Giáo trình Loài cá (Phần 1)

pdf 40 trang phuongnguyen 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Loài cá (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_loai_ca_phan_1.pdf

Nội dung text: Giáo trình Loài cá (Phần 1)

  1. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 1 ) Hệ bài tiết và sinh dục Cá xương 1. Hệ bài tiết Thận cá ở giai đoạn phôi là tiền thận, còn ở dạng trưởng thành là kiểu trung thận hình dải. Phần đầu rộng có chức năng của cơ quan sinh bạch huyết. Hai niệu quản đổ vào bóng đái thông với xoang niệu sinh dục. Cá nước ngọt, thận bài tiết nước tiểu loãng (NH3), còn cá biển thì bài tiết muối MgSO4 . 2. Hệ sinh dục Hầu hết cá xương phân tính. Thụ tinh ngoài, phát triển ngoài cơ thể mẹ. 2.1 Cơ quan sinh dục
  2. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Con đực có 2 dịch hoàn hình dải, màu trắng đục, phân thành các thuỳ con. Phần cuối tinh hoàn có ống dẫn tinh ngắn, 2 ống dẫn nhập làm một đổ vào xoang niệu sinh dục. Con cái có 2 buồng trứng màu trắng - vàng. Hai ống dẫn trứng ngắn nhập với nhau rồi đổ vào xoang niệu sinh dục hay vào huyệt hay đổ ra huyệt sinh dục riêng biệt. Hệ niệu sinh dục của cá có sai khác nhau đối với cá xương và cá phổi: Ở cá phổi, ống dẫn sinh dục do ống Volff và ống Muller biến đổi thành. Ở con cái ống Muller thành ống dẫn trứng, ở con đực, ống Volff thành ống dẫn tinh. Ở các xương ống dẫn sinh dục không liên quan gì đến ống Volff hay Muler, mà được hình thành mới, ống Volff làm nhiệm vụ dẫn niệu ở cả cá đực và cái. 2.2 Trứng Có 2 loại trứng là trứng nổi và trứng chìm. Trứng nổi có kích thước nhỏ hơn, có giọt mỡ lớn làm phao, trứng cìm có màng dính để trứng bám vào đá, cây thủy sinh hay gắn với nhau thành đám. - Mùa đẻ trứng ở cá xương khác nhau tùy loài, thường đẻ vào mùa xuân, hè, một số loài đẻ trứng vào mùa đông hay đẻ trứng quanh năm. - Sự sai khác đực cái (Dị hình chủng tính): Về kích thước và màu sắc. Thường thì cá cái lớn hơn và màu sắc ít sặc sỡ hơn so với cá đực. Hệ tuần hoàn Cá xương Tuần hoàn cá xương Hệ tuần hoàn cá xương gồm có tim, hệ động mạch và hệ tĩnh mạch. 1. Tim Có 3 phần là tâm thất, tâm nhĩ và xoang tĩnh mạch. Có bầu chủ động mạch nhưng cấu tạo đơn giản chỉ là phần phình rộng của động mạch, không có van và cơ nên không co bóp và không được xem là một bộ phận của tim.
  3. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - SV=1. Xoang tĩnh mạch; A=2. Tâm nhĩ; V=3. Tâm thất; CA=4. Nón động mạch; 2. Hệ mạch - Động mạch bụng dẫn máu tĩnh mạch từ tâm thất về phía trước, chia thành 4 động mạch tới mang. Máu sau khi được trao đổi khí ở mang theo 4 động mạch rời mang, tới mỗi bên tập trung vào rễ chủ động mạch. Đi về phía sau 2 rễ chủ động mạch nhập thành động mạch lưng phân nhánh tới nội quan. Đi về phía trước nối với nhau thành động mạch đầu. Từ vòng đầu có động mạch cảnh trong và ngoài.
  4. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Hệ tĩnh mạch: Máu ở phần đuôi tập trung thành tĩnh mạch đuôi, sau đó phân thành 2 nhánh: Một nhánh đổ vào tĩnh mạch dưới ruột, một nhánh đổ vào tĩnh mạch thận, qua thận vào tĩnh mạch chính sau. Ở cá xương các mạch máu bên trái làm thành gánh thận, còn ở bên phải, tĩnh mạch chính sau không phân mao quản, hình thành hệ gánh thận rồi đi tới ống Cuvie. Tĩnh mạch cảnh trên đưa máu từ phần đầu tập trung vào tĩnh mạch chính sau, đổ vào ống Cuvie. Tĩnh mạch cảnh dưới mang máu phần bụng của mang hợp với tĩnh mạch gan rổi đổ vào ống Cuvie. Máu từ ống Cuvie mỗi bên đổ vào đi vào xoang tĩnh mạch rồi sang tâm nhĩ, sang tâm thất. Máu lại vào vòng tuần hoàn tiếp theo. Tuần hoàn cá phổi Ở cá phổi, ngoài mang ra còn có phổi, thông với mặt bụng của thực quản, có vách bên trong ngăn thành tổ ong. Cá phổi không có bóng hơi mà có lỗ mũi trong (lỗ khoan). Hệ tuần hoàn cá phổi có các đặc điểm sau: - Tâm nhĩ có vách ngăn không hoàn toàn, chia thành 2 nửa trái phải và có nón chủ động mạch, có van dọc chia thành 2 phần.
  5. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Có đôi động mạch phổi xuất phát từ đôi động mạch rời mang gần tim và đôi tĩnh mạch phổi đi từ phổi, đưa máu từ phổi về nửa trái tâm nhĩ. Khi mang hoạt động, động mạch phổi cũng mang máu động mạch có ôxy, khi mang không hoạt động thì động mạch phôi mang máu có khí cacbonic từ tim đến phổi. - Ngoài tĩnh mạch chính sau, ở cá phôi còn có tĩnh mạch chủ sau, nhận máu của tĩnh mạch thận. Như vậy hệ tĩnh mạch cá phổi có vị trí trung gian giữa tuần hoàn của động vật Có xương sống ở nước và ở cạn. Hệ hô hấp Cá xương 1. Mang - Cấu tạo cơ bản một mang gồm cung mang bằng chất sụn hay xương, khe mang và lá mang. Khe mang do nội bì và ngoại bì hình thành, còn lá mang do ngoại bì. Số khe mang nhiều, ở cá sụn có 5 đôi, ở cá xương có 4 đôi mang đủ và 1 đôi mang giả. Lá mang do vô số sợi mang hợp thành, tạo nên một diện tích rất lớn. Ví dụ 1 con cá diếc nặng 10 gam, diện tích sợi mang lên đến 1596cm2. Khoang mang có nắp mang che phủ bên ngoài. - Hoạt động hô hấp của cá xương như sau: Cá thở được là nhờ cử động của xương nắp mang. Khi cá nâng nắp mang, màng da mỏng ở cạnh sau nắp mang, dưới tác động của áp suất dòng nước đã bám vào khe mang, làm cho áp suất trong trong khoang mang giảm, nước qua khoang miệng hầu vào xoang bao mang. Khi nắp mang hạ xuống, miệng cá đóng chặt, áp suất trong xoang mang tăng và nước thoát ra phía sau qua khe mang. Chính sự thay đổi áp lực sau mỗi lần nâng - hạ nắp mang và đóng - mở miệng cá mà cá có thể hô hấp. Ở cá xương, mang được thông khí liên tục bởi một dòng nước liên tiếp đi vào miệng, thông qua khe ở hầu, thổi qua mang và sau đó thoát ra ở phía sau của nắp mang. Vì nước có ít oxy trên một đơn vị thể tích hơn không khí nên cá phải dành một số năng lượng nhất định cho sự thông khí ở mang. Sự sắp xếp các mao mạch trong mang cá cũng tăng cường sự trao đổi khí. Máu chảy theo hướng ngược với hướng nước chảy qua mang. Phương thức này làm cho oxy được chuyển vào máu bởi một quá trình rất hiệu quả gọi là sự trao đổi ngược dòng.
