Giáo trình Hải dương học Biển Đông - Lê Đức Tố
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Hải dương học Biển Đông - Lê Đức Tố", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
giao_trinh_hai_duong_hoc_bien_dong_le_duc_to.pdf
Nội dung text: Giáo trình Hải dương học Biển Đông - Lê Đức Tố
- ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Tự NHIÊN LÊ ĐứC Tố HảI DƯƠNG HọC BIểN ĐÔNG Hà NộI - 1999
- MụC LụC Lời giới thiệu Chương 1: Khái quát về vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu biển đông Việt Nam 1.1 Vị trí địa lý Biển Đông Việt Nam 7 1.2 Lịch sử điều tra nghiên cứu Biển Đông 21 Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên Việt Nam 2.1 Đặc điểm địa chất địa mạo 36 2.2 Đặc điểm cấu trúc hình thái Biển Đông 63 2.3 Đặc điểm khí hậu Biển Đông 71 2.4 Thủy triều và dao động mực nước 86 2.5 Hoàn lưu lớp nước mặt Biển Đông 97 2.6 Sóng biển trong hai mùa gió, sóng biển khi bão 106 2.7 Đặc điểm chế độ nhiệt muối 109 Chương 3: Sinh vật biển và các hệ sinh thái biển Việt Nam 3.1 Sinh vật biển Việt Nam 118 3.2 Các hệ sinh thái ven biển 127 Chương 4: tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển việt nam 4.1 Tài nguyên khoáng sản 142 4.2 Tài nguyên sinh vật 154 4.3 Tài nguyên muối và các hoá phẩm biển 169 4.4 Điều kiện phát triển giao thông vận tải. 170 4.5 Hiện trạng môi trường biển Việt Nam 175 4.6 Khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường biển 187 Tài liệu tham khảo 205 1
- The textbook "Oceanography of South-China Sea" presents the basic problems on natural conditions, resources and environment of the South-China sea. Chapter 1 deals with the geographical situation, the important role of this sea to Vietnam state. Chapter 2 presents natural conditions of South-China sea such as geological formulations, geomorphology, thermal and dynamical processes. Chapter 3 is paid to the estimation of biodiversity and ecological systems. Chapter 4 focuses to the problems of optimal use of marine resources and environmental protection as a main task of the economics fields. 2
- LờI GIớI THIệU Hải Dương học Biển Đông có thể xem như kết quả nghiên cứu của một đề tài khoa học, vì cho đến hiện nay chưa có tác giả nào viết về vấn đề này một cách toàn diện, nhưng đề cập đến từng mặt của Biển Đông thì có nhiều. Với tư cách là một giáo trình giảng dạy ở bậc đại học, "Hải Dương học Biển Đông" phải được viết một cách thận trọng phản ánh đầy đủ đặc điểm điều kiện tự nhiên tài nguyên, môi trường của Biển Đông. Tập thể tác giả phải chắt lọc các thông số cơ bản nhất, tin cậy nhất từ những công trình nghiên cứu của các Chương trình Biển quốc gia (từ 1980 đến 1995), đã được các hội đồng cơ sở và cấp Nhà nước công nhận, trong đó có danh từ Biển Đông và Biển Đông Việt Nam. Khi nói đến Biển Đông Việt Nam là muốn giới hạn sự nghiên cứu ở vùng nước thuộc Việt Nam. Hải Dương học Biển Đông đã đề cập đến 4 vấn đề lớn một cách cơ bản, không tham vọng đi sâu như một chuyên đề. Vấn đề thứ nhất về vị trí địa lý và tầm quan trọng của Biển Đông đối với quốc gia ven biển, trong đó khẳng định chủ quyền quốc gia của Nhà nước CHXHCN Việt Nam trên Biển Đông. Vấn đề thứ hai và thứ ba là phần chính của cuốn sách. Trong vấn đề thứ hai đã trình bày đầy đủ các thành tạo địa chất, trầm tích, địa mạo hình thái và những đặc điểm khí tượng thủy văn là những nhân tố quan trọng tạo nên diện mạo và bản chất của Biển Đông. Vấn đề thứ ba giành riêng cho những nội dung về thế giới sinh vật, phản ánh khá đầy đủ và toàn diện tính đa dạng sinh học của một biển nhiệt đới lớn nhất Thái Bình Dương. Vấn đề thứ tư là tài nguyên và môi trường, ở đây đề cập đến nhiều nội dung quan trọng của vấn đề, vừa có tính lý luận vừa thực tiễn của Biển Đông Việt Nam. Trong đó tập trung vào nội dung chính là đánh giá các dạng tài nguyên và hiện trạng môi trường Biển Đông đang đứng trước những thách thức của sự nghiệp phát triển kinh tế, nhân dân ta, Nhà nước ta phải có thái độ đối xử đúng đắn đối với tài nguyên môi trường Biển Đông. Chúng tôi cho rằng về cấu trúc và nội dung cuốn "Hải Dương học Biển Đông" do GS. Lê Đức Tố - chủ biên có thể được chấp nhận như một giáo trình cho sinh viên khoa KTTV và HDH trường ĐHKHTN và cũng có giá trị tham khảo nhất định cho các nhà khoa học quan tâm đến Biển Đông. Chúng tôi chân thành cảm ơn GS. TS. Đặng Ngọc Thanh, GS. TS. Nguyễn Ngọc Thụy, TS. Lê Duy Bách, TS. Hoàng Trọng Lập và TS. Trương Văn Tuyên đã cung cấp những bài viết làm tư liệu cho cuốn sách này. Trong quá trình biên soạn chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi mong sự góp ý của bạn đọc. 3
- Chương 1 Khái quát về vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu Biển đông việt nam 1.1. Vị trí địa lý Biển Đông Việt Nam 1.1.1. Vị trí và tầm quan trọng của Biển Đông Biển Đông là biển rìa phía Tây của Thái Bình Dương đã từng được gọi bằng nhiều tên : Biển Đông, Giao chỉ Dương, Biển Nam Hải, Biển Nam Trung Hoa Tên " Biển Đông" đã xuất hiện trong cuốn Địa lý vào loại cổ nhất ở nước ta do Nguyễn Trãi soạn năm 1435 trình lên vua Lê Thái Tông với dòng chữ "Hải Đông Hải dã" tức là "Biển là Biển Đông vậy". Tên Biển Đông được viết hoa trang trọng cả hai chữ hiện đang được dùng trong các văn kiện chính thức của Nhà nước Việt Nam. Trên các bản đồ thế giới xuất bản, Biển Đông có tên tiếng Anh là South China Sea, tức là Biển Nam Trung Hoa. Theo qui ước của tổ chức thuỷ văn quốc tế, tên của các biển được đặt tên theo vị trí tương đối của lục địa lớn nhất kề bên. Biển