất về thủ tục lựa chọn trọng tài địa điểm thực hiện trọng tài và các thủ tục cần tuân thủ. Nếu các bên trong hợp đồng chỉ thỏa thuận hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhưng không ghi nhận các vấn đề khác như thủ tục, địa điểm, trọng tài viên thì khi đó pháp luật về trọng tài sẽ quy định. 4. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng tòa án: Giải quyết tranh chấp bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện. Toà án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Do đó các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của tòa án như một giải pháp để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải và cũng không mốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài2. Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại trọng tài. Phạm vi và thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp tranh chấp thương mại được pháp luật mỗi nước quy định khác nhau, trong đó có hai khuynh hướng chủ yếu thường thấy là : 2 Nguyễn Như Phát - Pháp luật tố tụng và các hình thức tố tụng kinh tế - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2001 - trang 32. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 12
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản - Khuynh hướng thứ nhất : Tổ chức tòa án chuyên trách (hay tòa án chuyên biệt) để giải quyết các tranh chấp thương mại với tính chất là một dạng tranh chấp đặc thù. Ví dụ Tòa thương mại Pháp tồn tại độc lập với tòa án thường về mặt tổ chức và chỉ xét xử sơ thẩm. Thẩm phán hầu hết là các thương gia giàu kinh nghiệm, làm việc tình nguyện và không hưởng lương. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, tòa án Thương mại cũng được thành lập với tư cách là một tòa độc lập, có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà các bên đương sự là thương gia. - Khuynh hướng thứ hai : Trao thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại cho tòa án thường (tòa dân sự). Ở Mỹ, Nhật và nhiều nước khác, mọi tranh chấp thương mại đều do tòa án thường giải quyết, với quan niệm cho rằng, mọi tranh chấp thương mại thực chất cũng chỉ là một dạng của tranh chấp dân sự mà thôi. Vấn đế cần xem xét chỉ là luật áp dụng để giải quyết tranh chấp đó. Thường thì nếu các bên tham gia tranh chấp là thương gia (hay chủ thể kinh doanh được hưởng quy chế thương gia) thì luật áp dụng là luật thương mại. Ngược lại, nếu đó không phải là tranh chấp giữa các thương gia hoặc nội dung tranh chấp không được quy định trong luật thương mại thì sẽ được giải quyết trên cơ sở các quy định của luật dân sự. Xem xét về thẩm quyền của cơ quan tài phán nhà nước ở các quốc gia khác nhau về giải quyết tranh chấp thương mại thì đa số thẩm quyền của các cơ quan tài phán này giải quyết những tranh chấp phổ biến là : - Tranh chấp về hợp đồng kinh doanh, - Tranh chấp liên quan đến tổ chức và hoạt động của các công ty, bao gồm tranh chấp giữa công ty với các thành viên và giữa các thành viên công ty với nhau. - Tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu thương mại, - Tranh chấp thương mại hàng hải, - Tranh chấp phát sinh trong quá trình bảo hộ cạnh tranh và chống cạnh tranh bất hợp pháp. - Tranh chấp liên quan đến hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán. Ngoài ra, ở một số quốc gia như Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, cơ quan tài phán nhà nước còn được trao một số chức năng mang tính chất hành chính - tư pháp như đăng ký kinh doanh. Nếu như việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mang đặc điểm tôn trọng quyền thỏa thuận hay ý chí của các bên tham gia để đưa ra phán quyết thì đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằng tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp thương mại thông qua tòa án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các chủ thể kinh doanh. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 13
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Bên cạnh lợi thế cơ bản là trình tự thủ tục tố tụng chặt chẽ và độ tin cậy vào hiệu lực của phán quyết, hình thức giải quyết thông qua trọng tài cũng có những hạn chế nhất định. Kinh nghiệm chung ở nhiều nước cho thấy, thủ tục giải quyết tranh chấp thông qua tòa án thường dài hơn so với giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Hơn nữa, nguyên tắc xét xử công khai tại tòa án không phù hợp với tính chất của hoạt động kinh doanh và tâm lý của giới doanh nghiệp. (có thể làm sút giảm uy tín của các bên trên thương trường ; lộ các bí mật kinh doanh ), ngoài ra, bản án xét xử xong chưa được thi hành ngay mà các bên có quyền kháng cáo khiếu nại nên thời gian kéo dài. Tóm lại, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp thương mại đều mang những đặc điểm riêng với những ưu điểm và hạn chế nhất định, sự đa dạng trong cơ chế giải quyết tranh chấp xét cho cùng là biểu hiện đặc trưng về tính đa dạng của các quan hệ kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường III. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI : 1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây Ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây do xuất phát từ việc xây dựng và thực hiện cơ chế kinh tế tập trung, kế hoạch hoá vì thế hoạt động kinh tế chịu sự chi phối bởi yếu tố kế hoạch và chỉ huy bởi Nhà nước. Trong cơ chế đó các tranh chấp kinh tế (không gọi là tranh chấp thương mại) được giải quyết bởi hệ thống cơ quan Trọng Tài Kinh Tế Nhà nước. Tuy tổ chức và tên gọi có thể khác nhau nhưng nhìn chung Trọng tài kinh tế loại này thuộc cơ quan quản lý nhà nước. Trong tài kinh tế nhà nước không chỉ là cơ quan giải quyết tranh chấp mà còn là một cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát thực hiện các kỷ luật hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước. Hiện nay các quốc gia này đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên họ đã đổi mới cách thức giải quyết tranh chấp kinh tế theo hướng có Tòa Án kinh tế thay thế vai trò của Trọng Tài Kinh Tế, có chức năng xét xử các tranh chấp kinh tế và tuyên bố phá sản các doanh nghiệp. Ngoài ra các Quốc gia này cũng đã tiến hành tạo cơ sở pháp lý để đi đến một hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế ngoài con đường tòa án - Đó là hình thức Trọng tài kinh tế phi chính phủ. 2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại ở các nước tư bản chủ nghĩa: Ở các nước tư bản chủ nghĩa, tranh chấp thương mại được giải quyết thông qua một trong hai hình thức tùy theo sự lựa chọn của các bên tranh chấp: trọng tài thương mại hoặc tòa án thương mại. Việc tổ chức nhiều hình thức giải quyết tranh chấp là phù hợp với nguyên tắc tự do kinh doanh. a. Đối với hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Trọng tài là hình thức thức giải quyết tranh chấp ngoài con đường tòa án đã tồn tại khá lâu trong lịch sử phát triển của xã hội. Châu Âu được coi là chiếc nôi của Trọng tài thương mại, có những tổ chức trọng tài thương mại được thành lập trước đây hàng trăm năm ( Trọng tài London 1892, Trọng tài Thụy Điển 1917. ), nhưng nhìn chung phần đông các nước chỉ mới thừa nhận và sử dụng hình thức trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp thương mại từ những thập kỷ gần đây ( Thí dụ: Nhật, Australia Trọng tài thương mại thành lập trong thập niên 60; Thái Lan 1968; Singapore 1991 ). Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 14
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Trọng tài thương mại ở các nước tư bản chủ nghĩa đều tổ chức giải quyết tranh chấp phi chính phủ. Đây là tổ chức xã hội nghề nghiệp và được tổ chức dưới hai hình thức : trọng tài thương mại theo vụ việc và trọng tài thường thường trực (có cơ quan thường trực). Các bên có quyền lựa chọn hình thức trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp cho mình. Khi đã thỏa thuận lựa chọn, các bên rất tôn trọng phán quyết của trọng tài. Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại, trọng tài thương mại không vượt quá giới hạn của hợp đồng. Về cơ bản và chủ yếu, phán quyết của trọng tài thương mại phải căn cứ vào pháp luật. Trong trường hợp cụ thể và cá biệt, phán quyết của trọng tài thương mại có thể dựa trên sự thỏa hiệp của các bên tranh chấp. Về hình thức, phán quyết trọng tài phải đầy đủ nội dung và thủ tục như một bản án. Trong trường hợp tranh chấp do trọng tài theo vụ việc giải quyết, thì một bên có quyền kiện ra tòa án tư pháp đề nghị hủy bỏ quyết định của trọng tài nếu phát hiện trọng tài phi phạm thủ tục tố tụng hoặc các yêu cầu khác dẫn đến vô hiệu theo quy định của pháp luật. Cách thức tổ chức trọng tài thương mại như trên có ở rất nhiều các nước ở Châu Âu và Châu Á (Pháp, Đức, Mỹ, Hồng Kông, Singapore, Malaysia ) b. Giải quyết tranh chấp bằng tòa án thương mại Bên cạnh tổ chức trọng tài thương mại phi chính phủ, các quốc gia có nền kinh tế thị trường thường tổ chức hệ thống giải quyết tranh chấp bằng tòa án. Về việc tổ chức tòa án giải quyết tranh chấp trong thương mại, có nước giao thẩm quyền xét xử tranh chấp thương mại cho tòa án thường (như Mỹ, Nhật, Thái lan ) thì có nước lại tổ chức thành tòa chuyên trách (tòa thương mại). Thông thường các tòa chuyên trách này chỉ xét xử sơ thẩm, nếu có chống án thì bản án sơ thẩm sẽ được đưa ra xét xử ở tòa thượng thẩm (phúc thẩm) dân sự như các vụ việc dân sự khác. Chẳng hạn, ở Pháp các tranh chấp thương mại có thể yêu cầu tòa án thương mại giải quyết. Tuy nhiên, tòa án thương mại là một tòa chuyên trách, chỉ xét xử sơ thẩm. Chánh án của tòa thương mại không phải là các thẩm phán chuyên nghiệp mà là những thương gia và được các bên bầu ra thực hiện chức năng của họ và không được trả thù lao, không hưởng lương. Nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử ở tòa thượng thẩm dân sự như các vụ việc dân sự. Đối với các vụ án nhỏ ( Tranh chấp thương mại giá trị từ 13.000 F trở xuống ) thì tòa án thương mại sơ thẩm có quyền xét xử sơ và chung thẩm. Qua phân tích trên cho thấy ở hầu hết các nước tranh chấp thương mại được giải quyết theo hai con đường: giải quyết bằng tòa án hoặc giải quyết bằng trọng tài. Tòa án thương mại (nếu được thành lập như mọt tòa án chuyên biệt) chỉ có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm đối với các tranh chấp kinh tế và có thủ tục đơn giản, nhanh gọn. Đồng thời, đa số số các quốc gia hình thức trọng tài kinh tế phi chính phủ là phổ biến. IV. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM. 1. Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế trước ngày 1/7/1994 Giải quyết tranh chấp thương mại là một đòi hỏi tất yếu, bắt nguồn từ sự phát triển của các quan hệ kinh tế và gắn liền với nhiệm vụ quản lý nhà nước đặt ra trọng từng giai Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 15
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản đoạn. Chính vì thế mà cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại được thể chế hóa trong các thời kỳ rất khác nhau. Ở Việt nam, trước năm 1960 mọi tranh chấp đều do tòa án giải quyết theo thủ tục tư pháp. Từ năm 1960, cùng với việc ban hành điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế (Nghị định số 20/TTg, ngày 04-01-1960), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/TTg ngày 04/01/1960 về việc tổ chức ngành trọng tài kinh tế. Theo đó, ngành Trọng tài được tổ chức theo các cấp trung ương, khu và tỉnh, thành phố và tại các Bộ (ngành kinh tế - kỹ thuật) với chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế và xét xử các tranh chấp hợp đồng kinh tế. Thành phần của hội đồng trọng tài bao gồm chủ yếu các thành viên kiêm chức thuộc các ngành tài chính, ngân hàng, kế hoạch, vật giá. Hội đồng trọng tài hoạt động theo chế độ họp, định kỳ mỗi quý một lần. Đồng thời, để hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, Chính phủ đã ban hành nghị định số 29/CP ngày 23/02/1962 quy định nguyên tắc giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài kinh tế. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu về giải quyết tranh chấp đối với những hợp đồng chuyên biệt, những tranh chấp đặc thù, Chính phủ đã ra quyết định thành lập Trọng tài Ngoại thương và Trọng tài Hàng hải. Trọng tài Ngoại thương và Trọng tài Hàng hải là tổ chức phi chính phủ được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Các tổ chức Trọng tài này có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thương, thuê tàu, vận chuyển hàng hóa quốc tế, đại lý tàu biển, cứu hộ tàu biển, đâm va giữa các tàu biển với nhau, giữa tàu biển và tàu sông có quốc tịch khác nhau, bảo hiểm hàng hóa khi một bên hay các bên tham gia là người nước ngoài hoặc tổ chức kinh doanh nước ngoài. Nhằm mục đích tăng cường pháp chế và nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong lĩnh vực ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết hội nghị 20 và 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng3, ngày 10/03/1975 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54/CP về chế độ hợp đồng kinh tế và tiếp theo đó là Nghị định số 75/CP ngày 14/04/1975 ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trọng tài kinh tế. Theo Nghị định này, hội đồng trọng tài kinh tế được thành lập với tư cách là một cơ quan nhà nước, có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế, mà trọng tâm là giữ vững kỷ luật Nhà nước trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm phát sinh. Với Nghị định số 24/HĐBT ngày 10/08/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng kinh tế được đổi thành trọng tài kinh tế, bãi bỏ chế độ trọng tài viên kiêm chức và hình thành ngạch trọng tài viên riêng. Nhằm tăng cường vai trò của trọng tài, phù hợp với tình hình mới, ngày 17/04/1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 62/HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của trọng tài kinh tế Bộ, tỉnh và huyện. Trọng tài kinh tế cấp huyện chính thức được hình thành. 3 Nghị quyết hội nghị 20 Ban chấp hành Trung ương (1972) đề ra chủ trương “về xóa bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý kinh doanh theo phương thức xã hội chủ nghĩa, khắc phục quản lý thủ công, phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng các tổ chức của nền công nghiệp lớn”. Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 22 (1973) đề ra nhiệm vụ phải tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 16
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Từ năm 1986, Đảng và nhà nước tòa án chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Để đảm bảo sự vận hành của cơ chế kinh tế mới, một trong những nhiệm vụ rất quan trọng đặt ra là phải đổi mới quy định của pháp luật về chế độ hợp đồng kinh tế và đi liền với nó là cơ chế giải quyết các tranh chấp phát sinh. Chính vì vậy, ngày 25/09/1989, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành pháp lệnh về hợp đồng kinh tế và sau đó, ngày 10/01/1989 ban hành pháp lệnh về trọng tài kinh tế. Pháp lệnh về trọng tài kinh tế có những đổi mới căn bản về tổ chức, phân cấp thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế. Đặc biệt, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế này đã bỏ cấp trong tài kinh tế Bộ, ghi nhận nguyên tắc tự chọn tổ chức trọng tài đứng ra giải quyết tranh chấp kinh tế giữa các bên. Cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế phụ thuộc vào ý chí`, thỏa thuận lựa chọn của các bên. Tuy nhiên, về tổ chức, trọng tài kinh tế vẫn là cơ quan nằm trong hệ thống cơ quan chấp hành và điều hành, được tổ chức ở ba cấp : trung ương, tỉnh, huyện. Về chức năng, chủ yếu vẫn là quản lý công tác hợp đồng kinh tế, mà trọng tâm là : • Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, • Kiểm tra, kết luận và xử lý các hợp đồng kinh tế trái pháp luật. • Tuyên truyền hướng dẫn thực hiện pháp luật về hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế. • Bồi dưỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế. Các chức năng, nhiệm vụ trên của trọng tài kinh tế được thực hiện thông qua hai hình thức hoạt động chủ yếu là hoạt động kiểm tra xử lý và hoạt động xét xử. Trong đó, do trọng tài kinh tế là cơ quan quản lý, có chức năng quản lý kinh tế, nên hoạt động của trọng tài kinh tế phần lớn tập trung vào việc kiểm tra hợp đồng kinh tế nhằm giám sát việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị kinh tế trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Còn hoạt động xét xử của trọng tài kinh tế đối với các vi phạm về hợp đồng kinh tế vừa rất ít, vừa kém hiệu lực thi hành vì thiếu tính cưỡng chế và thiếu động lực, lợi ích thôi thúc các bên đấu tranh với nhau để thực hiện nghiêm chỉnh quyết định của trọng tài kinh tế. các bên được kiện và thua kiện không thu được lợi ích gì nhiều ngoài sự rắc rối và phiền hà. Cùng với việc đổi mới về nội dung quy định về trọng tài kinh tế nhà nước, qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về tổ chức và hoạt động của hai tổ chức trọng tài phi chính phủ, ngày 28/04/1993, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 204/TTg về thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, đặt bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất trọng tài ngoại thương và trọng tài Hàng hải. Như vậy, đến cuối giai đoạn này, hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam có hai hình thức trọng tài là trọng tài của nhà nước (trong tài kinh tế Nhà nước) và hệ thống trong tài phi chính phủ (Trung tâm trong tài quốc tế Việt Nam) mà chưa hình thành hệ thống toà án kinh tế. 2. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại từ 1/7/1994 đến nay a. Sự hình thành toà án kinh tế ở Việt Nam : Trong điều kiện cơ chế kinh tế mới, sự tồn tại của trọng tài kinh tế Nhà nước với tư cách là một cơ quan có chức năng quản lý nhà nước tỏ ra không còn phù hợp. Sự phát Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 17