  6. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Khi máu chảy ngang qua mao mạch, nó càng lúc càng tải nhiều oxy do nước có oxy hòa tan liên tục chảy qua mang. Ðiều này có nghĩa là dọc theo toàn bộ chiều dài của mao mạch có một gradient khuếch tán phù hợp cho sự chuyên chở oxy từ nước vào máu. Cơ chế trao đổi ngược dòng này có hiệu quả đến mức mang có thể lấy hơn 80% oxy hòa tan trong nước đi ngang qua bề mặt hô hấp. 2. Cơ quan hô hấp phụ Cá xương có các cơ quan hô hấp phụ sau: - Hô hấp qua da do lớp biểu bì và lớp bì có nhiều mạch máu. Ví dụ như lươn, chạch, cá thóc lóc (Periophthalmus) - Hô hấp qua ruột do thành ruột mỏng có nhiều mạch máu. Ví dụ cá đòng đong (Puntius)
  7. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Hô hấp qua cơ quan trên khoang mang mang (hoa khế) có nhiều mao quản, hấp thụ ôxy không khí, do cung mang thứ 5 biến đổi thành. Ví dụ cá rô (Clarias), cá chuối (Ophiocephalus), cá trèo đồi (Channa) có hoa khế - Hô hấp bằng phổi (cá phổi cá nhiểu vây ) hay túi khí kéo dài tận đuôi. - Bóng hơi của cá xương được hình thành từ đôi túi phổi của cá xương nguyên thủy từ kỷ Đêvon. Đó là túi màng mỏng thắt khúc chia thành khoang lớn (phía trước) và khoang nhỏ (phía sau). Chứa ôxy, nitrogen và khí cacbonic, mặt trong có nhiều mạch máu hình thành các đám rối mao quản. Có các chức năng là tham gia hô hấp và thăng bằng Bóng hơi có ống nối với thực quản, cá nổi lên nuốt khí vào bóng hơi. Khí được hình thành trong máu và được tiết vào bóng hơi ở một vùng chuyên biệt được gọi là tuyến khí. Tuyến khí nhả khí vào bóng hơi và vùng hấp thụ thì hút khí ra khỏi bóng hơi.
  8. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 2 ) Hệ tiêu hoá Cá xương - Cá xương có khoang trước miệng rất phát triển, liên quan đến việc lấy thức ăn và hô hấp. Khoang miệng - hầu của nhóm động vật này có răng, lưỡi và các chồi vị giác trên khoang miệng. Răng không có chân răng, chỉ dính vào hàm nhờ dây chằng. Một số loài cá răng còn mọc trên xương lá mía, xương khẩu cái, xương hầu (ví dụ họ cá chép, không có răng hàm mà chỉ có răng hầu do cung mang thứ 5 biến đổi thành). Lưỡi cá kém phát triển, không cử động được. Một loài ăn thực vật và động vật phù du có lược mang để lọc thức ăn. - Hầu thủng mỗi bên 5 khe mang. - Cá xương có thực quản ngắn, có tiêm mao ở mặt trong giúp cho việc vận chuyển thức ăn xuống dạ dày, thành thực quản có tuyến nhày tiết men tiêu hóa (men pepsin). - Cá có dạ dày chưa phân hóa, cá ăn thịt dạ dày phát triển. - Độ dài ruột có thể dài hay ngắn tuỳ theo loại thức ăn, không có van xoắn như cá sụn. Nhóm ăn thực vật và mùn bã thì ruột rất dài, còn nhóm ăn động vật thì ngắn hơn. -Tuyến tiêu hoá có gan lớn, chia thành 3 thùy, có túi mật, lá lách (tì) khá lớn. - Có tuyến tụy nằm sau dạ dày, màu trắng, dạng lá.
  9. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Giác quan Cá xương 1. Cơ quan đường bên Cơ quan đường bên ở cá xương rất phát triển, gồm một hay vài ống nằm dưới da bên thân đi tới phần đuôi làm thành một mạng lưới phức tạp ở đầu. Dọc ống có nhiều nhánh nhỏ xuyên qua các vảy đường bên. Đường bên có các chồi gồm nhiều tế bào cảm giác, tiếp nhận kích thích của dòng nước và vật cản giúp cho cá di chuyển (có thể tiếp nhận kích thích với dao động có tần số khoảng 5 - 15 hec). Ngoài ra còn cảm nhận sự thay đổi nhiệt độ của nước trong giới hạn từ 25 - 300C. 2. Cơ quan vị giác Cơ quan vị giác là các chồi vị giác có nhiều ở khoang miệng và nằm dọc thân, đặc biệt ở cá ăn đáy thì có nhiều ở mặt bụng. 3. Cơ quan khứu giác Cơ quan khứu giác có vai trò quan trọng, gồm 2 túi khứu giác có nhiều nếp màng mỏng làm tăng diện tích cảm giác, thông ra ngoài bằng lỗ mũi. Một số nhóm cá như cá phổi, cá vây tay có lỗ mũi trong thông với miệng giống như các loài động vật có xương sống ở cạn. 4. Cơ quan thính giác
  10. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Cơ quan thính giác gồm có tai trong, trung gian mê lộ màng và mê lộ và mê lộ xương có xoang chứa dịch, phía dưới có túi tròn (sacculus) và mấu ốc tai (cochlea). Âm thanh được truyền trực tiếp qua mô. Tần số âm thanh từ 16 - 13.000 hec được tiếp nhận bởi túi tròn và ốc tai. Phần trên của mê lộ có 3 ống bán khuyên gắn với nhau ở gốc làm thành túi bầu dục (utriculus). Trong túi tròn và bầu dục đều có đá tai, có dây chằng nối với biểu mô cảm giác. Khi cá mất thăng bằng, đá tay thay đổi vị trí làm cho dây chằng co giãn và kích thích tế bào cảm giác, gây ra cử động phản xạ giúp cho cá lấy lại thăng bằng. 5. Cơ quan thị giác Mắt cá xương có cấu tạo đặc trưng, thích nghi với việc nhìn trong nước. Thuỷ tinh thể hình cầu, màng kính gần phẳng, nên cá có thể nhìn gần. Màng cứng gồm chất sụn, trong khoang nhỡn cầu có lưỡi hái giúp điều tiết thuỷ tinh thể. Màng bạc ở ngay ngoài màng mạch, có nhiều thuỷ tinh thể nhỏ. Mắt có 6 cơ bám, giúp mắt cử động theo mọi hướng, không có mí mắt. Hệ thần kinh Cá xương 1. Não bộ Từ não bộ nguyên thuỷ, não bộ cá xương phát triển theo 2 hướng: - Não bộ cá vây tia (cá láng sụn, cá láng xương và cá xương): Não trước không lớn, không phân thành 2 bán cầu, nóc não còn màng bao phủ, không có chất thần kinh. Não trung gian phát triển, não giữa có thuỳ thị giác lớn, tiểu não phát triển thành thuỳ nằm trên hố trám. Hành tuỷ phát triển.