Đông có diện tích khoảng 3.447.000 km2, gấp hơn 8 lần Biển Đen và gần một lần rưỡi Địa Trung Hải, Biển Đông bao gồm cả vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, có độ sâu trung bình 1.140m, diện tích khoảng 3.928.000km2, chiều dài 3.500km (hình 1). Biển Đông tương đối kín xung quanh được bao bọc bởi các đảo, quần đảo và đất liền, tuy vậy Biển Đông đều thông với các biển lân cận và các đại dương qua các eo biển. Phía tây nam Biển Đông thông ra ấn Độ Dương qua eo Malacca giữa bán đảo Malaysia và đảo Sumatra (Indonesia), phía nam qua eo Karimata và Biển Giava (Indonesia) đi ra ấn Độ Dương bằng hai cửa Sunda (giữa Giakacta và Lombok (gần Bali), mặc dù tàu bè ít qua lại hai cửa này song chúng cũng có vị thế quan trọng. Phía bắc và phía đông của Biển Đông thông với Thái Bình Dương qua các eo biển sâu và các eo biển của quần đảo Philippine. Ven Biển Đông có 9 quốc gia, là Trung Quốc, Philippin, Malaysia , Indonesia, Brunây, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Ngoài ra còn phải kể đến các vùng lãnh thổ phụ thuộc có nền kinh tế phát triển như Đài Loan, Hồng Kông, Ma Cao nằm ven bờ đông bắc Biển Đông, Trung Quốc là quốc gia lớn nhất ven Biển Đông án ngữ phía bắc. 4
- Hình 1a. Địa hình đáy Biển Đông 5
- Biển Đông Hình 1b. Biển Đông trong khu vực Đông Nam á Các quốc gia quần đảo là Indonesia và Philippin với hàng nghìn đảo lớn nhỏ án ngữ phần phía nam và phía đông của Biển Đông. Việt Nam là quốc gia ven bờ phía tây của Biển Đông cùng với Campuchia và Thái Lan, Việt Nam có 3.260km bờ biển. Tính trung bình cứ 100km2 đất liền có 1 km độ dài bờ biển. Trong lúc đó trên thế giới, trung bình 600km2 diện tích lục địa mới có 1km độ dài bờ biển, vì vậy Việt Nam là quốc 6
- gia rất lợi thế về biển. Biển Đông quan trọng về chiến lược, giàu về tài nguyên và đa dạng về sinh học, giữ vị trí quan trọng thứ hai trên thế giới sau Địa Trung Hải. Đây là con đường hàng hải quốc tế nối ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, Đông á với Nam á và từ đó với các con đường đi về châu Phi, châu Âu. Nhìn lên bản đồ giao thông vận tải của thế giới tất cả các con đường hàng không và hàng hải quốc tế chủ yếu giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đều qua Biển Đông. Biển Đông có hai hải cảng lớn của thế giới là Hồng Kông ở cửa phía bắc của Biển Đông và Singapore nằm ở cửa phía nam của Biển. Khối lượng vận chuyển qua Biển Đông khá lớn, chỉ tính riêng dầu lửa đã có hơn 90% nhu cầu dầu lửa của nước Nhật vận chuyển qua biển này. Nơi đây trước kia đã từng có căn cứ hải quân lớn của siêu cường trên biển đó là căn cứ hải quân của Mỹ ở Subich (Philippin). Biển Đông có hai vịnh lớn là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây của Biển Đông, rộng từ kinh tuyến 105o36'E đến 109055E trải dài từ vĩ tuyến 170 N xuống vĩ tuyến 210N. Diện tích của vịnh vào khoảng 140.000 km2 đến 160.000 km2 tuỳ theo cách quy định phạm vi. Chu vi của vịnh khoảng 1.950km, chiều dài vịnh là 496km, vịnh có chiều rộng lớn nhất là 314km. Trên bản đồ thế giới vịnh Bắc Bộ còn có tên Tonkin gulf. Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi bờ biển miền Bắc Việt Nam ở phía tây, bởi lục địa Trung Quốc ở phía bắc và bán đảo Lôi Châu cùng với đảo Hải Nam ở phía đông. Bờ vịnh khúc khuỷu và có vô số đảo ven bờ, tập trung chủ yếu ở phía tây bắc vịnh ven bờ biểnViệt Nam, riêng phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 đảo. Đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam nằm gần giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km2, cách đất liền Việt Nam khoảng 110km. Chiều dài bờ vịnh phía Việt Nam từ cửa sông Bắc Luân đến mũi Lay khoảng 740km, bờ vịnh phía Trung Quốc từ cửa sông Bắc Luân qua bán đảo Lôi Châu tới mũi Oanh Ca phía tây đảo Hải Nam khoảng 889km. Nguồn nước chủ yếu giao lưu với vịnh Bắc Bộ qua cửa phía Nam với Biển Đông rộng chừng 230 km ở nơi hẹp nhất, một phần nhỏ khối nước trao đổi qua eo biển Quỳnh Châu, Đông Hải. Eo Quỳnh Châu hoàn toàn thuộc về Trung Quốc là một eo biển hẹp, chỗ hẹp nhất khoảng 18 km và sâu khoảng 7
- 20m. Vịnh Bắc Bộ là một vịnh nông độ sâu trung bình vào khoảng 40 - 50m, nơi sâu nhất khoảng 100m. Khu vực có độ sâu nhỏ hơn 30m chiếm diện tích khoảng 60% vịnh. Địa hình đáy biển tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ, dạng lòng chảo nghiêng về phía đông nam (phía đảo Hải Nam). Từ cửa vịnh trở ra Biển Đông đáy thụt sâu xuống tới 1.000m và hơn nữa. Vịnh Thái Lan nằm ở phía tây nam của Biển Đông. Vịnh được bao bọc bởi bờ biển, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malasia. Diện tích vịnh khoảng 293.000 km2, gần gấp đôi diện tích vịnh Bắc Bộ, chu vi vịnh khoảng 2.300km, chiều dài vịnh 628km. Vịnh Thái Lan là một vịnh nông, độ sâu lớn nhất ở trung tâm vào khoảng 80m và độ sâu lớn nhất ở cửa vịnh khoảng 60m. Góc trong cùng của vịnh là eo Bangkok có dạng lõm hình chữ nhật. Các đảo chính trong vịnh Thái Lan là Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, đảo Poulowai, đảo Kokut ở phía đông vịnh các đảo Kotao, đảo Kophangan, Kosamui ở phía tây vịnh. 1.1.2. Các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia của Việt Nam Bản đồ kinh tế chính trị biển của thế giới và của Biển Động đã và đang thay đổi theo quá trình phát triển của Luật Biển. Căn cứ vào sự phát triển của Luật Biển quốc tế, Chính phủ Việt Nam đã ra "Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam" ngày 12/5/1977 và tiếp sau đó ngày 12/11/1982 ra "Tuyên bố về đường cơ bản ven bờ lục địa Việt Nam". Hai bản tuyên bố rất quan trọng này đã chính thức phân chia vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia của nước ta thành vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và ấn định thềm lục địa của nước ta Ngày 23/6/1994 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982, biểu thị quyết tâm của nước ta cùng với cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển trong khu vực. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải nước ta thuộc loại đường cơ sở thẳng. Trong ban Tuyên bố quy định đường cơ sở dùng để tính chiều 8