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản triển đa dạng của các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi về hình thức, tính chất hợp tác và đi liền nó là nội dung tranh chấp, phương pháp giải quyết tranh chấp trong kinh tế do vậy đòi hỏi cũng được đổi mới. Trọng tài kinh tế Nhà nước với tư cách là một cơ quan nhà nước không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường mà trong hệ thống cơ quan tài phán kinh tế nhất thiết phải thành lập tòa kinh tế. Điều này xuất phát từ những lý lẽ sau đây : - Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước làm phát sinh nhiều quan hệ mới giữa các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. sự thay đổi quan hệ kinh tế tất yếu dẫn đến sự đổi mới từng bước hệ thống chính trị nói chung, trong đó có tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại cũng được tiến hành trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này. - Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng và tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, hoạt động kinh doanh thuộc quyền tự chủ của các doanh nghiệp. Các quan hệ kinh doanh giữa các doanh nghiệp được xây dựng theo nguyện tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. do vậy để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, bảo đảm thực sự dân chủ và bình đẳng giữa các bên, các tranh chấp thương mại phải do một cơ quan tài phán giải quyết theo trình tự tư pháp. - Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, ngoài những tranh chấp hợp đồng kinh tế (vốn là các tranh chấp đã từng được giải quyết bằng trọng tài kinh tế nhà nước), còn có những tranh chấp khác như tranh chấp liên quan đến giải thể, phá sản doanh nghiệp, tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty và giữa các thành viên công ty với nhau trong việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến cổ phiếu trái phiếu Đêy à những loại tranh chấp mới mẻ, chỉ phát sinh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và khi các tranh chấp đó đã được các bên yêu cầu cớ quan nhà nước giải quyết thì phải do một cơ quan tư pháp đảm nhiệm và theo một trình tự , thủ tục bắt buộc. - Xét về mặt bản chất thì các tranh chấp thương mại là các tranh chấp chủ yếu liên quan đến tài sản như các tranh chấp về tài sản trong các quan hệ dân sự. Mặc dù vậy, chúng cũng có những đặc thù đòi hỏi phải thành lập một tòa kinh tế độc lập. Chính vì lý do đó, ngày 28/02/1993, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức tòa án nhân dân, theo đó, Tòa kinh tế với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án nhân dân được hình thành, có chức năng xét xử các vụ án và các tranh chấp kinh tế4. Đồng thời, hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước được giải thể. Tiếp theo đó, ngày 16/03/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế. Như vậy, kể từ thời điểm ngày 1/7/1994 Toà kinh tế với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống toà án nhân dân, chuyên giải quyết các vụ án kinh tế đã chính thức được hình thành, thay thế vai trò của trọng tài kinh tế Nhà nước tồn tại hơn 30 năm. 4 Hiện nay luật này đã được thay thế bằng Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 được Quốc hội thông qua ngày 2/4/2002 và có hiệu lực từ 01/10/2002. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 18
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản b. Sự hoàn thiện hệ thống trọng tài phi chính phủ sau ngày 1/7/1994 Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc tự do kinh doanh là sự tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau : thương lượng, hòa giải, trong tài, kiện tụng tại tòa án. Trong các phương thức đó thì hình thức trọng tài có những ưu điểm nhất định và nó được sự dụng rộng rãi và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới bởi những lý do sau : Thứ nhất : thủ tục tố tụng của tòa án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó không phù hợp với đòi hỏi của nhà kinh doanh về mặt thời gian. Các nhà kinh doanh muốn vụ tranh chấp được phán quyết nhanh chóng, bằng thủ tục đơn giản, phù hợp với công việc kinh doanh của họ. Với yêu cầu này, trọng tài kinh tế phi chính phủ đáp ứng được (xem đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài). Thứ hai: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định, đồng thời cũng có quyền lựa chọn cơ quan xét xử (cơ quan tài phán) trong việc giải quyết tranh chấp. Họ muốn “chọn mặt gởi vàng” vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn lựa chọn cả người giải quyết tranh chấp, thậm chí muốn lựa chọn cả địa điểm và thời gian giải quyết tranh chấp Về vấn đề này, tố tụng của tòa án không đáp ứng được (tất nhiên, trong một số trường hợp luật định, nguyên đơn cũng có quyền lựa chọn tòa án, song quyền lựa chọn cũng hạn chế hơn so với tố tụng trọng tài rất nhiều). Thứ ba : Các nhà kinh doanh muốn giữ bí mật, bảo đảm uy tín trong hoạt động kinh doanh, họ thường không muốn công ty của mình phải ra “hầu tòa”, bị đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng về nguyên tắc, tố tụng của tòa án đòi hỏi xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng. Thứ tư : Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước tòa án ngày cáng phát triển với những hình thức đa dạng, phong phú. Trong quá trình hợp tác kinh tế như vậy, việc phát sinh tranh chấp trong những lĩnh vực khác nhau của quan hệ kinh tế quốc tế như tranh chấp về tài chính, tín dụng quốc tế, tranh chấp về bảo hiểm, đầu tư là điều không thể tránh khỏi. Thông lệ của một số nước thường đưa tranh chấp đó giải quyết ở cơ quan trọng tài thương mại. Thứ năm : Mô hình giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài phi chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường rất được ưa chuộng, các nhà kinh doanh thường lựa chọn hình thức trọng tài để giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh. Trước ngày 01/7/1994, việc giải quyết hợp đồng kinh tế thuộc thẩm quyền của trọng tài kinh tế nhà nước. Sau ngày 1/7/1994 thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của trọng tài kinh tế được chuyển sang cho tòa kinh tế thuộc tòa án nhân dân. Trong khi đó, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần làm cho quan hệ kinh tế ngày càng phong phú và đa dạng. Số lượng các tranh chấp giữa các chủ thể cũng ngày càng tăng. Vì thế, việc hình thành tổ chức trong tài phi chính phủ bên cạnh hệ thống tòa kinh tế thuộc tòa án nhân dân là cơ hội để giảm bớt gánh nặng trong xét xử của tòa án. Như vậy, việc hình thành tổ chức trọng tài phi chính phủ chẳng những là đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn cuộc sống kinh tế đặt ra mà còn làm cho hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 19
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Chính vì vậy, trước những đòi hỏi khách quan và đa dạng hóa về hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với đặc điểm của cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập với quốc tế và khu vực, Chính phủ đã ban hành Nghị định 116/CP ngày 05/09/1995 về Tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế tồn tại dưới dạng các Trung tâm trọng tài kinh tế. Nghị định này đã chính thức hình thành hệ thống trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam. Tuy nhiên, các tổ chức trọng tài phi chính phủ này chỉ chuyên giải quyết các tranh chấp trong nước. Đối với các tranh chấp kinh tế có yếu tố nước ngoài thì được giao cho Trung tâm Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã được thành lập trước đó. Như vậy, bên cạnh cơ quan tài phán nhà nước là tòa kinh tế, hệ thống tài phán phi chính phủ tồn tại song song hai tổ chức hệ thống tổ chức trọng tài là Trung tâm Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (trọng tài quốc tế) và các trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định 116/CP (trọng tài trong nước). Trọng tài phi chính phủ ở nước ta được thành lập từ tháng 09/1994, tuy nhiên, trong quá trình hoạt động đến nay trọng tài chưa thể hiện được vai trò và khả năng của mình do nhiều nguyên nhân đáng kể. Mà nguyên nhân đáng kể nhất là thiếu một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về trọng tài thương mại. Điều đó thể hiện trong những quy định trước đây, về cơ bản các văn bản điều chỉnh về trọng tài thương mại chủ yếu là các văn bản dưới luật, giá trị pháp lý không cao (ví dụ như NĐ 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế; Thông tư số 02/PLDSKT của Bộ tư pháp ngày 3/1/1995 hướng dẫn nghị định 116/CP; Quyết định số 204- TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức của trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam; Quyết định số 114-TTg ngày16/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam; ). Nhìn một cách khách quan, Nhà nước ta thực sự chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này, thể hiện ở việc văn bản được ban hành một cách rời rạc, thiếu hệ thống do nhiều cơ quan khác nhau ban hành. Từ đó, dẫn đến việc các văn bản này khi đem thực thi thì mâu thuẩn và chồng chéo lên nhau do nội dung không thống nhất. Trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam đã ra đời và có hiệu lực thi hành vào 01/07/2003 tạo ra một bước phát triển mới trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam. Pháp lệnh cũng đã xoá bỏ sự phân biệt giữa trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế và tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam. Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam đã ra đời trong hoàn cảnh Việt Nam cần phải hoàn thiện pháp luật, đánh dấu một bước mới trong quá trình lập pháp của Việt Nam nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng. Pháp lệnh đã khắc phục được những điểm bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn của các văn bản trước đây về trọng tài, đồng thời đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Việc xây dựng Pháp lệnh Trọng tài thương mại Việt Nam đã tạo điều kiện cho trọng tài nước ta có bước đột phá trong tương lai và đáp ứng cơ bản được quá trình hội nhập của Việt Nam. Đồng thời cũng giải quyết được tình trạng thiếu tính thống nhất về hệ thống pháp luật trọng tài trước kia. Pháp lệnh Trọng tài thương mại Việt Nam 2003 bao gồm cơ cấu 8 chương, 63 điều có hiệu lực thi hành ngày 01/07/ 2003 với chức năng giải quyết các vụ tranh chấp Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 20
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản phát sinh trong hoạt động thương mại bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. -Chương 1: Những quy định chung, quy định về phạm vi điều chỉnh và giải quyết bằng tranh chấp trọng tài (điều 1- điều 8). -Chương 2: Thỏa thuận trọng tài, quy định về hình thức và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài (điều 9- điều 11). -Chương 3: Trọng tài viên, quy định những nội dung cơ bản về điều kiện trở thành trọng tài viên cũng như quy định về quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên (điều 12- điều 13). -Chương 4: Trung tâm trọng tài, quy định về điều kiện thành lập địa vị pháp lý cũng như quyền hạn và nhiệm vụ của trung tâm trọng tài (điều 14- điều 18). -Chương 5: Quy định chi tiết về tố tụng trọng tài bao gồm 31 điều (điều 19- điều 50). -Chương 6: Quy định về hủy quyết định trọng tài; thi hành quyết định trọng tài. -Chương 7: Quản lý Nhà nước về trọng tài. -Chương 8: Điều khoản thi hành. Bên cạnh đó, trong nỗ lực thực hiện cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống tài phán Nhà nước thông qua hệ thống toà án, Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội thống qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Bộ Luật này đã quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường toà án. Như vậy, các quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại ở nước ta hiện nay về cơ bản là phù hợp với thông lệ chung và không khác biệt nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại? 2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là gì? Những yêu cầu của việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại? 3. Phân tích các ưu điểm và hạn chế của các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại? 4. Phân biệt thương lượng và hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại? 5. Quá trình hình thành và phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 21
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Chương 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH BẰNG CON ĐƯỜNG TRỌNG TÀI I. KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Những ưu thế của trọng tài thương mại trong các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài đã chứng tỏ ưu thế vượt trội của mình trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bởi vì tố tụng của nó đã mang lại những lợi ích thiết thực cho nhà kinh doanh. Có thể nhận thấy những ưu thế này trong các đặc trưng của trọng tài : - Trọng tài thương mại đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp. Tố tụng trọng tài cho phép các bên : (1) tự do lựa chọn hình thức trọng tài là trọng tài theo vụ việc hay trong tài thường trực, (2) tự do lựa chọn và chỉ định các trọng tài viên mà họ tín nhiệm. Nguyên tắc này giúp các bên tìm thấy sự công bằng trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình. Mặt khác, trọng tài viên được lựa chọn là bất kỳ cá nhân nào phù hợp với đòi hỏi của vụ tranh chấp cụ thể, được các bên tín nhiệm như luật gia, các nhà chuyên môn, các nhà kinh doanh - Nguyên tắc xét xử không công khai của trọng tài : Nguyên tắc này tạo cho trọng tài trở nên một lợi thế rất lớn để đảm bảo cho các bên giữ gìn uy tín và bí mật trong kinh doanh. Các thương nhân khi có tranh chấp xảy ra, họ thường không muốn đưa vụ việc ra tranh luận công khai, thứ nhất là do sự đòi hỏi bí mật trong kinh doanh, họ không muốn các thương nhân khác biết họ có tranh chấp, ngoài ra, báo chí cũng là vấn đề mà các bên e ngại, vì chuyện “đổ thêm dầu vào lửa” khi kể lại một vụ tranh chấp nào đó là việc rất có thể xảy ra. Việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vì vậy sẽ bảo vệ danh tiếng cũng như sự nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường thông qua tính bảo mật thông tin kinh doanh khi giải quyết tranh chấp. - Tính nhanh chóng khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng là một ưu điểm nỗi bật và chính ưu điểm này mà các nhà kinh doanh xem trọng tài thương mại là lựa chọn hàng đầu khi xảy ra tranh chấp. Bởi vì, quyết định trọng tài có giá trị chung thẩm mà không phải trải qua nhiều cấp xét xử như toà án. Đối với nhà kinh doanh thì “thời gian là tiền bạc, là cơ hội”, là những yếu tố góp phần vào sự thành bại trong kinh doanh. Vì thế trọng tài trở nên hấp dẫn đối với những ai không muốn đồng vốn của mình bị giam giữ quá lâu vì sự kiện tụng kéo dài. - Tố tụng trọng tài là một thể thức hết sức mền dẻo, linh hoạt, phù hợp với tính chất kinh doanh thể hiện ở những nội dung như các bên tranh chấp có thể chọn bất kỳ nơi nào thuận tiện để giải quyết tranh chấp, thậm chí có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp không cần dựa theo pháp luật mà chỉ dựa vào sự công bằng trên nguyên tắc không trái với pháp luật5. Có nghĩa là họ giao toàn bộ niềm tin của mình cho các trọng tài viên mà họ đã lựa chọn. Trên lĩnh vực thương mại quốc tế, các bên có thể thỏa thuận chọn luật và thông lệ quốc tế nào mà họ cho là có lợi nhất cho họ. 5 Luật của một số nước còn cho phép các bên được quyền thỏa thuận ex aequo ex bono (không áp dụng pháp luật để giải quyết mà dựa vào ý kiến riêng của trong tài). Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 22
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản - Với tính chất là một tổ chức phi chính phủ, ưu điểm của trọng tài thể hiện ở việc trọng tài viên hoàn Toàn độc lập, không bị chi phối bởi một cơ quan chủ quản nào. Họ xét xử vụ việc theo pháp luật và theo khả năng hiểu biết của mình. Hơn nữa, chính là sự gần gũi và quan tâm của trọng tài viên đối với các bên tranh chấp cũng là một ưu điểm của trọng tài so với tố tụng tư pháp thông thường. Đây là yếu tố thuận lợi cho các bên tranh chấp khi sử dụng phương pháp này, vì trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên đôi khi thiếu sự bình tĩnh, trọng tài viên sẽ là người bám sát, theo dõi tiến triển vụ việc và có sự giúp đở kịp thời cho các bên. Hơn thế nữa, do trọng tài viên là những người được sự lựa chọn từ chính các bên tranh chấp, cho nên, trọng tài viên sẽ là người gần gũi và biết tận dụng những biên lề của quy phạm pháp luật, bảo vệ tối đa lợi ích của các bên. 2. Mối quan hệ giữa trọng tài thương mại và Tòa án: Trọng tài vừa mang bản chất của thương lượng, hòa giải vừa mang bản chất của Tòa án. Mang tính chất là “tòa án tư”, hoạt động của trọng tài không thể thiếu được vai trò của toà án trọng quá trình trọng tài. Trọng tài không thể phát huy được hiệu quả nếu tồn tại biệt lập với toà án. Điều này xuất phát từ hai lý do sau đây : - Thẩm quyền của hội đồng trọng tài, trọng tài viên bắt nguồn từ sự thỏa thuận “quyền lực theo hợp đồng” hay “quyền lực đại diện” cho các bên tranh chấp giao phó và ủy nhiệm cho hội đồng trọng tài. Khi giải quyết vụ việc theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, thì các quyết định của hội đồng trọng tài chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp nhưhg lại không có quyền ra lệnh bắt buộc đối với bất kỳ bên thứ ba hay với tổ chức nào khác dù có liên quan tới tranh chấp. Trong trường hợp này, để đảm bảo hiệu quả của việc thi hành phán quyết của trọng tài, toà án với quyền lực nhà nước sẽ giữ vai trò hỗ trợ giúp đỡ trọng tài khi cần thiết. Hiệu quả của việc thi hành phán quyết trọng tài phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ hợp tác giữa trọng tài và toà án. - Vì phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc thi hành nên nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của các bên nếu có sự vi phạm, không trung thực, không khách quan, sai sót từ phía trọng tài. Vì vậy cần só sự kiểm tra giám sát của nhà nước đối với hoạt động trọng tài. Lúc này, toà án - với tư cách là đại diện cho cơ quan nhà nước - thực hiện quyền quản lý và giám sát đối với các hiện tượng này. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, tuy là hai biện pháp tài phán khác nhau nhưng vì có cùng một chức năng là xét xử để đạt tới một mục đích chung là giữ ổn định trật tự pháp luật trong kinh doanh và bảo vệ quyền lợi của các bên nên trọng tài và Tòa án không thể tồn tại cách biệt nhau. Sự khác nhau về nguồn gốc quyền lực nên bản chất của chúng cũng có điểm khác nhau: Tòa án là cơ quan tài phán công, thực hiện quyền tài phán của mình nhân danh Nhà nước, được đảm bảo bằng quyền lực của Nhà nước; còn trọng tài là cơ quan tài phán tư, xét xử dựa trên ý chí của các bên tranh chấp (đã ký kết thỏa thuận trọng tài) thông qua hoạt động của hội đồng trọng tài (hay một trọng tài viên duy nhất). Sự khác nhau giữa toà án và trọng tài chính là giải quyết mối quan hệ giữa quản lý Nhà nước và nhu cầu của các bên sao cho vừa đảm bảo sự quản lý của Nhà nước vừa đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Khi xem xét lịch sử mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài, đặc biệt là ở các cường quốc thương mại Châu Âu (Anh, Pháp, Đức ), người ta nhận thấy một bức tranh tương đối phổ biến với 3 giai đoạn: từ sự đối đầu, nghi kỵ bất hợp tác, Tòa án của các nước đã Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 23
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản chuyển dần thái độ thừa nhận sự tồn tại của thực thể “phi Nhà nước” - trọng tài, đồng thời tìm cách khống chế, kiểm soát nghiêm ngặt đối với quá trình trọng tài.6 Như vậy, một trong các tiêu chuẩn để trọng tài thương mại của một nước trở nên hấp dẫn và đáng tin cậy đối các nhà kinh doanh là pháp luật của nước đó phải điều chỉnh được một cách hợp lý mối quan hệ giữa trọng tài và Tòa án, cụ thể là vừa hạn chế được sự can thiệp quá sâu của Tòa án vào quá trình trọng tài vừa đảm bảo sự hỗ trợ cần thiết của Tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng như khi thi hành phán quyết của Trọng tài. II. ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TRUNG TÂM TRỌNG TÀI. 1. Khái niệm và Đặc trưng pháp lý của các trung tâm trọng tài: Nhìn chung, trọng tài ở nhiều nước trên thế giới thường được tổ chức dưới hai hình thức là trọng tài ad-hoc (trọng tài vụ việc) và trong tài quy chế (trọng tài thường trực). - Trọng tài Ad-hoc (trọng tài vụ việc): là hình thức trọng tài do các bên thành lập để giải quyết cho từng vụ tranh chấp mà họ yêu cầu. Sau khi vụ việc đã được giải quyết xong, trọng tài Ad-hoc sẽ tự giải tán. - Trọng tài quy chế (trọng tài thường trực) là hình thức trọng tài có tổ chức, hoạt động thường xuyên, có điều lệ. quy tắc tố tụng riêng, có bản danh sách trọng tài viên. Trên thế giới, trọng tài thường trực có thể được tổ chức dưới những cách thức và tên gọi khác nhau như các trung tâm trọng tài nằm bên cạnh Phòng Thương mại, hoặc dưới dạng công ty, hiệp hội (Chẳng hạn như Viện trọng tài Stockholm-Thụy Điển nằm trong Phòng Thương mại Stockholm, cơ quan trọng tài hợp đồng kinh tế Trung Quốc do Cục quản lý hành chánh công thương Nhà nước lập ra, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam nằm bên cạnh phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội trọng tài Mỹ, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông ). Ngày nay, hình thức trọng tài quy chế đã trở nên rất phổ biến, chúng được áp dụng, được tổ chức ngày càng nhiều ở các nước, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trọng tài quy chế chính là các tổ chức trọng tài kinh tế phi chính phủ. Đặc trưng cơ bản của tổ chức trọng tài kinh tế phi chính phủ là : - Là tổ chức trọng tài hoạt động mang tính nghề nghiệp, không mang tính quyền lực nhà nước, không phải là cơ quan nằm trong bộ máy nhà nước. phán quyết của cơ quan này không mang tính cưỡng chế bắt buộc thi hành của quyền lực nhà nước. - Được hình thành dựa trên sáng kiến và sự tự nguyện tham gia của các trọng tài viên theo quy định của pháp luật (luật về trọng tài). Trọng tài viên của các trung tâm trọng tài kinh tế phi chính phủ ngoài đối tượng là luật gia (phần nhiều hành nghề tự do), thì chủ yếu vẫn là các thương gia. Có thể nói thành phần thương gia là cơ sở cho việc hình thành và hoạt động của các trung tâm trọng tài. Nhiều trung tâm trọng tài trên thế giới được thành lập dựa trên sáng kiến của giới thương gia. 6 Dương Thanh Mai - Mối quan hệ giữa Toà án và Trọng tài trong việc bảo đảm hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài - Tạp chí nhà nước và pháp luật số 12/1997. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 24
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản - Hoạt động trên cơ sở tự cân đối thu chi, áp dụng nguyên tắc tự hách toán, tự trang trải; lấy thu bù chi, dựa vào uy tín là chủ yếu bởi lẽ việc đưa vụ việc tranh chấp ra trọng tài nào giải quyết là quyền tự do thỏa thuận của các bên đương sự. Ở nước ta, theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại, thì các trọng tài thường trực cũng được xác định là các tổ chức trọng tài phi chính phủ và được gọi là các trung tâm trọng tài. 2. Thành lập, tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài a. Điều kiện thành lập trung tâm trọng tài Thông lệ chung về việc thành lập tổ chức trọng tài trên thế giới là các tổ chức trọng tài được hình thành dựa trên sáng kiến và sự tự nguyện tham gia của các trọng tài viên theo quy định của pháp luật (luật về trọng tài). Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới về tổ chức và hoạt động trọng tài cũng cho thấy trung tâm trọng tài thường không nhiều và tập trung ở các trung tâm thương mại lớn. Đa số các nước có 2 trung tâm trọng tài; Hoa kỳ có 8 Tổ chức trọng tài. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đồng thời qua thực tiễn hoạt động của trọng tài ở Việt Nam. Điều 14 Pháp lệnh quy định khi có ít nhất 5 sáng lập viên có đủ điều kiện làm trọng tài viên đề nghị và được Hội Luật gia Việt Nam giới thiệu, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định cho phép thành lập Trung tâm trọng tài. Tuy nhiên, việc thành lập phải được căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương theo quy định của Chính phủ. Cụ thể hóa quy định này, Điều 4 Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2004 quy định Trung tâm Trọng tài được thành lập tại thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Nghị định 25/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2004 cũng quy định một ngoại lệ là việc thành lập Trung tâm Trọng tài không thuộc trường hợp nói trên này phải căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và bảo đảm các điều kiện thành lập Trung tâm Trọng tài. Riêng đối với các Trung tâm Trọng tài đã được thành lập theo quy định của pháp luật trước ngày Pháp lệnh Trọng tài có hiệu lực được tiếp tục hoạt động theo quy định của Pháp lệnh và Nghị định này. b. Thủ tục thành lập trung tâm trọng tài Hoạt động của trung tâm trọng tài là một hoạt động đặc thù. Theo đó, trung tâm trọng tài thực hiện công việc tài phán đối với các tranh chấp phát sinh. Chính vì thế, việc thành lập trung tâm trọng tài phải đặt dưới sự giám sát của Bộ Tư pháp. Theo điều 5 Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2004 thì thủ tục thành lập trung tâm trọng tài như sau : Bước 1 : Đề nghị thành lập trung tâm trọng tài Các sáng lập viên có đủ điều kiện làm Trọng tài viên gửi hai bộ hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm Trọng tài đến Bộ Tư pháp. Hồ sơ gồm các giấy tờ sau đây: Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 25