  11. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Não bộ cá phổi, cá vây tay có đời sống đáy: Não trước phát triển, bán cầu não lớn, phân chia rõ ràng. Não giữa và tiểu não phát triển yếu. 2. Tuỷ sống Cá xương có rãnh giữa lưng, chưa có rãnh giữa bụng, có 10 đôi dây thần kinh não và nhiều dây thần kinh tuỷ sống. Các dây thần kinh hợp lại với nhau gần tủy sống, chui khỏi cột sống thì phân thành 3 nhánh: Nhánh lưng đi tới cơ và da ở phần lưng cơ thể, nhánh bụng đi tới cơ và da ở bụng của cơ thể và nhánh nội tạng (thuộc hệ thần kinh giao cảm) đi tới ống tiêu hóa, mạch máu và cơ quan khác. 3. Thần kinh thực vật Cá xương và động vật trên cạn thần kinh thực vật phát triển. Nhánh của dây thần kinh phế vị (dây X) có vai trò quan trọng trong việc điều hòa những nhu động của dạ dày, ruột, tim và hệ mạch. Hệ cơ và sự vận chuyển lớp Cá xương 1. Hệ cơ Vẫn còn tính chất phân đốt, cơ chi kém phát triển. Cơ thân và cơ đuôi giữ vai trò chủ yếu khi cá vận động. Các đốt cơ sắp xếp theo hình chữ chi, các cơ liên quan đến hoạt động của vây lại nằm trong thân. Mỗi đốt cơ có đỉnh hình chóp hướng về phía trước và lồng vào nhau, sắp xếp lệch nhau là tăng hiệu quả vận động.
  12. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 2. Sự vận chuyển Hình thức vận động chủ yếu của cá là bơi. Vây đuôi làm nhiệm vụ đẩy cá về phía trước hay làm yếu tốc độ dòng nước ngược. Các loài cá bơi giỏi thường có thân hình thoi, dẹp bên và cử động uốn thân theo mặt phẳng ngang. Cá chình vận chuyển như lượn sóng như rắn, lực đẩy gồm 2 thành phần là lực đảy để khắc phục sức cản của dòng nước và lực bên kéo đầu cá lệch đi khỏi hướng. Do vậy khi bơi, đầu cá chình thường lúc lắc. Cá hồi bơi nhanh nhưng thân kém mềm mại, toàn bộ lực đẩy phát sinh từ lực của vây đuôi.
  13. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Tỷ trong của nước thường gần bằng tỷ trong của cá, nên khi bơi cá tốn ít năng lượng để khắc phục lực đẩy của nước. Cá hồi (Salmo) khi bơi 1km cần 0,39 kcalo, trong khi đó mòng biển bay 1km cần 1,45 kcalo, còn sóc đất chay 1km cần tới 5,43 kcalo. Cá có thể hạn chế sức cản của dòng nước bằng cách sử dụng tuyến nhờn trên vỏ da, chất nhờn làm giảm khoảng 66% lực ma sát. Tốc độ bơi khác nhau ở các loài: Cá hồi đạt 5m/giây, cá ngừ đạt 6m/giây, cá chuồn đạt 18m/giây và cá đao tới 25m/giây.
  14. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 3 ) Bộ xương lớp Cá xương 1. Xương sọ Gồm 2 phần là sọ não và sọ tạng phát triển đầy đủ. 1.1 Sọ não Gồm các xương gốc sụn đã hoá xương, số xương của sọ não rất nhiều: - Các xương gốc sụn vùng mũi có 1 xương sàng giữa, 2 xương sàng bên. Vùng mắt có xương gốc bướm, xương cánh bướm, xương ổ mắt bướm. Vùng tai có xương cánh tai, xương bướm tai, xương trên tai và xương sau tai. Vùng chẩm có xương gốc chẩm, 2 xương bên chẩm và 1 xương trên chẩm. - Các xương sọ gốc bì gồm: Ở nóc sọ có xương mũi, xương trán và xương đỉnh. Bên sọ có xương ổ mắt, xương thái dương. Ở đáy sọ có xương lá mía và xương bên bướm. Các xương này làm thành trục nền sọ. 1.2 Sọ tạng Gồm cung hàm, cung móng và cung mang. - Cung hàm: Ở hàm trên, sụn khẩu cái vuông làm thành hàm sơ cấp, gồm 2 xương khảu cái, 2 xương vuông nối với nhau bởi 3 xương cánh. Có thêm hàm thứ cấp gồm 2 xương trước hàm và 2 xương hàm trên. Các xương này là xương bì. - Cung móng gồm sụn móng hàm và sụn móng đã hoá xương. - Cung mang: Có 5 đôi nhưng đôi thứ 5 tiêu giảm. Có 4 xương nắp mang, nối với xương móng hàm, là xương bì. Kiểu gắn sọ chủ yếu là hyostin (có phần cung móng khớp động với hộp sọ. một số loài có kiểu amphistin (sọ khớp động một phần với cung hàm và một phần với móng hàm) 2. Cột sống
  15. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Ở cá khime và cá phổi, chỉ là một dây sống có phủ mô liên kết, thân đốt sống chưa hình thành. - Các nhóm cá còn lại có đốt sống rõ ràng, thân đốt lõm 2 mặt, cung trên hình thành ống tuỷ, cung dưới mang xương sườn và hình thành ống huyết ở phần đuôi. Xương sườn gắn vào các đốt sống phần thân, ngoài ra còn có các xương dăm là các que xương nằm rải rác ở phần thân 3. Xương chi Đai vai và đai hông không khớp với cột sống mà nằm tự do trong cơ. Vây lưng, vây hậu môn trong nhiều trường hợp làm nhiệm vụ bánh lái, thăng bằng, vây ngực, vây bụng giúp cá lặn sâu, lượn sang bên trái, phải. 4. Vây đuôi Có 3 kiểu : - Vây đồng vĩ (homoxec) 2 thuỳ bằng nhau, cột sống đi hơi lệch về một thùy. - Vây dị vĩ (heteroxec) có 2 thuỳ không bằng nhau, cột sống đi vào thuỳ lớn. - Vây thứ vĩ (diphyxec) có thuỳ đối xứng mang tính chất thứ sinh (thường thấy ở cá vây tay, cá phổi). Ba kiểu đuôi này đều phát sinh từ kiểu đuôi nguyên vĩ (protoxec) của cá miệng tròn. Hình dạng, vỏ da Lớp Cá xương 1. Hình dạng Hình dạng rất sai khác, tuy nhiên phổ biến là hình thoi, dẹp bên. Nhiều loài cá sống ở biển sâu có hình dạng rất kỳ dị. Ở phần mang có xương nắp mang. Đuôi kiểu đồng và dị vĩ hay biến đổi của chúng. 2. Vỏ da Da cá xương nói chung mỏng hơn da cá sụn, có 2 lớp là biểu bì và bì.