- rộng lãnh hải Việt Nam ngày 12/11/1982 nước ta mới quy định đường cơ sở ven bờ lục địa, còn đường cơ sở của các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở ngoài khơi sẽ được công bố sau (hình 2). Điểm xuất phát của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải nước Việt Nam là điểm 0 - một điểm nằm trên ranh giới phía tây nam của vùng nước lịch sử chung của hai nước Việt Nam - Campuchia kéo đến điểm A1 trên hòn Nhạn trong quần đảo Thổ Chu, thuộc tỉnh Kiên Giang, qua điểm A2 thuộc hòn Đá Lẻ nằm ở đông nam hòn Khoai thuộc tỉnh Minh Hải, đến điểm A3 ở hòn Tài Lớn, điểm A4 ở hòn Bông Lang, điểm A5 ở hòn Bảy Cạnh trong nhóm quần đảo Côn Đảo, kéo lên điểm A6 ở hòn Hải thuộc nhóm đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận,đến điểm A7 ở trên hòn Đôi, tỉnh Khánh Hoà, và điểm A8 ở mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên, đến điểm A9 ở hòn Ông Can thuộc tỉnh Bình Định, qua điểm A10 ở đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi đến điểm A11 ở đảo Cồn Cỏ thuộc Quảng Trị, và kéo đến điểm giữa của vịnh Bắc Bộ sẽ được công bố sau. Theo Tuyên bố này, những điểm của đường cơ sở cách bờ xa nhất là hòn Nhạn khoảng 80 hải lý, hòn Hải trên 70 hải lý, Côn Đảo trên 50 hải lý. Các đoạn đường cơ sở thẳng giữa hai điểm liên tiếp dài nhất là từ hòn Hải đến Côn Đảo trên 170 hải lý, từ hòn Hải đến hòn Đôi 160 hải lý, từ hòn Nhạn đến hòn Đá Lẻ khoảng 100 hải lý. Tuy đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam đi qua một số đảo cách xa bờ từ 50 đến 80 hải lý và cách xa nhau trên 100 hải lý, nhưng đường cơ sở này vẫn phù hợp với các tiêu chuẩn của luật pháp và thực tiễn quốc tế vì các đảo có những lợi ích kinh tế riêng biệt mà thực tế và tầm quan trọng của những lợi ích ấy đã được quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng và đường cơ sở của nước ta vẫn chạy theo xu thế chung của bờ biển. Dọc theo dải ven biển nước ta có nhiều mũi đất nhô ra ngoài biển, có trên 110 cửa sông, lạch lớn nhỏ, có nhiều vũng, vịnh, có các đảo nhỏ và quần đảo nằm tương đối xa bờ, nhưng về mặt kinh tế, quốc phòng, lịch sử, địa lý hành chính luôn gắn bó với dải ven bờ và đất liền, là một bộ phận lãnh thổ nước Việt Nam không thể tách rời. Ví dụ như điểm A1 trên hòn Nhạn là một đảo nhỏ xa nhất của quần đảo Thổ Chu nằm ngoài khơi vùng biền tây nam của Tổ Quốc. Hòn Nhạn cùng với 8 hòn đảo lớn nhỏ khác họp thành quần đảo Thổ Chu gắn bó chặt chẽ với đất liền từ bao đời nay về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng. Trong sách "Đại Nam nhất thống chí" do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1882 đã 9
- viết: "Đảo Thổ Chu ở ngoài biển khơi huyện Hà Châu, cách bờ hai ngày rưỡi đường, lại có tên là hòn Châu Dầu, chu vi chừng vài trăm dặm, cây cối xanh um, hang động âm u, sản xuất yến sào, đồi mồi, vích, hải sâm, trên cù lao có dân cư ở". Trung quốc hà nội Nam HảiĐịnh phòng Đ. Bạch Long Vĩ Vinh đảo Hải Nam A11.đảo Cồn Cỏ đảo Phù Liễn THái lan Huế đảo Hoàng Sa Đà Nẵng đảo Linh Côn A10 đảo Tri Tôn Quần đảo Hoàng Sa đảo Lý Sơn A9.hòn ông Cồn Quy Nhơn CAMPUCHIA A8.mũi Đại Lãnh Nha Trang đảo Song Tử Đông Phan Thiết đảo Bến Lạc đảo Phú Quốc Tp Hồ Chí Minh đảo Song Tử Tây đảo Bình Nguyên đảo đảo Sơn Ca Vũng Tàu A6.hòn Hải hòn Nhạn Minh Hải đảo Ba Đình A1.đảo Thổ Chu Côn Đảo A5.hòn Bảy Canh đảo Trường đảoSa Nam Yết đ. Palapan A2.hòn Đá Lẻ Đá Đông A4.hòn Đồng Lang Vùng nước lịch sử đảo An Bang đá Hoa Lau MALAIXIA MALAIXIA bán đảo INDONEXIA đảo Cakman Ion Malacca Q.đ Natuna Bắc Cục Đo đạc và bản đồ Nhà nước vẽ tháng 7-1987 Hình 2. Đường cơ sở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 10
- Ba điểm A2, A3, A4 nằm trên ba hòn đảo Bông Lang, Bảy Cạnh, Tài Lớn là những điểm nhô ra nhất của quần đào Côn Đảo - một quần đảo gồm 13 đảo lớn nhỏ khá trù phú, đất đai màu mỡ , dân Việt hàng bao đời sinh sống trên đảo bằng nghề đánh bắt hải sản và trồng trọt. Thời Pháp thuộc, Côn Đảo là một đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc một tỉnh trong đất liền. Năm 1979 do vai trò quan trọng, giữa Côn Đảo và đất liền Vũng Tàu, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo đã được Nhà nước thành lập và hiện nay Côn Đảo là một huyện thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đang trở thành một vùng kinh tế quan trọng của cả nước. Hòn Hải nơi có điểm A6 của đường cơ sở là hòn đảo ngoài cùng của nhóm đảo Phú Quý, gồm trên 8 đảo và bãi cạn là một quần đảo giàu, về tổ chức là một huyện thuộc tỉnh Bình Thuận. Quần đảo nằm ở vị trí án ngữ con đường biển vào cảng Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Quần đảo có diện tích 32 km2, dân số đông đúc hơn 15.000 người sinh sống trong các làng xóm sầm uất. Dân ở đây theo nghề đi biển xa và nổi tiếng về giỏi nghề cá mập. Vùng biển nội thuỷ của nước Việt Nam bao gồm a) Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam kể cả vùng vịnh, cửa sông, vùng nước cảng