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản a) Đơn xin phép thành lập Trung tâm Trọng tài có các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 14 của Pháp lệnh, có thỏa thuận về việc cử một sáng lập viên làm Chủ tịch Trung tâm và có chữ ký của tất cả các sáng lập viên; b) Sơ yếu lý lịch, bản sao có công chứng hoặc chứng thực hợp lệ bằng tốt nghiệp đại học, giấy tờ xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc đã qua thực tế công tác theo ngành học từ năm năm trở lên của các sáng lập viên; c) Điều lệ của Trung tâm Trọng tài; d) Văn bản giới thiệu của Hội Luật gia Việt Nam. Bước 2 : Cấp Giấy phép thành lập và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm Trọng tài Trong thời hạn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Giấy phép thành lập và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm Trọng tài; đồng thời có công văn thông báo kèm theo bản sao Giấy phép thành lập Trung tâm Trọng tài cho Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi Trung tâm Trọng tài đặt trụ sở. Trong trường hợp từ chối, Bộ Tư pháp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Bước 3 : Đăng ký hoạt động của Trung tâm Trọng tài Trung tâm Trọng tài phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp, nơi Trung tâm Trọng tài đặt trụ sở trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, . Hồ sơ đăng ký hoạt động gồm các giấy tờ sau đây: a) Đơn đăng ký hoạt động, trong đó ghi rõ địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm Trọng tài; b) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực hợp lệ Giấy phép thành lập Trung tâm Trọng tài; c) Danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm cấp Giấy đăng ký hoạt động cho Trung tâm Trọng tài. Sau khi được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Trung tâm Trọng tài thực hiện việc đăng báo, thực hiện các thủ tục mở tài khoản và khắc con dấu theo quy định của pháp luật. Trung tâm Trọng tài chỉ được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động. c. Tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài Theo quy định của Pháp lệnh, trung tâm trọng tài là một tổ chức phi chính phủ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo điều lệ do chính trung tâm trọng tài xây dựng. Ngoài ra trung tâm trọng tài được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện của trung tâm. Việc hoạt động của chi nhánh và văn phòng đại diện tuân theo quy định pháp luật Việt Nam về hoạt động của văn phòng đại diện và chi nhánh. Cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài gồm có Ban Điều hành và các trọng tài viên, trong đó Ban Điều hành gồm: Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 26
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản - Chủ tịch trung tâm trọng tài do các trọng tài viên bầu ra. - Một hoặc các phó chủ tịch do các trọng tài viên bầu ra. - Tổng thư ký do chủ tịch trung tâm trọng tài cử. Trung tâm trọng tài có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: 1. Xây dựng điều lệ và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài, nhưng không được trái với những quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại; 2. Mời những người có đủ điều kiện làm trọng tài viên của Trung tâm; 3. Chỉ định trọng tài viên để thành lập trọng tài theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại; 4. Cung cấp các dịch vụ hành chính văn phòng cho các hội đồng giải quyết các vụ tranh chấp; 5. Thu phí trọng tài, trả thù lao cho trọng tài viên theo điều lệ của Trung tâm trọng tài; 6. Tổ chức rút kinh nghiệm, bồi dưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng giải quyết tranh chấp của trọng tài viên; 7. Báo cáo định kỳ hoạt động của trung tâm trọng tài với Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam và Sở Tư pháp nơi trung tâm trọng tài hoạt động; 8. Xóa tên trọng tài viên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm trọng tài khi trọng tài viên vi phạm nghiêm trọng các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại và điều lệ của trung tâm trọng tài; 9. Lưu trữ hồ sơ, cung cấp các bản sao quyết định trọng tài theo yêu cầu của các bên hoặc cơ quan có thẩm quyền; 10. Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật; Pháp lệnh cũng ghi nhận những trường hợp chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài tại Điều 11 Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Khi chấm dứt hoạt động, Trung tâm trọng tài phải nộp lại giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài cho cơ quan đã cấp giấy phép. Trình tự, thủ tục chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài do Chính phủ quy định. III. QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ TRỌNG TÀI VIÊN 1. Điều kiện trở thành trọng tài viên Ta có thể nhận xét rằng, chế định trọng tài viên khác với chế định thẩm phán. Thẩm phán là một công chức Nhà nước bổ nhiệm, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn xét xử nhân danh Nhà nước và theo pháp luật. Trong khi đó, trọng tài viên là do các bên tranh chấp tín nhiệm cử ra, các bên phải trả thù lao cho trọng tài viên và họ phải chấp nhận và thực hiện quyết định trọng tài. Để đảm bảo lợi ích của mình, các bên đương nhiên phải tìm hiểu tư cách, đạo đức, trình độ, năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn của trọng tài viên. Vì thế ở nhiều nước trên thế giới, điều kiện để cử làm trọng tài viên là sự tín nhiệm của các bên tranh chấp đối với người mà mình cử làm trọng tài viên. Hay nói một cách khác hơn, uy tín của trọng tài viên chính là tiêu chuẩn để mà các bên lựa chọn. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 27
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Hầu hết thì pháp luật về trọng tài trên thế giới đều không quy định về tiêu chuẩn để trở thành trọng tài viên ( Luật mẫu UNCITRAL, Luật trọng tài Hoa Kỳ ) Chỉ có một số ít, trong đó là Trung Quốc quy định khá chặt chẽ về tiêu chuẩn của trọng tài viên. Điều 11 Luật mẫu UNCITRAL quy định: “ không ai sẽ bị loại bỏ làm trọng tài viên vì lý do quốc tịch”. Luật của Pháp thì đề cập đến tiêu chuẩn trọng tài viên dưới góc độ tư cách (điều 452). Và đặc biệt người ta đánh giá cao về luật trọng tài Braxin, tại điều 13 Luật Trọng tài Braxin ghi nhận: bất kỳ người nào cũng có thể trở thành trọng tài viên nếu có khả năng và được lòng tin của các bên. Từ kinh nghiệm ở đa số các nước, đồng thời xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội ở nước ta, Pháp lệnh Trọng tài thương mại vẫn duy trì một số điều kiện nhất định để trở thành trọng tài viên. Điều 12 Pháp lệnh Trọng tài thương mại đã có quy định Công dân Việt Nam có đủ các điều kiện sau đây có thể làm Trọng tài viên: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan; c) Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ năm năm trở lên. Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định hạn chế những người là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, chấp hành viên, công chức đang công tác tại Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án không được làm trọng tài viên. Đây là quy định phù hợp nhằm đảm bảo tính khách quan và vô tư của trọng tài viên khi thực hiện tố tụng trọng tài. Như vậy, những quy định này sẽ tạo cho đội ngũ trọng tài ở nước ta trong tương lai không những đông về số lượng mà còn đa dạng về chuyên môn, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu giải quyết tranh chấp của các nhà kinh doanh. Đồng thời, còn đáp ứng yêu cầu thực tế khách quan của xu thế hội nhập quốc tế. Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn trọng tài viên để giải quyết tranh chấp cho mình, với các hình thức sau: - Hội đồng trọng tài: gồm có ba trọng tài viên, trọng tài viên thứ ba do hai trọng tài viên lựa chọn làm chủ tịch hội đồng trọng tài. - Trọng tài viên duy nhất: do các bên tranh chấp cùng thoả thuận lựa chọn. Khi Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất được thành lập từ trung tâm trọng tài thì các trọng tài viên được lựa chọn phải có tên trong danh sách trọng tài viên của trung tâm đó. Nếu các bên giải quyết tranh chấp bằng hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất do các bên thành lập thì các trọng tài viên được lựa chọn không cần phụ thuộc vào danh sách trọng tài Chủ tịch trung tâm trọng tài (hoặc Tòa án đối với trọng tài do các bên thành lập) chỉ có quyền chỉ định trọng tài viên trong trường hợp: không lựa chọn được trọng tài viên; không thực hiện việc chọn trọng tài viên; cả hai không thỏa thuận được việc chọn trọng tài viên; hai trọng tài viên do các bên lựa chọn không thỏa thuận được việc chọn trọng tài viên thứ ba. Quyền chỉ định trọng tài viên của chủ tịch trung tâm trọng tài phát sinh khi tranh chấp các bên đưa ra trung tâm trọng tài đó. Còn Tòa án chỉ định trọng tài viên trong trường hợp các bên tự thành lập hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 28