  16. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 2.1 Biểu bì Biểu bì không có tầng sứng mà chỉ có 1 lớp cuticun mỏng ở ngoài, có nhiều tuyến đơn bào tiết chất nhày (tuyến nhờn nhỏ hình cốc và tuyến nhờn lớn hình chùy). Một số loài có tuyến phát sáng và tuyến độc. Tuyến phát sáng gặp ở cá sống rất sâu ở biển, tuyến tập trung ở hai bên cơ quan đường bên hay ở đầu, thân. Tuyến độc thường thấy ở gốc tia vây, vây ngực Bì là mô liên kết có nhiều sợi: Sợi đàn hồi, sợi cơ trơn và nhiều mạch máu. Trong bì có các tế bào sắc tố tạo cho cá có nhiều màu sắc khác nhau như xanh, đỏ, vàng, ánh bạc Sản phẩm của lớp bì là vảy cá. Có 3 loại vảy cá: - Vảy cosmin chỉ có ở một số loài cá, gồm nhiều tế bào xương có chứa chất cosmin và isopedin, ngoài cùng có chất men cứng. Có thể cho rằng vảy cosmin là do các vảy tấm của cá sụn gắn lại. - Vảy láng phổ biến ở các loài cá vây tia cổ, có hình trám, trong là chất isopedin, ngoài có lớp men đặc biệt bằng chất ganoin bóng láng. - Vảy xương phổ biến ở các loài cá xương hiện đại, riêng lẻ, xếp chống lên nhau như mái ngói. Ngoài cùng là tầng ganoin mỏng, trong là tầng sợi đồng tâm và phóng xạ xen kẽ nhau, thấm canxi. Khi cá tăng trưởng về kích thước thì vảy cũng lớn dần lên thành vòng năm. Về hình dạng vảy xương chia là 2 loại: + Vảy tròn có bờ ngoài nhẵn, thường thấy ở cá trích, chép
  17. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - + Vảy lược có bờ ngoài có nhiều răng cưa nhỏ, thường thấy ở các cá xương tiến hoá như cá bơn, cá vược . Đặc điểm chung Lớp Cá xương - Bộ xương chủ yếu là chất xương. Cột sống nhiều đốt. Dây sống tồn tại ở một số loài. Đuôi phổ biến là kiểu đồng vĩ (có 2 thuỳ bằng nhau, cốt đi vào giữa đuôi). Vây lẻ và vây chắn có tia vây bằng sụn hay xương nâng đỡ. - Da có vảy bao phủ, nhiều tuyến nhày. Có 3 loại vảy là vảy cosmin, vảy láng và vảy xương. Vảy xương có thể hình trò hay hình lược. Một số không có vảy thứ sinh - Bác cầu não và thuỳ khứu kém phát triển, thuỳ thị giác lớn, tiểu não phát triển. Có 10 đôi dây thần kinh não. - Giác quan phát triển thích nghi với đời sống dưới nước: Cơ quan khứu giác thông với khoang miệng - hầu, thính giác có đủ 3 ống bán khuyên, mắt thích hợp nhìn trong nước. - Có hàm phát triển, phần lớn các loài có răng. - Cơ quan hô hấp chủ yếu là mang, mang được các cung mang nâng đỡ, vách mang không phát triển, có nắp mang phủ ngoài xoang mang. thường có bóng hơi. - Tim có 2 ngăn, có xoang tĩnh mạch và có 4 đôi cung động mạch tới mang. Hồng cầu có nhân.
  18. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Phân tính và thụ tinh ngoài, nguồn gốc của ống dẫn sinh dục là phần kéo dài của mang bao cơ quan sinh dục. Trứng đoạn hoàng. Ấu trùng có sự sai khác hình dạng với trưởng thành. Nguồn gốc và tiến hoá của cá sụn 1. Sự hình thành cá móng treo Vào cuối Silua, khi nhóm cá Không hàm bắt đầu suy thoái thì nhóm cá Có hàm bắt đầu phát triển. Theo dẫn liệu Cổ sinh học, có thể xem cá như là một tổng lớp gồm có 3 lớp là lớp cá móng treo (đã hoá thạch), lớp cá sụn và lớp cá xương. Tất cả cá Có hàm đều có thể bắt nguồn từ một hay nhiều nguồn gốc, tuy nhiên tổ tiên trực tiếp của cá Có hàm còn chưa được biết. Di tích cổ xưa nhất của cá xuất hiện từ kỷ Silua là những động vật có hình dạng thay đổi, thân phủ giáp xương, họp thành lớp cá Móng treo (Aphetohyoidea). Trong nhóm này có cá da tấm (Placodermi) được xem là cá có hàm cổ nhất. Sự hình thành hàm là một bước phát triển tiến hoá quan trọng nhất, hàm được hình thành từ 2 cung mang đầu tiên. Cá móng treo có bộ xương trong bằng sụn, giáp xương ngoài gồm 2 phần: Giáp đầu và giáp ngực khớp với nhau. Xương hàm có cạnh sắc và nhiều răng lớn. Một số dạng chi trước và có khi cả chi sau cũng phủ tấm xương. Chúng sống ở đáy, đây là nhóm cá cổ chuyên hoá, bị tuyệt chủng ở kỷ Đêvon, chỉ còn một số tồn tại đến kỷ Thạch thán. Cá gai cổ (Acanthodii) thuộc cá móng treo là nhóm đáng lưu ý. Đây là nhóm cá có kích thước nhỏ, hình thoi, phủ giáp gồm nhiều vảy vuông nhỏ. Vây gốc rộng và có gai lớn ở phía trước. Tuy thuộc cá móng treo nhưng cá gai cổ cũng những nét của cá xương như vảy giống với vảy láng. Do đó có thể cá gai cổ là tổ tiên của cá sụn và cá xương. 2. Sự hình thành cá sụn (Chondrichthyes) Vào kỷ Đêvon, cá gai cổ phát sinh ra nhóm cá sụn cổ, đại diện là cá sụn cổ (Cladoselache). Những cá này có vảy tấm, bộ xương bằng sụn, răng kiểu cá nhám. - Sự hình thành cá nhám chính thức (Elasmobranchii): Cá nhám chính thức lần đầu tiên xuất hiện vào kỷ Thạch thán và chắc chắn bắt nguồn từ cá sụn nguyên thuỷ (Proselachii), chỉ sai khác là có vây chẵn. Tới kỷ
  19. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Silua mới phát sinh cá đuối, còn cá nhám chính thức phát triển mạnh ở kỷ Đêvon và Thạch thán, đến Pecmi thì suy tàn. Sau đó chúng lại phục hồi vào nguyên đại Trung sinh và phát triển đến ngày nay. - Sự hình thành cá khime: Cá khime chỉ tìm thấy hoá thạch ở kỷ Tam diệp, tuy nhiên có thể chúng quan hệ họ hàng với cá nhám từ xa xưa và có thể là một nhánh của cá sụn. Sự phong phú của cá sụn bên cạnh cá xương được giải thích là do chúng có những đặc điểm thích nghi đảm bảo cho tỷ lệ sống của phôi cao: Thụ tinh trong, trứng giàu noãn hoàng, có vỏ dai Thêm vào đó có não bộ và giác quan tương đối phát triển như nóc não có chất thần kinh.