biển. b) Vùng biển nằm phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các đảo và quần đảo của hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. c) Các vùng nước lịch sử của Việt Nam bao gồm phần vịnh thuộc phía Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ và vùng nước thuộc Việt Nam trong vùng nước lịch sử của hai nước Việt Nam và Cămpuchia. Vùng nước lịch sử của Việt Nam tồn tại ở hai vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan: Vịnh Bắc Bộ là một vịnh nằm sâu trong lãnh thổ của nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước CHND Trung Hoa. Về mặt địa lý - địa chất, vịnh Bắc Bộ gắn bó hữu cơ với lãnh thổ đất liền phía bắc của nước ta và án ngữ hầu như toàn bộ vùng lãnh thổ quan trọng này. Vùng biển vịnh Bắc Bộ có một tầm quan trọng đặc biệt đối với nền an ninh và quốc phòng của nước ta. Năm 1887 giữa toàn quyền Pháp và nhà Thanh đã ký công ước về biên giới, trong đó có quy định "kinh tuyến 105043' Paris (tức là 108003'13" kinh đông Greenwich) đi qua mũi phía đông đảo Trà Cổ tạo thành biên giới kể từ điểm phân vạch cuối cùng mà hai uỷ ban cắm 11
- mốc đã vạch ra". Chính quyền Pháp ở Đông Dương cũng đã có các quy định và hành động cụ thể buộc các tàu thuyền nước ngoài hoạt động ở phía tây đường kinh tuyến trên phải đăng ký và đóng thuế Sau năm 1954, các hoạt động kinh tế hay nghiên cứu khoa học ở trong vịnh giữa nước ta với Trung Quốc cũng đã sử dụng đường kinh tuyến trên làm đường phân chia ranh giới trên biển giữa các quốc gia (hình 2a). Trên cơ sở đó, Nhà nước ta đã quy định rằng phần vịnh thuộc phía Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây kinh tuyến 108003'13" là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thuỷ của nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam. Sau này khi hai nước đàm phán xác định chính thức đường biên giới trong vịnh, quy chế vùng nước trong vịnh Bắc Bộ sẽ được xác định cụ thể. Vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia ở vịnh Thái Lan nằm giữa bờ biển của tỉnh Kampot và đảo Wai của Campuchia với bờ biển đảo Phú Quốc và nhóm đảo Thổ Chu của Việt Nam đã được xác định là vùng nước lịch sử trong hiệp định về vùng nước lịch sử của hai nước ký ngày 7/7/1982 (hình 2b). Hình 2b Bản đồ hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam Campuchia 12
- Về mặt địa lý và điều kiện tự nhiên vùng biển này gắn liền với phần đất liền của hai nước Việt Nam và Campuchia, từ lâu đời đã thuộc về hai nước. Nó có một vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nền an ninh quốc phòng của các tỉnh miền Tây Nam Bộ và các tỉnh ven biển miền Nam Campuchia. Trong khi chưa xác định được đường biên giới quốc gia trên biển trong vùng nước lịch sử chung Việt Nam - Campuchia, hai nước cùng thực hiện quản lý và kiểm soát trên biển, việc đánh bắt và khai thác hải sản của nhân dân địa phương vẫn được tiếp tục như tập quán. Riêng việc khai thác các loại tài nguyên thiên nhiên khác thì cần phải có sự bàn bạc thoả thuận giữa hai nước. Lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh thổ đất liền và tiếp liền với nội thuỷ của nước ven biển là nơi chủ quyền nước ven biển đó được mở rộng ra ngoài lãnh thổ nội thuỷ. Chủ quyền này mở rộng ra cả vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy lãnh hải. Chiều rộng lãnh hải theo Công ước Luật Biển 1982 quy định không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở. Vì vậy đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải là đường biên giới quốc gia trên biển. Lãnh hải được coi là một bộ phận lãnh thổ của nước ven biển. Theo qui định của Nhà nước ta, lãnh hải của Việt Nam là một dải biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven biển của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất trở ra. Trong vùng biển này những người thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Tính chất chủ quyền trong lãnh hải có khác với tính chất chủ quyền ở nội thuỷ. Trong nội thuỷ ta thực hiện chủ quyền đầy đủ, tuyệt đối và toàn vẹn. Còn trong lãnh hải ta thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn. Có sự khác nhau đó vì trong lãnh hải tàu thuyền các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại vô hại với điều kiện là không xâm phạm đến hoà bình, an ninh, trật tự và phải tôn trọng các quy định về lãnh hải của quốc gia ven bờ. Phần lãnh hải của các đảo và quần đảo của hai huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà sẽ 13
- được công bố sau (hình 3). Vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam là một vùng biển nằm ngoài và tiếp liền với lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý và hợp với lãnh hải tạo thành một vùng biển rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Nước ta thực hiện sự kiểm soát và ngăn ngừa cần thiết ở vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm mục đích bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi hải quan, thuế khoá, bảo đảm sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam. So với các quy định của Công ước về Luật Biển 1982 và của các quốc gia ven biển khác, do tình hình và đặc điểm riêng của nước ta, Chính phủ ta đã quy định việc kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp đối với người và tàu thuyền nước ngoài nhằm ngăn ngừa và trừng trị những vụ vi phạm đối với pháp luật của Việt Nam về an ninh và di cư từ đất liền hay trong nội thuỷ và lãnh hải của nước ta. Vùng tiếp giáp lãnh hải đồng thời nằm trong phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế nên ngoài những nội dung pháp lý đã quy định cho vùng tiếp giáp lãnh hải đã nói ở trên, nó còn chịu sự chi phối hoàn toàn của những nội dung pháp lý đã quy định cho vùng đặc quyền về kinh tế. Trong bản Tuyên bố 12/5/1977. Chính phủ ta quy định vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tiếp liền với lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải đó thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Như vậy, bề rộng của vùng đặc quyền về kinh tế thực sự chỉ là 188 hải lý, bắt đầu từ ranh giới ngoài lãnh hải. Trong vùng đặc quyền kinh tế, người nước ta có đầy đủ các quyền do Công ước về Luật Biển 1982 quy định . Nước ta có chủ quyền hoàn toàn đối với các quyền lợi về kinh tế trong vùng đặc quyền về kinh tế, nhưng ta cũng vẫn để cho tàu thuyền và máy bay nước ngoài tự do hàng hải và hàng không và có thể cho phép các nhà khoa học của các nước khác tiến hành nghiên cứu trong vùng đặc quyền theo những điều kiện mà Công ước mới về Luật Biển đã trù định, Nghị định 242 HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam ngày 05/8/1991 đã quy định chi tiết. Công ước về Luật Biển 1982 đã đưa ra một định nghĩa mới về thềm lục địa. Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền và các hải đảo của quốc gia ven biển tính từ ranh giới phía ngoài của lãnh hải cho tới bờ 14
- ngoài của rìa lục địa. Bờ ngoài của rìa lục địa được xác định theo những tiêu chuẩn nhất định. Hình 3. Một số đảo, bãi đá chính của quần đảo Hoàng Sa Nhà nước Việt Nam đã quy định : thềm lục địa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam, mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa. Nơi nào bờ biển ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa ấy được mở rộng ra 200 hải lý đường cơ sở. Nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò và khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam. Khi nghiên cứu biển Việt Nam, chúng ta còn cần chú ý tới một vùng rộng lớn không phải là biển riêng của một quốc gia, đó là biển cả, mà có người gọi là biển công hay biển quốc tế. Nói một cách khái quát, đây là vùng 15
- biển nằm ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Tất cả các nước đều được hưởng các quyền và nghĩa vụ ngang nhau, không kể là nước có biển hay không có biển. Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền tham gia vào việc khai thác đáy đại dương vùng biển quốc tế. Nếu không tham gia trực tiếp khai thác cũng có quyền được hưởng tất cả những lợi ích do việc cộng đồng quốc tế khai thác đáy đại dương đem lại. 1.1.3. Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa Vị trí địa lý và tầm quan trọng của hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa Hai quần đảo mà các bản đồ hàng hải quốc tế ngày nay ghi là Parcels và Sprathy hay Sratly chính là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã từ lâu đời. Thời xưa các nhà hàng hải hiểu biết về Hoàng Sa và Trường Sa còn rất mơ hồ chưa chính xác, họ chỉ biết có một khu vực rộng lớn giữa Biển Đông gồm các bãi, cụm đá ngầm nguy hiểm cho các tàu thuyền. Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, các nhà hàng hải các nước phương Tây đều có thể hiểu chung hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa làm một mà họ thường gọi dưới cái tên Pracel hay Paracels. Tên Paracels, theo giáo sư Piere Yves Manguin, xuất xứ từ tiếng Bồ Đào Nha Ithas do Parcel (Paracel có nghĩa là "đá ngầm"). Trên các bản đồ cổ của Việt Nam cũng như của phương Tây, cả hai quần đảo được vẽ gộp liền với nhau. Như bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ thứ XVI hay bản đồ về Biển Đông của nhà hàng hải Hà Lan Henricus Van Langren vẽ năm 1595 về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gộp chung làm một với cái tên Paracel Sau đó, người ta dần tách ra làm hai khu vực. Như trong "Đại Nam thống nhất toàn đồ" ở đời Nguyễn vẽ năm 1838 đã đề phía bắc là "Hoàng Sa" và phía nam "Vạn lý Trường Sa". Sau này nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật hàng hải, người ta đã phân biệt được hai quần đảo riêng biệt là Hoàng Sa và Trường Sa (Paracel và Spratly). Cho mãi tới đầu thế kỷ XX mới xuất hiện cái tên không rõ nguồn gốc là "Tây Sa quần đảo" mà người Trung Quốc dùng để gọi Hoàng Sa của Việt Nam. Còn khoảng giữa những năm 30, cái tên Nam Sa mới bắt đầu xuất hiện để gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa gồm 30 đảo, bãi đá cạn, nằm trong một vùng rộng 16
- khoảng 14.000 km2 kéo từ vĩ độ 15045' đến 17015' vĩ Bắc và từ 1100 đến 1130 kinh Đông, cách Đà Nẵng khoảng 170 hải lý về phía đông, cách cù lao Ré 220km (120 hải lý), cách Hải Nam Trung Quốc ở điểm gần nhất khoảng 260km (140 hải lý). Quần đảo gồm hai nhóm. Nhóm phía đông Việt Nam gọi là AnVĩnh, còn người phương Tây gọi là "Amphitrite" để kỷ niệm tên một chiếc tàu Pháp lần đầu tiên được gửi sang Biển Đông bị bão đánh dạt vào vùng này. Nhóm phía tây các đảo xếp thành hình cong như trăng lưỡi liềm nên Việt Nam gọi là nhóm Lưỡi Liềm và người phương Tây thường gọi là "Croissant". Trong quần đảo Hoàng Sa có một đảo tên là Hoàng Sa, nhưng đảo Hoàng Sa không phải là đảo lớn nhất quần đảo mà là đảo Linh Côn và Phú Lâm. Mỗi đảo có diện tích 1,6km2. Cách quần đảo Hoàng Sa về phía đông Nam 300 hải lý (450km) là quần đảo Trường Sa. Quần đảo này có tên quốc tế Spratly do người Anh đặt năm 1867 (hình 3). Khi tàu của người thuyền trưởng Anh Spratly đến vùng quần đảo Trường Sa, ông tưởng đã phát kiến ra một vùng quần đảo mới. Quần đảo Trường Sa nằm trong khoảng vĩ độ 6050' đến 120 vĩ Bắc và kinh độ 111030' đến 117020' đông, gồm khoảng 100 hòn đảo, đá, cồn, san hô và trải dài trên một diện tích rộng khoảng 160 đến 180 ngàn km2 biển. Hòn đảo Trường Sa gần đất liền nhất, cách Cam Ranh 450km (250 hai lý). Tổng cộng phần đảo trên mặt nước của quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa đều xấp xỉ khoảng 10km2, nhưng diện tích biển của quần đảo Trường Sa lớn gấp 10 lần so với vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa rất giàu có về mặt tài nguyên và đặc biệt chúng có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với khu vực này. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam. Việc xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là căn cứ vào tầm quan trọng và vị trí chiến lược của chúng đối với nước ta mà chình là xuất phát từ những chứng cớ lịch sử và những cơ sở pháp lý vững chắc dựa trên những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của luật pháp và tập quán quốc tế. Việt Nam hiện đang có mặt bảo vệ 21 đảo và bãi ngầm trên quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, hòn Sập (Phan Vinh), An Bang, đá Lát, đá Đông, đá Tây, đá Giữa, bãi Tốc Tan, đá Núi Le, đá Tiên nữ, bãi Thuyền Chài, đá Cô Lin, đá Len Đao, đá Lớn, đá Núi Thị. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh ở Việt Nam và khó khăn trong lúc phải xây dựng lại đất nước, nhiều nước đã nhảy vào chiếm đóng một số đảo và bãi 17
- ngầm trong quần đảo Trường Sa tạo nên tình thế tranh chấp chủ quyền với Việt Nam. Hiện nay Philippin chiếm 8 đảo, Malaysia chiếm 3 đảo phía nam quần đảo Trường Sa, Đài Loan chiếm 1 đảo lớn nhất quần đảo và từ tháng 2 năm 1988 tới nay, Trung Quốc đã chiếm 8 bãi ngầm trong quần đảo Trường Sa và chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của nước ta. Quan điểm và lập trường của Chính phủ ta từ trước tới nay đối với hai quần đảo này đã rõ ràng và nhiều lần được công bố trong các văn kiện chính thức của Nhà nước với tinh thần như sau : Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay. Việt Nam đã chiếm hữu thực sự hai quần đảo ngay từ khi nó chưa thuộc chủ quyền thực sự của bất kỳ quốc gia nào. Những bằng chứng lịch sử, những căn cứ pháp lý mà phía Việt Nam đã đưa ra và sẵn sàng tiếp tục đưa ra để chứng minh sự thực đó. Nhiều thế kỷ trước đây, những hành động thực hiện chủ quyền của các Nhà nước Việt Nam đối với những quần đảo trên chưa hề vấp phải bất cứ một phản ứng nào của bất cứ một nước nào trong khu vực hoặc ngoài khu vực. Chính sách của chúng ta trong việc giải quyết vấn đề hai quần đảo là : " kiên quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình đồng thời tôn trọng nguyên tắc không dùng vũ lực đe doạ hay dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp, trước sau như một chủ trương giải quyết bằng thương lượng hoà bình mọi tranh chấp". 1.2. Lịch sử điều tra nghiên cứu Biển Đông Việt Nam Sự nghiệp điều tra nghiên cứu Biển Đông Việt Nam thực sự được tiến hành một cách hệ thống từ 1930, ngày thành lập viện Hải Dương học Đông Dương, sau đó là Hải học viện Nha Trang, ngày nay là Viện Hải Dương học Nha Trang và từ 1960 khi một loạt các cơ quan nghiên cứu biển miền Bắc ra đời như : Trạm nghiên cứu biển Hải Phòng (ngày nay là phân viện Hải dương học Hải Phòng), Trạm Nghiên cứu Thuỷ sản Hải Phòng (nay là Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng), phòng hải văn, nha khí tượng Hà Nội (nay là Trung tâm KTTV biển) v.v Từ khi thành lập đến 1930 dưới sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học có 18
- tên tuổi như A. Kremp, P.Chevey, E.Saurin, R. Serene. Viện hải dương học Đông Dương đã thực hiện một khối lớn công tác điều tra, nghiên cứu Biển Đông về nhiều mặt. Từ 1939 sau khi đại chiến thế giới II bùng nổ và cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam kéo dài cho đến năm 1954 công tác điều tra nghiên cứu Biển Đông mới được phục hồi. Từ 1960 đến nay có hai giai đoạn hoạt động điều tra nghiên cứu như sau : 1.2.1. Hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở miền Bắc Việt Nam trong thời gian 1954 - 1975 Từ năm 1954, trước những yêu cầu mới về xây dựng và bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng và Chính phủ ta có chủ trương khai thác, sử dụng biển phục vụ phát triển kinh tế, quốc phòng. Để thực hiện chủ trương này, Nhà nước đã thành lập một số cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên trách hoặc bán chuyên trách vể biển như : Trạm Nghiên cứu Biển Hải Phòng thuộc Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước được thành lập năm 1961, đến năm 1967 phát triển thành Viện Nghiên cứu Biển Hải Phòng. Trạm Nghiên cứu Cá Biển thuộc Tổng cục Thuỷ sản đựoc thành lập năm 1961, đến năm 1967 phát triển thành Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng. Đài Khí Tượng Trung ương thuộc Nha Khí Tương thành lập năm 1955, đa số với một số trạm quan trắc khí tượng hải văn tại một số khu vực ven biển từ Móng Cái tới Cửa Tùng. Đội Khảo sát Thiết kế Giao thông cũng được thành lập năm 1960. Nhà nướccũng có chủ trương đào tạo chuyên gia về biển từ các nước Liên Xô , Trung Quốc từ 1957 và từ 1966 trường Đại học Tổng hợp Hà Nội bắt đầu đào tạo các chuyên gia khoa học biển đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Quan hệ hợp tác quốc tế phát triển giữa nước ta với các nước XHCN thời đó, trước hết là với Liên Xô, Trung Quốc, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra nghiên cứu biển Việt Nam. Hàng loạt các chương trình hợp tác điều tra vùng biển vịnh Bắc Bộ được thực hiện, có thể hệ thống lại như sau: Chương trình Điều tra Cơ bản Tổng hợp vịnh Bắc Bộ (1959 - 1962) Chương trình Điều tra Cơ bản Tổng hợp vịnh Bắc Bộ là một kế hoạch lớn của Nhà nước, do UBKH Nhà nước chủ trì thực hiện với sự phối hợp lực lượng của ngành Thuỷ sản, Khí tượng, Hải quân, Giao thông và hợp tác với UBKH Trung Quốc điều tra vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải hai nước, rộng 128.300 km2. Kế hoạch điều tra trên biển gồm hai đợt: 19