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản 2. Quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên Pháp lệnh trong tài viên quy định Trọng tài viên có các quyền sau đây: a) Chấp nhận hoặc từ chối giải quyết vụ tranh chấp; b) Độc lập trong việc giải quyết vụ tranh chấp; c) Từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp; d) Hưởng thù lao. Bên cạnh đó, Trọng tài viên có các nghĩa vụ sau đây: a) Tuân thủ các quy định của Pháp lệnh trong tài thương mại; b) Vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ tranh chấp; c) Từ chối giải quyết vụ tranh chấp trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 của Pháp lệnh (xem mục c); d) Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết; đ) Không được nhận hối lộ hoặc có hành vi khác vi phạm đạo đức Trọng tài viên. 3. Thay đổi trọng tài viên, Theo quy định tại điều 27 Pháp lệnh thì trọng tài viên phải từ chối giải quyết vụ tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp khi: a) Trọng tài viên là người thân thích của một bên hoặc đại diện của bên đó; b) Trọng tài viên có lợi ích trong vụ tranh chấp; c) Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ. Việc mỗi bên tranh chấp tham gia trọng tài có quyền khước từ bất kỳ trọng tài viên nào, chứ không chỉ trọng tài viên do bên đó chỉ định, tạo điều kiện cho bên đương sự đó có nhiều sự tự do lựa chọn và khả năng giám sát quá trình trọng tài cũng như đảm bảo chắc chắn về sự công bằng của trọng tài. Việc thay đổi trọng tài viên sẽ do các trọng tài viên khác trong Hội đồng trọng tài quyết định. Trong trường hợp không quyết định được hoặc nếu hai trọng tài viên hay trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp thì việc thay đổi trọng tài viên được Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định đối với vụ tranh chấp do Trung tâm trọng tài tổ chức giải quyết; đối với vụ tranh chấp do Hội đồng Trọng tài được các bên thành lập giải quyết thì theo yêu cầu của nguyên đơn, Chánh án Tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một Thẩm phán xem xét quyết định. Quyết định của Tòa án là chung thẩm (điều 27 Pháp lệnh). IV. THẨM QUYỀN CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Phạm vi thẩm quyền xét xử của trọng tài là một yếu tố quan trọng, nó quy định thẩm quyền của một Trung tâm trọng tài đối với một vụ kiện cụ thể. Một điều khoản thỏa thuận trọng tài ghi đầy đủ tên Trung tâm trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài cũng chưa hẳn vụ kiện đã được Trung tâm thụ lý. Trọng tài chỉ thụ lý khi xem xét thấy vụ kiện nằm trong thẩm quyền xét xử của mình, tức trọng tài phải xem xét vụ kiện đó theo quy định Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 29
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản của pháp luật có thuộc thẩm quyền xét xử của trọng tài hay không. Do đó, việc xác định phạm vi những tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài là rất quan trọng. Ngoài ra, đây còn là một vấn đề phức tạp không chỉ trong nguyên tắc mà cả trong quá trình thực thi pháp luật về trọng tài. Điều 1 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Việt Nam quy định “Pháp lệnh này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong họat động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên”. Điều 2 Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định : “Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại mà các bên tranh chấp là cá nhân kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh. Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài”. Như vậy trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi thoả mãn đủ các điều kiện sau : - Vụ tranh chấp được yêu cầu giải quyết phải là tranh chấp phát sinh trong họat động thương mại . - Các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài. 1. Về điều kiện thứ nhất : tranh chấp phát sinh là tranh chấp thương mại Hoạt động thương mại theo Khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của các cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; Li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, hoạt động thương mại ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm hầu như toàn bộ lĩnh vực hoạt động của thương nhân, từ sản xuất đến lưu thông phân phối; từ sản xuất hàng hoá đến cung cấp dịch vụ; từ hoạt động kinh doanh thông thường đến các hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù; từ tranh chấp trong hợp đồng đến tranh chấp ngoài hợp đồng. Nói cách khác, thuật ngữ hoạt động thương mại trong Pháp lệnh trọng tài thương mại có nội hàm tương tự như khái niệm thương mại trong Luật mẫu về trọng tài của UNCITRAL, khái niệm hoạt động thương mại theo Luật Thương mại 2005 và khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp 2005. Có thể nói rằng, pháp luật về trọng tài ở Việt Nam đã mở rộng phạm vi thẩm quyền trọng tài của trọng tài theo hướng phù hợp với pháp luật của quốc tế, tạo điều kiện cho trọng tài Việt Nam tiến tới hòa nhập vào các tiêu chí của trọng tài quốc tế cũng như trọng tài của các nước trên thế giới7. 7 Tuy nhiên, hiện nay cách quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại khi định nghĩa cụm từ “hoạt động thương mại” đã sử phương pháp liệt kê, từ đó quy định một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền xét xử của trọng tài, xét về lâu dài khái niệm này có thể sẽ không bao quát hết các lĩnh vực tranh chấp phát sinh có thể giải quyết bằng phương thức trọng tài. Luật trọng tài Trung Quốc đã dùng phương pháp loại trừ để xác định phạm vi trọng tài. Tại điều 3 của Luật trọng tài Trung Quốc quy định những loại tranh chấp không thể đưa ra trọng tài bao gồm: tranh chấp hôn nhân, nuôi Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 30
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản 2. Về điều kiện thứ hai : Các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài Trong nền kinh tế thị trường, việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Vì vậy, bất kỳ một tranh chấp nào thuộc thẩm quyền xét xử của trọng tài chỉ được giải quyết bằng trọng tài nếu như các bên có thỏa thuận. a. Khái niệm về thỏa thuận trọng tài : Thỏa thuận trọng tài là hình thức pháp lý trong đó các chủ thể của các quan hệ kinh tế thể hiện sự nhất trí về việc sẽ đưa các tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh đến trọng tài để giải quyết theo một nguyên tắc của một tổ chức trọng tài nhất định. Thỏa thuận trọng tài là nội dung đầu tiên trong trình tự, thủ tục trọng tài. Nó đóng vai trò nền tảng tạo cơ sở xác lập cả một quá trình trọng tài mà các bên phải tuân thủ khi một tranh chấp phát sinh. Nói cách khác, không có thoả thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Điều 2 Khoản 2 Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định : “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại”. Thỏa thuận trọng tài là một hình thức pháp lý, trong đó các bên thể hiện ý chí của mình về việc sẽ đưa tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh từ quan hệ kinh tế mà các bên là chủ thể đến một trọng tài kinh tế nhất định để giải quyết. Trong trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài, thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nó là nội dung đầu tiên trong trình tự thủ tục trọng tài. Điều đó có ý nghĩa là tố tụng trọng tài chỉ được hình thành trên cơ sở một thỏa thuận trọng tài của các bên tranh chấp. Có thể nói rằng, các bên đương sự có toàn quyền quyết định thỏa thuận của mình và khi các bên đi đến thỏa thuận có nghĩa là các bên đã đặt nền móng, tạo cơ sở cho thực hiện một quá trình trọng tài. Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 bảo đảm gần như tối đa quyền thỏa thuận của các bên tranh chấp theo nguyên tắc “nếu các bên không thỏa thuận thì pháp luật mới quy định”. Đây là nguyên tắc chủ đạo chi phối gần như toàn bộ nội dung của các điều khoản trong pháp lệnh. Theo nguyên tắc này, thì các bên đương sự có quyền tự do lựa hình thức tổ chức trọng tài (vụ việc hay quy chế) (điều 19), chọn quy tắc tố tụng trọng tài, địa điểm trọng tài (điều 23). Hơn thế nữa, đối với các vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên còn có quyền thỏa thuận chọn tố tụng trọng tài của một tổ chức trong nước hoặc quốc tế mà cụ thể là có thể chọn trọng tài viên là người nước ngoài, luật áp dụng nước ngoài, địa điểm xét xử ở nước ngoài, tiếng nước ngoài dùng trong tố tụng. Pháp lệnh Trọng tài không chỉ khẳng định thỏa thuận trọng tài như là một nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (Khoản 1 Điều 3) mà đã quy định rõ ràng những nội dung về hình thức và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. b. Hình thức của thỏa thuận trọng tài : Pháp lệnh Trọng tài thương mại cũng quy định: “Thoả thuận trọng tài phải được lập bằng văn bản. Thoả thuận trọng tài thông qua thư, điện báo, telex, fax, thư điện tử con nuôi, giám hộ, thừa kế, tranh chấp hành chính. Và tại điều 65, Luật Trung Quốc tiếp tục quy định một cách khái quát các lĩnh vực phát sinh từ các hoạt động kinh tế, buôn bán, vận tải và hàng hải có thể đưa ra giải quyết tại trọng tài. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 31