  20. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 4 ) Cơ quan niệu sinh dục Lớp Cá sụn 1. Cơ quan bài tiết Trung thận dài, dẹp, màu đỏ thẫm nằm sát hai bên xương sống. Trung thận là biến đổi của tiền thận ở giai đoạn phôi thai. Niệu quản là ống Vonphơ (Volff) đổ vào xoang niệu sinh dục. 2. Cơ quan sinh dục - Con đực có một đôi tinh hoàn, đôi tinh quản (tương ứng với ống Vonphơ) thông với xoang niệu sinh dục. Phần trên của tinh quản có uốn khúc, tương ứng với phó tinh quản, phía dưới tinh quản phình rộng thành túi tinh. Con đực có 2 gai giao cấu nằm ở mặt trong của vây bụng. - Con cái có một đôi buồng trứng, một đôi ống dẫn trứng (tương ứng với ống Muller). Phía trước có phễu thông với thể xoang, phía dưới phình ra hình thành tuyến vỏ tiết chất vỏ trứng. Phần cuối phình rộng hình thành tử cung, thông với huyệt. Trứng chín rơi vào xoang bụng rồi vào phễu của ống dẫn trứng. Số lượng trứng ít hơn so với cá xương. Trứng được thụ tinh trước khi tới phần tuyến vỏ trứng và ống dẫn. Có các loài đẻ trứng, có 4 tua dài xoắn ở 4 góc. Có loài đẻ con: Một số đẻ con thực sự (thai sinh) thì trứng có vỏ rất mỏng và rất ít noãn hoàng, phôi phát triển trong ống dẫn trứng và được xem như một nhau thai nguyên thủy. Một số loài đẻ trứng thai có vỏ mỏng và nhiều noãn hoàng, phôi phát triển trong ống dẫn trứng hoàn toàn nhờ vào noãn hoàng. Cơ quan hô hấp Lớp Cá sụn Cơ quan của cá sụn là mang có nguồn gốc ngoại bì. Đó là các màng mỏng bám vào các vách ngăn của các cung mang. Những màng này có nhiều mạch máu từ các động mạch tới mang.
  21. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Một cung mang có 2 lá mang được gọi là mang đủ, còn một cung mang chỉ có 1 lá mang được gọi là mang nửa. Cá sụn có 4 mang đủ và 1 mang nửa. Nằm giữa 2 mang đủ là khe mang, thông với hầu bên trong và thông với bên ngoài. Bám vào cung mang còn có vách mang rộng, có tia sụn nâng đỡ. Nước qua miệng cá, qua hầu vào khe mang và ra ngoài mang theo ôxy hoà tan. Khi qua mang thì ôxy được hấp thụ và khí cacbonic được thải ra theo dòng nước ra ngoài Hệ tuần hoàn Lớp Cá sụn 1. Tim Gồm 4 phần là xoang tĩnh mạch, tâm nhĩ, tâm thất và côn chủ động mạch. Côn chủ động mạch có thể xem là một bộ phận của tâm thất vì có thành cơ vân, có van và có thể co bóp tự động. 2. Hệ động mạch Từ côn chủ động mạch có chủ động mạch bụng chia ra 2 nhánh trái và phải, có 5 động mạch tới mang. Máu qua mang nhả bớt khí cacbonic và nhận thên nhiều ôxy, hoá đỏ tươi. Trên mỗi khe mang có 2 nhánh động mạch rời mang, đổ vào một động mạch rời mang ngắn, đổ vào rễ chủ động mạch lưng ở mỗi bên. Về phía sau thân, 2 động mạch này một chủ động mạch lưng chạy tới đuôi, phân nhánh vào nội quan. Về phía trước, rễ chủ động mạch lưng hình thành động mạch cảnh, đưa máu lên đầu.
  22. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 3. Hệ tĩnh mạch - Từ tĩnh mạch đuôi chia thành 2 tĩnh mạch chính sau, chạy qua thận, phân thành các mao mạch, hình thành hệ gánh thận. Mỗi tĩnh mạch chính sau nhập với tĩnh mạch chính trước (tĩnh mạch cánh) cùng bên, vào ống Cuvie, ở mỗi bên ống Cuvie đổ vào xoang tĩnh mạch. - Từ ruột có tĩnh mạch ruột tới gan, phân mao mạch làm thành hệ gánh gan. Tĩnh mạch gan đổ vào xoang tĩnh mạch. - Từ vây chẵn cũng có tĩnh mạch bên cùng đổ vào ống Cuvie. - Hai tĩnh mạch cảnh dưới dẫn máu dưới đầu và tĩnh mạch dưới đòn dẫn máu từ chi trước, cũng đổ vào ống Cuvie ở mỗi bên. Cơ quan tiêu hoá Lớp Cá sụn 1. Ống tiêu hoá Bắt đầu là lỗ miệng, tiếp theo là xoang miệng. Bờ xoang miệng có nhiều dãy răng gắn lên hàm nhờ các dây chằng. Cá nhám, cá mập có răng hình dao găm tam giác rất sắc, có các hàng răng dự trữ để thay thế, răng có chức phận giữ mồi mà không thể nghiền mồi. Răng cá đuối dẹp khoẻ và có thể nghiền mồi. Đáy xoang miệng có lưỡi. Hầu thủng thành 5 đôi khe mang và lỗ thở. thực quản ngắn. Dạ dày gấp khúc hình chữ U hay chữ V, chia thành thượng vị và hạ vị. Ruột non ngắn, ruột giá có van xoắn là nếp gấp xoắn ốc, van xoắn phát triển ở cá thấp có tác dụng tăng bề mặt tiếp xúc và làm chậm sự di chuyển của thức ăn. Cuối cùng là ruột thẳng thông ra huyệt.
  23. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 2. Tuyến tiêu hoá - Gan mềm, có 2 thuỳ lớn chứa nhiều dầu. Có túi mật chứa mật, mật theo ống dẫn chảy vào ruột tá. - Tuỵ nằm ở chỗ giới hạn dạ dày và ruột. Lá lách là một khối nhỏ, dài, màu đỏ nằm cạnh dạ dày. Giác quan Lớp Cá sụn uan khứu giác là hốc mũi là túi khứu giác có cấu tạo sụn thông ra ngoài qua 2 lỗ mũi. Màng nhày hốc mũi có một lớp biểu bì tiêm mao, nhiều tế bào khứu giác.
  24. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Cơ quan vị giác là các chồi vị giác nằm rải rác trong khoang miệng, lưỡi và vòm miệng. - Cơ quan thị giác là 2 mắt có cấu tạo điển hình: Nhân mắt hình cầu, mí mắt không cử động được, hệ cơ mắt phát triển. Cá nhám có thêm mí thứ 3 ở góc trong phía dưới. - Cơ quan thính giác là 2 tai trong (mê lộ màng) gồm có túi tròn và túi bầu dục, có 3 ống bán khuyên. Ống nội dịch nối với túi tròn và ốc tai chưa phát triển. Tai trong thu nhận âm thanh và điều hoá thăng băng cơ thể. - Cơ quan đường bên là 2 hệ thống ống nằm ở hai bên đầu và thân, bên trong có các tế bào cảm giác tập trung thành đám. Các tế bào này rất nhạy cảm với những kích thích của dòng nước giúp cho cá định hướng khi bơi.