- Từ tháng 9/1959 đến tháng 12/1960 dùng 6 tầu điều tra (Hải Điều : 01, 02, 03; Nam Ngư : 228, 402 và Hồng Kông 1) thay thế nhau hàng tháng đo đạc các số liệu và thu thập mẫu vật trên 88 trạm ở 16 mặt cắt của vịnh Bắc Bộ. Từ tháng 12/1961 đến 11/1962 dùng 2 tầu (Hải Điều 01, Việt Xô 33) thay nhau điều tra trên 41 trạm ở 9 mặt cắt với nhiệm vụ điều tra bổ sung. Nội dung điều tra cơ bản tổng hợp bao gồm các yếu tố vật lý, khí tượng và thuỷ hoá, địa chất, địa hình, sinh vật nổi, sinh vậy đáy và trứng cá bột. với nguồn số liệu điều tra và mẫu vật thu được khá phong phú đó, đã phân tích nghiên cứu rút ra những kết luận cơ bản về cấu trúc không gian ba chiều và những dao động theo chu kỳ mùa, ngày trong năm của nhiều hiện tượng về khí tượng, thuỷ văn, động lực nước biển, hoá học, địa chất biển, địa hình, sinh vật nổi, sinh vật đáy và trứng cá bột, biên soạn tổng hợp thành 60 báo cáo chuyền đề khoa học, một bộ Atlas vịnh Bắc Bộ tỉ lệ 1 : 2.000.000 và một bộ sưu tập chuẩn sinh vật vịnh Bắc Bộ. Chương trình Điều tra Nguồn lợi Cá đáy vịnh Bắc Bộ (1959-1962) Đồng thời với Chương trình Điều tra Cơ bản Tổng hợp vịnh Bắc Bộ, trong những năm 1959 - 1962. UBKH Nhà nước cũng thực hiện một chương trình điều tra nguồn lợi cá đáy vịnh Bắc Bộ với sự phối hợp lực lượng của các cơ quan thuộc Tổng cục Thuỷ sản Việt Nam và UBKH Trung Quốc, nhằm mục đích xác định các bãi cá đáy, đánh giá nguồn lợi cá đáy và gần đáy, nghiên cứu sinh học một số loài cá sản lượng cao, phục vụ cho kinh tế nghề cá ở vịnh Bắc Bộ. Kế hoạch điều tra trên Biển gồm hai đợt: Từ tháng 9/1959 đến tháng 12/1960, các tầu đánh cá thí nghiện Tuệ Ngư 219, Tuệ Ngư 306 và Tuệ Ngư 220 hàng tháng luân phiên kéo lưới trên 98 trạm phân bố trên toàn vịnh, cự ly từ 15 - 30 hải lý. Từ tháng 12/1961 đến tháng 11/1962, hai tàu đánh cá thí nghiệm Tiền Phong và Việt Trung 102 đã thay nhau hàng tháng kéo lưới tại 41 trạm phân bố trên toàn vịnh. Trong hai đợt điều tra biển đã kéo 1.355 mẻ lưới thí nghiệm, phân tích 112 tấn cá, thu thập số liệu sinh học 696.000 con cá thuộc 9 loài có sản lượng cao. Trong khi kéo lưới thí nghiệm còn đồng thời đo đạc các số liệu ngoại 20
- cảnh và mẫu vật môi trường. Kết quả nghiên cứu phân tích chỉnh lý các số liệu và mẫu vật cho biết : vịnh Bắc Bộ có khoảng trên 960 loài cá thuộc 457 giống, 28 bộ, trong đó có 30 loài sản lượng cao, khả năng khai thác hàng năm từ 30 - 40 vạn tấn. Tất cả các kết quả nghiên cứu đã được tổng hợp thành báo cáo ngư trường và tập bản đồ đánh cá lưới giã vịnh Bắc Bộ và 9 báo cáo sinh học các loài cá có sản lượng đánh bắt cao. Điều tra cá tầng đáy và thăm dò cá tầng trên ở vịnh Bắc Bộ Theo thoả thuận giữa hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô trong 2 năm 1960 - 1961, Viện Hải dương học và Nghề cá Thái Bình Dương (TINRO) đã hợp tác với Tổng cục Thuỷ sản Việt Nam thực hiện 5 chuyến điều tra trong năm 1960 và 4 chuyến trong năm 1961 ở 105 trạm trong vịnh Bắc Bộ và một số chuyến ở 51 trạm phía tây Biển Đông (hình 4). Trên cơ sở các kết quả thu được đã rút ra được những kết luận đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá biển ở vịnh Bắc Bộ, nhận định về sự biến động theo mùa của các yếu tố thuỷ học cùng các hiện tượng thuỷ sinh vật ảnh hưởng đến biến động trữ lượng và tập tính cá vịnh Bắc Bộ. Các hoạt động điều tra cơ bản vùng biển ven bờ miền Bắc Việt Nam * Điều tra địa chất địa hình vùng ven bờ khu vực Đầm Hà - Móng Cái (1967-1969) Viện Nghiên cứu Biển đã tổ chức điều tra vùng biển ven bờ biển từ Đầm Hà đến Móng Cái rộng 1.600 km2 trên 15 mặt cắt với 63 trạm. Nội dung nghiên cứu tập trung chủ yếu vào một số đặc điểm địa chất, địa hình đáy và bờ biển, các bậc thềm biển, sự phân bố các loại trầm tích tầng mặt, khoáng vật và một số yếu tố khí tượng thuỷ văn ven biển. * Điều tra tổng hợp vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng (1971- 1972). Từ tháng 2/1971 đến tháng 3/1972 Viện Nghiên cứu Biển đã sử dụng 2 tầu vỏ gỗ 60 mã lực NCB-01 và NCB-02 thực hiện 13 chuyến điều tra tổng hợp vùng biển ở độ sâu 5 m đến 30m, từ Mũi Ngọc đến Cát Bà rộng 5.800 km2, bao gồm các vịnh Bái Tử Long, Hạ Long cho tới đảo Cát Bà. Nội dung điều tra tổng hợp gồm : một số vấn đề về khí tượng thuỷ văn, động lực, thuỷ hoá, địa chất, địa hình, sinh vật đáy, sinh vật nổi, trứng cá, cá bột ở 41 trạm 21
- (trong đó có trạm do liên tục trong 24 giờ trong 4 tháng liền đại diện của 4 mùa). Kết quả nghiên cứu đã cho biết về sự phân bố không gian, sự biến động theo mùa của những yếu tố vật lý thuỷ văn, hoá học địa chất, địa hình, thành phần giống, loài, sinh vật lượng và một số tập tính sinh thái tự nhiên của sinh vật đáy, sinh vật phù du, trứng cá và cá bột. Hải Phòng Hải Khẩu Hải Nam Hình 4 Các trạm khảo sất hải dương học và đánh cá của Đoàn Nghiên cứu Việt-Xô tại vịnh Bắc Bộ (1960-1961) 1. Trạm nghiên cứu hải dương học 2. Vùng triều được nghiên cứu 22