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản hoặc hình thức văn bản khác thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài được coi là thoả thuận trọng tài bằng văn bản” (Điều 9) và “Thoả thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận riêng”. c. Hiệu lực của thoả thuận trọng tài: Pháp lệnh ghi nhận tại điều 10 những trường hợp thỏa thuận trọng tài bị coi là vô hiệu sau đây: 1. Tranh chấp phát sinh không phải là tranh chấp trong hoạt động thương mại; 2. Người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật; 3. Một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; 4. Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thoả thuận bổ sung; 5. Thoả thuận trọng tài không được lập theo quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh; 6. Bên ký kết thoả thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu; thời hiệu yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu là sáu tháng, kể từ ngày ký kết thoả thuận trọng tài, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp đầu tiên giải quyết vụ tranh chấp quy định tại Điều 30 của Pháp lệnh. Pháp lệnh Trọng tài còn khẳng định nguyên tắc toà án phải từ chối nhận đơn kiện trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ (Điều 5 Pháp lệnh Trọng tài). Đây là một quy định có ý nghĩa quan trọng trọng việc xác định rõ ràng thẩm quyền của toà án và trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp. d. Mối quan hệ giữa điều khoản trọng tài với hợp đồng : Giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa điều khoản trọng tài và hợp đồng, các quy định về trọng tài trước đây ở Việt Nam đều không đề cập đến. Luật về Trọng tài của nhiều nước trên thế giới đều xác định mối quan hệ giữa điều khoản trọng tài với hợp đồng là “hợp đồng trong hợp đồng”. Điều khoản trọng tài có ý nghĩa đặc biệt hơn so với các điều khoản khác : điều khoản trọng tài sẽ không bị tự động vô hiệu ngay cả khi hợp đồng chính vô hiệu. Việc cho phép một chế định độc lập như vậy chính là tạo điều kiện cho trọng tài xem xét tính hiệu lực của hợp đồng bởi khi đã có một điều khoản trọng tài thì chỉ có hội đồng trọng tài mới có thẩm quyền xem xét tính hiệu lực của hợp đồng. Cùng với trên quan điểm này Điều 11 Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định “Điều khoản độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản trọng tài”. Như vậy, việc xét xử vụ kiện vẫn được tiến hành kể cả khi một trong các bên tranh chấp cho rằng hợp đồng chính vô hiệu. Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 32
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản V. TRÌNH TỰ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI 1. Khởi kiện và lập hội đồng trọng tài Theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại thì hiện nay nước ta công nhận cả hai loại hình trọng tài là trọng tài thường trực và trọng tài Ad-hoc. Trọng tài thường trực là trọng tài được tổ chức dưới sự bảo trợ của một cơ quan trọng tài bằng việc cung cấp trọng tài viên, các bên đưa tranh chấp đến cơ quan trọng tài đó giải quyết. Trong khi đó, trọng tài Ad-hoc là trọng tài được các bên thỏa thuận lập ra để giải quyết một vụ tranh chấp nhất định nào đó và sau khi giải quyết xong, tổ chức này bị giải tán. Điều 19 Pháp lệnh trọng tài thương mại quy định: “Các bên có quyền lựa chọn Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài do các bên thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo quy định về tố tụng trọng tài của Pháp lệnh này”. * Khởi kiện và lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài : - Khởi kiện Để giải quyết vụ tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi Trung tâm Trọng tài. Đơn kiện gửi Trung tâm Trọng tài gồm có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Ngày, tháng, năm viết đơn; b) Tên và địa chỉ của các bên; c) Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp; d) Các yêu cầu của nguyên đơn; đ) Trị giá tài sản mà nguyên đơn yêu cầu; e) Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài mà nguyên đơn chọn. Kèm theo đơn kiện, nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài, bản chính hoặc bản sao các tài liệu, chứng cứ. Bản sao phải có chứng thực hợp lệ. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu do nguyên đơn gởi cho trung tâm trọng tài. Thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài đối với vụ tranh chấp mà pháp luật có quy định thời hiệu khởi kiện thì thực hiện theo quy định đó của pháp luật còn đối với vụ tranh chấp mà pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm, kể từ ngày xảy ra tranh chấp, trừ trường hợp bất khả kháng. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày xảy ra sự kiện cho đến khi không còn sự kiện bất khả kháng. Nguyên đơn phải nộp tạm ứng phí trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Bên thua kiện phải chịu phí trọng tài8, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. 8 Về phí trọng tài, Điều 25 Pháp lệnh Trọng tài quy định : “Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài thì Ban điều hành Trung tâm Trọng tài ấn định phí trọng tài theo Điều lệ của Trung tâm. Trong trường hợp giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập thì phí trọng tài do Hội đồng Trọng tài ấn định.” Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 33
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản Bị đơn khi bị khởi kiện có quyền có những ý kiến phản bác toàn bộ hoặc một phần đơn kiện. Cũng có thể bị đơn cho rằng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp thì khi đó bị đơn có quyền có nêu ý kiến trong một văn bản gởi cho trọng tài. Văn bản này được gọi là bản tự bảo vệ. Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm Trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài bản tự bảo vệ. Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ; b) Tên và địa chỉ của bị đơn; c) Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đó bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài nội dung quy định tại điểm này, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài, không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ. Bị đơn có thể yêu cầu gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ dài hơn ba mươi ngày, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp - Lập hội đồng trọng tài : Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do Trung tâm Trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài và báo cho Trung tâm Trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho mình. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho bị đơn. Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu chọn Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho các bị đơn. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định, các Trọng tài viên này phải chọn Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn này, hai Trọng tài viên được chọn hoặc được chỉ định không chọn được Trọng tài viên thứ ba thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 34
- Giáo trình Luật thương mại 3- Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh và luật phá sản chỉ định Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất của Trung tâm Trọng tài giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên thì theo yêu cầu của một bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên. Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng Trọng tài. Quyết định của Trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng Trọng tài Khởi kiện và lập hội đồng trong tài trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng hội đồng trọng tài do các bên tự thành lập: - Khởi kiện : Để giải quyết vụ tranh chấp tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn; nội dung đơn kiện như quy định đối với giải quyết tranh chấp bằng trung tâm trọng tài. Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập, nếu không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo có liên quan, bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tên Trọng tài viên mà mình chọn. Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung như trong trường hợp giải quyết tranh chấp bằng trung tâm trọng tài. Bị đơn cũng có thể yêu cầu gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ dài hơn ba mươi ngày, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp - Thành lập Hội đồng Trọng tài Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nguyên đơn gửi đơn kiện cho bị đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Toà án tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án cấp tỉnh) nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên. Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này, các bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án cấp tỉnh, nơi có trụ sở hoặc cư trú của một trong các bị đơn chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Chánh án Toà án giao cho một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên theo yêu cầu của nguyên đơn và thông báo cho các bên. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng viên được chọn hoặc được Toà án chỉ định, các Trọng tài viên này phải thống nhất chọn Trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn này, nếu hai Trọng tài viên được chọn hoặc được chỉ định không chọn được Trọng tài viên thứ ba, các bên có quyền yêu cầu Toà án Biên soạn : Thạc sĩ Dương Kim Thế Nguyên Trang 35