  25. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 5 ) Hệ thần kinh Lớp Cá sụn Hệ thần kinh của cá sụn phân hoá cao. Ống thần kinh gồm có não bộ và tuỷ sống. Hệ thần kinh ngoại biên gồm dây thần kinh não và dây thần kinh tuỷ sống. Hệ thần kinh thực vật gồm 2 nhóm là thần kinh giao cảm và thần kinh phó giao cảm. 1. Não bộ Phân hoá thành các phần. - Não trước: Tương đối lớn, có rãnh phân ra thành 2 bán cầu với đôi thuỳ khứu rất lớn. Nóc não có chất thần kinh. - Não trung gian: Đã hình thành mấu não trên, mặt dưới là phễu não: trước phễu não có đôi dây thần kinh thị giác (dây số II), phát ra và có bắt chéo, sau đó là đôi thuỳ dưới ở giữa và đôi thuỳ mạch ở phía sau. nằm phía sau phễu não là tuyến dưới não hay tuyến yên. - Não giữa cũng có nóc thần kinh và 2 thuỳ thị giác lớn - Tiểu não thường rất lớn, phủ cả phần sau não giữa và phần trước của hành tuỷ - Hành tuỷ là thuỳ nhỏ, có trung ương của cơ quan thăng bằng và các giác quan da. 2. Tuỷ sống
  26. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Không có ranh giới rõ rệt với hành tuỷ. Hình ống, có thiết diện tam giác tròn cạnh. Chất xám do tế bào thần kinh hình thành đã tập trung ở giữa khá rõ. 3. Hệ thần kinh ngoại biên - Dây thần kinh não: Cá sụn đã có 10 đôi dây thần kinh não: I. Khứu giác; II. Thị giác; III. Vận nhỡn; IV. Cảm động; V Sinh ba; VI. Vận nhỡn ngoài; VII. Mặt; VIII. Thính giác; IX. Lưỡi hầu; X. Phế vị). Như vậy cá sụn thiếu đôi XI là dây phụ và dây XII là dây dưới lưỡi. - Dây thần kinh tuỷ sống: Rễ lưng và bụng hợp lại với nhau gần tuỷ sống, sau khi chui ra khỏi cột sống thì chia làm 3 nhánh: nhánh lưng đi tới phần da và cơ của mặt lưng, nhánh bụng đi tới cơ và da của phần bụng, nhánh nội tạng (hay là nhánh giao cảm) đi tới ống tiêu hoá, mạch máu và cơ quan khác (hình 16.3). 4. Hệ thần kinh thực vật Gồm thần kinh giao cảm và phó giao cảm - Giao cảm chủ yếu gồm dây ly tâm (vận động) của nội tạng đi tới tủy sống. - Phó giao cảm cũng tương tự nhưng lại xuất phát từ não bộ. Hai nhóm này hoạt động đối kháng nhau, duy trì dịp nhàng và cân bằng. Các hạch thần kinh giao cảm ở 2 bên tuỷ sống nối liền với nhau thành 2 cột nhau giao cảm. Hệ thần kinh phó giao cảm có 3 đôi từ não giữa chạy tới hạch thần kinh bó, phân bố tới cơ và mống mắt, 3 nhánh khác của các dây số VIII, IX và X từ hành tuỷ chạy tới ruột, dạ dày, tim. Cá sụn có hệ thần kinh thực vật khá điển hình, có 2 cột hạch giao cảm. Bộ xương Cá sụn 1. Xương sọ - Sọ não: Gồm hộp sọ và các bao khứu giác, thính giác và thị giác gắn chặt vào sọ. Hộp sọ đã có nóc che gần kín, phía sau có phần chẩm (có lỗ chẩm) bảo vệ và là nơi chuyển tiếp giữa sọ và tuỷ sống. Phía trước bao thính giác là bộ xương mõm, gồm 3 que xương có đầu gắn với nhau làm thành một hình tháp. Bộ xương mõm là một cấu tạo đặc trưng của cá nhám.
  27. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Sọ tạng: Gồm cung hàm, cung móng và cung mang. + Cung hàm gồm 2 đôi sụn: Phía trên là sụn khẩu cái vuông, phía dưới là sụn mecken. Hai sụn này khớp với nhau. một số loài cá sụn khác có thêm 2 đôi sụn môi, đôi trên gắn với sụn khẩu cái vuông, đôi dưới gắn với sụn mecken. + Cung móng gồm 2 đôi sụn: Phía trên là sụn móng hàm, có chức năng treo hàm vào hộp sọ. Phía dưới là một sụn lẻ, nối các cung ở 2 bên. Phía sau sụn móng có nhiều tia sụn nâng đỡ mang. + Cung mang có 5 đôi, mỗi đôi cung có 4 đốt, phía dưới có sụn tiếp hợp. Cạnh sau cung mang cũng có nhiều tia sụn nâng đỡ mang. 2. Cột sống Gồm nhiều đốt sống, có phần thân và phần đuôi. Thân đốt sống lõm 2 mặt, trung tâm thân đốt có di tích dây sống. Phía trên thân đốt có cung thần kinh làm thành ống chứa tuỷ sống, phía dưới thân đốt có cung sụn. Ở phần đuôi, cung sụn khép lại thành cung huyết, giữa cung huyết có mạch máu đi qua. 3. Xương chi - Xương vây lẻ (vây lưng, vây đuôi, vây hậu môn) có từ 1 - 3 hàng tấm tia sụn cắm trong cơ và 1 hàng tia vây nâng đỡ màng da. - Xương vây chẵn (vây ngực và vây bụng gồm đai vai và xương chi tự do.
  28. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - + Phần đai vai gồm có xương bả ở trên, xương quạ ở dưới, chỗ giới hạn của 2 xương là nơi khớp của xương vây ngực. + Xương vây ngực gồm tấm gốc ở trong cùng, ăn khớp với đai vai, sau đó là 3 hàng tấm tia và 1 hàng tia vây. + Phần đai hông chỉ có 1 tấm sụn hông ở phía trước huyệt. + Xương vây bụng chỉ có 1 tấm gốc, hai hàng tấm tia và 1 hàng tia vây. Người ta gọi kiểu cấu tạo của xương vây chẵn này là kiểu vây một dãy. Hình dạng, vỏ da Cá sụn Hình dạng Lấy hình dạng cá Nhám tro làm ví dụ. Cá có hình dạng thuôn dài (khoảng 30cm), phía trước có mõm (rostrum) nhọn, miệng lớn nằm dưới mõm. Phía trướng miệng là 2 lỗ mũi, có van. Sau mũi là mắt, sau mắt là lỗ thở nhỏ thông với hầu. Sau lỗ thở là 5 dãy khe mang. Vây lẻ gồm có 2 vây lưng (trước và sau), một vây đuôi (gồm 2 thuỳ không đều nhau - kiểu vây dị vĩ). Vây chẵn có 2 vây ngực lớn và 2 vây bụng nhỏ, bờ trong vây bụng có gai giao cấu, giữa 2 vây bụng có lỗ huyệt (hình 16.1). Vỏ da Gồm biểu bì nhiều tầng, có nhiều tuyến đơn bào. Lớp bì rắn, có nhiều vảy tấm. Vảy tấm có chất đentin tương tự như chất xương, có lớp men phủ ngoài. Phía đầu vảy tấm có thể biến thành răng.
  29. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Đặc điểm chung Lớp Cá sụn Được coi là lớp cá nguyên thủy nhất của Tổng lớp cá, gồm các loài cá thường gặp như cá mập, cá đuối, cá khi me Lớp này hiện có 800 loài sống ở biển và đại dương, một số loài sống ở nước ngọt. Lớp này có nhiều đặc điểm nguyên thuỷ và cũng có những đặc điểm tiến bộ. Các đặc điểm chung là: - Hình dạng cơ thể phổ biến là hình thoi hai hình dẹp rộng hơi tròn, vây đuôi kiểu dị vĩ (heteroxec). Có gai giao cấu nằm phía trong vây bụng, do vậy có hiện tượng giao phối, thụ tinh trong. Đây là một đặc điểm tiến bộ. - Da cá sụn phủ vẩy tấm, là loại vảy nguyên thủy nhất. - Bộ xương sụn, phân hoá thành sọ, cột sống và xương chi. Sọ đã có nóc che, phía sau sọ có thêm phần chẩm bảo vệ. Các bao khứu giác, thính giác gắn chặt vào hộp sọ. - Hệ thần kinh phân hoá cao, não bọ chia thành 5 phần. Não trước đã phân thành 2 bán cầu và nóc não trước có chất thần kinh, là một đặc điểm tiến bộ của cá sụn. - Cơ quan cảm giác phát triển thích nghi với đời sống bơi và bắt mồi tích cực. Cơ quan đường bên hoàn chỉnh, thị giác điển hình, thính giác đã có 3 vành bán khuyên - Hệ tiêu hoá phát triển, ruột có van xoắn ốc để tăng diện tích hấp thụ. - Cơ quan hô hấp là mang, chưa có nắp mang, không có bong bóng hay phổi. - Hệ tuần hoàn kín, có 1 vòng tuần hoàn. Có tâm nhĩ và tâm thất và xoang tĩnh mạch và nón chủ động mạch. Ưu điểm của nón chủ động mạch là có cơ vân, có van nên co bóp được. - Cơ quan bài tiết là trung thận. - Cơ quan sinh dục có gai giao cấu, thụ tinh trong. Đẻ trứng lớn giàu noãn hoàng hay đẻ con.
  30. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 6 ) Nguồn gốc và tiến hoá của cá Miệng tròn Hoá thạch gần với cá miệng tròn còn chưa được biết. Tuy nhiên người ta đã tìm thấy một số hoá thạch có liên quan vào kỷ Silua và Đêvon, đặc biệt là hoá thạch của Cephalaspis và các loài gần nó. Đây là các động vật không lớn, cơ thể dẹp theo hướng lưng bụng, miệng ở mặt bụng, mắt ở mặt lưng. Như vậy chúng thuộc nhóm không hàm và chuyên hoá với đời sống ở đáy. Vào kỷ Cambri, động vật Có xương sống dạng cổ nhất đã phân hoá thành 2 nhóm là cá Không hàm và cá Có hàm. Tất cả các nhóm động vật Có xương sống tiếp theo đều bắt nguồn từ một trong 2 nhánh đó. Di tích hoá thạch của động vật Có xương sống cổ xưa nhất được tìm thấy ở địa tầng kỷ Ôđôvic, cách đây khoảng 500 triệu năm. Những con vật này có hình dạng giống cá, thân phủ giáp xương, không có hàm, không có vây chẵn, một lỗ mũi, tai có 2 vành bán khuyên, bộ xương tạng không phân đốt. các loài cá này hợp thành nhóm cá Có giáp (Ostracodermi). Tất cả cá Có giáp sống ở biển, hoạt động kém vì thiếu vây chẵn, chúng chỉ sống ở đáy, ăn lọc thông qua mang - hầu. Vào cuối Silua xuất hiện nhóm cá Có hàm và là thời kỳ suy thoái của cá Không hàm. Cuối kỷ Đêvon, cá Không hàm bị tuyệt chủng. Cá Miệng tròn có lẽ là một nhánh được tách ra từ nhóm cá Thiếu giáp (Anaspida) nào đó từ kỷ Silua, chuyển sang đời sống nửa ký sinh. Trong lớp cá Miệng tròn, phân lớp cá Bám có quan hệ thân thuộc với cá Thiếu giáp cổ, còn nguồn gốc của cá Mixin chưa rõ. Các nghiên cứu về giải phẫu, sinh lý, cách sống và chu trình sống của 2 phân lớp cá Miệng tròn có sai khác quan trọng, vì vậy người ta cho rằng cá Bám và cá Mixin phát sinh độc lập nhau. Sự đa dạng của cá Miệng tròn Lớp cá Miệng tròn là lớp duy nhất còn sót lại của nhóm cá Không hàm (Agnatha) đã phát triển khá mạnh ở kỷ Silua và Đêvon. Lớp cá Miệng tròn được chia thành 2 phân lớp là cá Bám (Petromyzones) và cá Mixin (Mixini). 1. Phân lớp cá Bám (Petromyzones)
  31. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Là nhóm nửa ký sinh nên còn giữ nhiều đặc điểm điển hình của lớp: Có 2 vây lưng, bộ xương tạng phát triển, mắt có thủy tinh thể, tai trong có 2 ống bán khuyên, ống hô hấp riêng biệt, ống mũi hầu bịt đáy, có 7 đôi túi mang, thông trực tiếp ra ngoài. Phân tính, trứng nhỏ, ít noãn hoàng. Tất cả các loài đều di cư ngược sông để sinh sản, làm tổ trong cát, đẻ vài ngàn trứng và bố mẹ đều chết. Ấu trùng ammocoeles biến thái trong 3 -7 năm mới trở thành cá lớn. Phân lớp này có khoảng vài chục loài. Phân bố ở vùng cửa sông bố ở biển bắc Đại Tây Dương, Lapetrra morii, L. japonica ở biển Bắc Thái Bình Dương. 2. Phân lớp cá Mixin (Mixine) Có đời sống ký sinh trên cá đang sống hay đã chết, thân mềm, giáp xác và cả giun đốt. Chúng đều là các loài ký sinh quá chuyên hoá nên tổ chức cơ thể thoái hoá hơn cá Bám: vây lưng, xương tạng tiêu giảm, mắt thoái hoá, tai chỉ có một ống bán khuyên, cả tiền thận và trung thận hoạt động, ống tiêu hoá chưa tách biệt với ống hô hấp, có 15 đôi túi mang không thông trực tiếp với bên ngoài. Cá có một số lớn các tuyến tiết chất nhờn làm thành hai dãy bên thân, giúp cho con vật hô hấp khi phần đầu con vật cắm vào vật chủ hay cắm sâu vào bùn. Cá lưỡng tính, ở thời kỳ non thì sinh tinh trùng, khi già lại sinh trứng. Trứng lớn, nhiều noãn hoàng nhưng số lượng ít. Phát triển không qua biến thái. Phân lớp Mixin hiện có 32 loài. Đại diện có loài Mixine glutinosa, phân bố ở bờ biển Bắc Đại Tây Dương, loài Eptatretus burgeri và giống Bdellostoma phân bố ở biển Bắc Thái Bình Dương. Cá Mixin ăn hại
  32. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - khá lớn: Trong vòng 7 giờ có thể ăn hết một con cá nặng gấp 18 lần khối lượng cơ thể của nó. Cơ quan tuần hoàn, bài tiết và sinh dục Cá miệng tròn Cơ quan tuần hoàn - Tim có 2 ngăn, một tâm thất và 1 tâm nhĩ, ngoài ra còn có thêm xong tĩnh mạch. - Hệ động mạch: Từ tâm thất phát ra động mạch bụng, phần góc phình rộng được gọi là bầu chủ động mạch. Động mạch bụng phát ra 8 đôi động mạch tới mang, phân nhánh trong vách mang. Sau đó rời mang đi vào động mạch chủ lưng, động mạch này chạy dọc về phía sau, phân nhánh tới nội quan - gan, sau đó chuyển vào phần dưới xoang tĩnh mạch. Từ xoang tĩnh mạch, chuyển vào tâm nhĩ, sau đó sang tâm thất. Vòng tuần hoàn lại tiếp tục. Như vậy tuần hoàn của cá Miệng tròn chưa có ống Cuvie và hệ gánh thận như các nhóm khác.
  33. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Hệ tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch từ phía sau thân, vào tĩnh mạch đuôi rồi phân ra thành 2 tĩnh mạch chính sau, sau đó đổ vào xoang tĩnh mạch. Ở phần đầu, máu tĩnh mạch tập trung vào 2 tĩnh mạch chính trước, còn máu phần hầu đổ vào tĩnh mạch cảnh dưới, sau đó đổ vào xoang tĩnh mạch. Cơ quan bài tiết Là đôi trung thận. Niệu quản là ống Vonphơ, đổ vào xoang sinh dục, sau đó thông ra ngoài qua lỗ niệu sinh dục ở đầu núm niệu sinh dục. Cơ quan sinh dục
  34. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Phân tính. tuyến sinh dục chỉ có một buồng trứng hay một tinh hoàn, không có ống dẫn. Trứng và tinh trùng lọt qua vết nứt thành tuyến vào thể xoang, qua lỗ sinh dục vào xoang niệu sinh dục rồi ra ngoài. thụ tinh trong nước. Cơ quan tiêu hóa và hô hấp Cá miệng tròn Cơ quan tiêu hoá Cấu tạo đặc biệt thích nghi với đời sống ký sinh hút máu vật chủ. Phễu miệng biến đổi thành một giác bám, bờ trên và dưới có răng sừng. Đáy phễu có tấm sừng trên và dưới có răng, đầu lưỡi cũng có răng nhỏ. Lưỡi của cá như một cái pittong giúp cho phễu miệng bám được vào vật chủ, đâm thủng da và hút máu. Miệng nằm ở đáy phễu, tới khoang miệng và dẫn tới 2 ống nhỏ: Ống trên là thực quản, ống dưới là ống hô hấp. Từ thực quản đến ruột có van, ruột là ống thẳng, phần trước hơi phình được gọi là dạ dày, cuối ruột là ruột thẳng. Có màng nhày chạy dọc ruột, hơi xoắn ốc để tăng diện tích hấp thu của ruột.
  35. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Cơ quan hô hấp Cấu tạo đặc biệt: Ống hô hấp tận cùng ở trước tim, thông với 7 đôi túi mang và thông với khe mang ra ngoài. Mặt trong mỗi túi có nhiều lá mang là các nếp lồi. Giữa 2 túi mang là khoang bao mang hẹp có vách liên kết chia thành ngăn. Lá mang và khe mang có nguồn gốc nội bì. Động tác hô hấp là sự phồng lên hay xẹp xuống của bộ mang làm cho nước vào và ra khỏi khoang mang qua khe mang.
  36. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài cá ( phần 7 ) Hệ thần kinh và Giác quan Cá miệng tròn Hệ thần kinh 1. Não bộ - Bán cầu não trước nhỏ, nóc não phủ màng biểu mô, đáy là thể vân. Có thuỳ khứu lớn. - Não trung gian có cơ quan đỉnh và mấu não trên, đáy của não trung gian có bắt chéo thần kinh thị giác nằm phía trước, phía sau là phễu não có mấu não sau. - Não giữa phát triển chưa đầy đủ, nóc phủ màng biểu mô. - Tiểu não không phát triển, chỉ có một nếp gấp. - Hành tuỷ kéo dài về phía sau. - Có 10 đôi dây thần kinh não.
  37. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 2. Tuỷ sống Dẹp hình dải. Các dây thần kinh tuỷ gồm rễ lưng và rễ bụng tách rời mà không nhập lại làm một. Giác quan : Giác quan còn rất đơn giản: - Cơ quan khứu giác chỉ có một túi khứu giác, đáy túi thông với ống mũi hầu bịt đáy, xuyên qua tấm sụn nền và đi tới phía trước dây sống. - Cơ quan thính giác chỉ có tai trong, nhưng chỉ có 2 ống bán khuyên (cá bám) và 1 ống bán khuyên (cá Mixin). - Cơ quan thị giác là mắt nằm dưới da, cấu tạo đơn giản (cá Mixin thiếu cả nhân mắt).
  38. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Cơ quan đường bên là các hố không sâu, đáy của các hố này có liên hệ với dây thần kinh mê tẩu (dây thần kinh não). Hình dạng, vỏ da và bộ xương Cá miệng tròn 1. Hình dạng ngoài Cơ thể hình trụ, dài khoảng 40cm, chia thành 3 phần là đầu, thân và đuôi. Có 2 mắt nằm ở 2 bên đầu, lỗ mũi ở giữa 2 mắt, sau lỗ mũi là cơ quan đỉnh, trước mắt là phễu miệng có rèm da. Sau mắt là 7 đôi khe mang. Dọc lưng có 2 vây lưng. Vây đuôi có thuỳ đối xứng 2 bên trục sống, kiểu vây nguyên vĩ (protoxec). Lỗ hậu môn nằm phía sau, mặt dưới, sau hậu môn là lỗ niệu sinh dục. 2. Vỏ da Da trần, có nhiều tuyến đơn bào tiết chất nhày. Cơ quan đường bên ở phần đầu và 2 bên thân. 3. Bộ xương Cấu tạo chủ yếu là mô liên kết và sụn. - Xương sống là dây sống được phủ màng liên kết, chưa phân thành các đốt sống. Màng liên kết cũng bao quanh ống thần kinh, hai bên ống có một dãy các sụn nhỏ, đó là cung trên là mầm của các đốt sống. - Sọ có cấu tạo nguyên thủy, gồm sọ não, sọ tạng và bộ xương của phễu trước miệng.
  39. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - + Sọ não chưa kín, chỉ có tấm nền sụn ở đáy, đôi bao sụn ở phía sau và một bao sụn khứu giác ở trước. + Bộ xương của phễu trước miệng là đặc điểm riêng của cá miệng tròn, gồm một số sụn vòng chống đỡ phễu và sụn dưới lưỡi để nâng lưỡi. + Sọ tạng gồm cung tạng chính trức ở phía trước, gồm cung dưới mắt và cung tiêm do cung mang phân hoá thành. Mỗi bên có 9 cung mang, mỗi cung mang có 3 nhánh ngang. Cung mang thứ 9 biến thành sụn bao tim. - Xương vây lẻ gồm các tia sụn tạo thành. Đặc điểm chung Lớp Cá Miệng tròn Lớp cá Miệng tròn có 2 phân lớp là phân lớp cá Bám (Petromyzones) và phân lớp cá Mixin (Mixini), thích nghi với đời sống ký sinh ở các mức độ khác nhau. Lớp này có các đặc điểm chung như sau:
  40. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Cơ thể không có vây chẵn, chỉ có vây lẻ - Bộ xương là sụn và mô liên kết. Dây sống có mặt, cột sống chưa hình thành các đốt sống. hộp sọ chưa hoàn chỉnh, nóc sọ chưa kín - Não bộ còn nguyên thủy: Tiểu não chưa tách khỏi hành tuỷ, các phần não xếp trên một mặt phẳng, chưa chồng lên nhau - Chỉ có 1 lỗ mũi, một đôi ống bán khuyên (cá Mixin) hay 2 đôi (cá Bám) - Hệ tiêu hoá còn đơn giản: Chưa có dạ dày, ruột có hay chưa có nếp xoắn ốc. - Cơ quan hô hấp là 7 đôi túi mang (cá Bám) hay nhiều hơn (cá Mixin), túi mang có nguồn gốc nội bì. - Tim 2 ngăn: một tâm nhĩ và 1 tâm thất. Các cung động mạch chỉ có ở vùng mang. - Hệ bài tiết là trung thận. Ở cá Mixin còn có tiền thận hoạt động. - Đơn tính, thụ tinh ngoài, phát triển qua ấu trùng ammoxetet (ammocoetes).