- * Điều tra nguồn lợi cá và sinh vật ven bờ biển miền Bắc Việt Nam. Từ 1965 - 1975, Viện Nghiên cứu Biển đã thực hiện nhiều đợt điều tra nguồn lợi cá và sinh vật ven bờ biển., điều tra khu hệ cá Quảng Ninh (1967 - 1968). Nam Hà (1967-1971), Hải Phòng - Thái Bình (1971-1973), Thanh Hoá - Quảng Bình (1973-1975), điều tra nguồn lợi động vật vùng triều Quảng Ninh (1967-1968), Nam Hà (1970 - 1971), điều tra nguồn lợi động vật vùng triều Hải Phòng (1973-1976), điều tra ba cửa sông ờ Nam Hà (1970-1971). Từ 1964-1976, Viện Nghiên cứu Biển tổ chức điều tra nguồn lợi rong biển ven bờ từ Quảng Ninh tới Nghệ Tĩnh. Trạm Nghiên cứu Cá biển và Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng Hải sản cũng tổ chức nhiều đợt điều tra khác : Điều tra nguồn lợi cá phía tây vịnh Bắc Bộ (1964-1965), điều tra di giống trai ngọc Quảng Ninh - Hải Phòng (1970- 1971), điều tra nguồn lợi tôm và bãi tôm (1971-1973), điều tra bãi cá và kiểm tra công tác dự báo cá (1973-1975). Điều tra vùng biển ven bờ phục vụ chuyên môn Điều tra chuyên ngành nhằm phục vụ công tác khảo sát, thiết kế các công trình xây dựng cầu cảng, chỉnh trị luồng lạch , cải tạo bến bãi, chống sa bồi của Công ty Khảo sát Thiết kế Đường bộ Giao thông (1959-1975), đo sâu lập hải đồ, đo mực nước dự báo thuỷ triều của Phòng Bảo đảm Hàng hải Bộ Tư lệnh Hải quân (1959-1975), điều tra sự biến động theo mùa của nồng độ muối (S%o) và những ảnh hưởng của thời tiết đến sản lượng muối ở Văn Lý (1970-1971) và Bằng La - Hải Phòng (1973-1975). 1.2.2. Hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ 1954-1975 Năm 1954 nhà đương cục Pháp ở Đông Dương chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam thời đó Viện Hải Dương học Đông Dương, sau đổi tên thành Hải học Viện Nha Trang. Từ 1954 tới 1975, Hải học Viện Nha Trang do có nhiều khó khăn về tổ chức, tài chính, phương tiện kỹ thuật nên hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về sinh vật biển, sử dụng các tư liệu đã có. Ngoài ra Viện cũng đã tổ chức hoặc tham gia thực hiện một số 23
- chuyên khảo sát nhỏ như : điều tra đảo Phú Quý, điều tra trữ lượng phân chim trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa (1973), tham gia khảo sát địa chất vùng Cam Ranh, Côn đảo (1965-1966), nghiên cứu âm học, đo đạc địa hình, quan trắc thuỷ triều và tính hằng số điều hoà, dự báo mực nước biển ở một số nơi. Trong thời gian này, Hải học Viện Nha Trang là thành viên của tổ chức IOC, tham gia một số chương trình nghiên cứu biển và hải dương học khu vực như NAGA (1959-1961), CSK (1965-1977). Hoạt động điều tra nghiên cứu biển quan trọng ở vùng biển phía nam Biển Đông do Viện Hải dương Scripps California Mỹ hợp tác với chính quyền miền Nam tổ chức thực hiện với sự tham gia của Sở Nghề cá và Hải quân Thái Lan, nhằm tìm hiểu những vấn đề cơ bản về điều kiện tự nhiên (hoàn lưu nước, thuỷ hoá, địa hình đáy biển, năng suất sinh học), đánh giá nguồn lợi sinh vật ở vùng biển phía đông nam Việt Nam và vịnh Thái Lan. Tàu điều tra chủ yếu là tàu "Stranger" của Mỹ và một số xuồng máy của Hải quân và Hải học viện Nha Trang. Chương trình điều tra được tiến hành từ tháng 6/1959 tới tháng 6/1961, thực hiện 5 chuyến khảo sát ở vùng biển phía nam Việt Nam, 6 chuyến ở vịnh Thái Lan, bao gồm các chuyến khảo sát cơ bản, mô tả khái quát trong năm đầu và các chuyến bổ sung trong năm sau. Các tuyến điều tra gồm mặt cắt ở vịnh Thái Lan và 6 mặt cắt ở vùng Biển Đông nam Việt Nam từ Đà Nẵng tới Cà Mau. Các trạm khảo sát cách xa nhau 30-40 hải lý, tới độ sâu 1.000m, một số trạm tới 4.000m. Ngoài các trạm điều tra mặt rộng còn có các trạm khảo sát thuỷ văn liên tục ngày đêm, các trạm đặc biệt khảo sát địa hình và chụp ảnh các hiện tượng đặc biệt ở đáy biển (hình 5). Kết quả chương trình NAGA đã được công bố từ 1960-1973 trong 17 báo cáo khoa học về các vấn đề vật lý thuỷ văn (Wyrtki. 1961 ; Robinson, 1974), cấu trúc rìa lục địa (Parke, Emery, Szymankiawics, Reynolds, 1971), sinh vật (Alvarino, 1967; Brinton, 1961 :Imbach, 1967; Shino, 1963; Stephenson, 1967, và các tác giả khác ). Đây là những tư liệu rất có giá trị, với những số liệu và các luận điểm rất cơ bản về các yếu tố điều kiện tự nhiên, đặc biệt là về vật lý thuỷ văn của vùng biển phía nam Việt Nam và Biển Đông. b. Chương trình khảo sát nghề cá viễn duyên Nam Việt Nam (1968-1971) Chương trình này được thực hiện trong thời gian 1968-1971 với sự tài trợ của tổ chức FAO, Hoa Kỳ và Hà Lan. Mục tiêu của chương trình là tìm thêm ngư trường và đối tượng khai thác nằm ngoài khơi Biển Đông, phục vụ cho nhiệm vụ đánh bắt hải sản vùng biển xa bờ. Phạm vi điều tra gồm toàn 24
- thềm lục địa Nam Việt Nam tới độ sâu 200m, cách xa bờ 20 hải lý, từ vĩ độ 200N tới vùng biển Malaysia, Indonesia, vịnh Thái Lan với diện tích điều tra khoảng 960.000 km2, sử dụng hai tàu điều tra Kyoshi Maru 52 và tàu Hữu Nghị. Từ năm 1969 tới 1971, tàu Kyoshin Maru đã thực hiện 33 chuyến khảo sát kéo lưới đáy thí nghiệm trên 406 ô, mỗi ô kéo lưới 8 lần trong năm. Tàu Hữu Nghị đã tiến hành 12 chuyến khảo sát trữ lượng tôm bằng lưới giã trên 45 ô ở ven bờ và 92 ô ở ngoài 20 hải lý từ vĩ độ 8"N tới 110N. Từ tháng 1.1971, tàu Hữu Nghị lại thực hiện 20 chuyến khảo sát nguồn lợi cá nổi trên vùng biển từ vĩ độ 70N đến 160N, cách xa bờ trên 20 hải lý và sâu trên 50m. Các kết quả của Chương trình này đã cho được những kết luận khái quát về các yếu tố môi trường, bãi cá, bãi tôm, đánh giá trữ lượng tôm, cá, mùa vụ đánh bắt và các vấn đề kỹ thuật đánh bắt (thuyền, lưới), chế biến, bảo vệ nguồn lợi, thị trường tiêu thụ. 25
- Hình 5 Lộ trình chuyến khảo sát tháng 11-12/1959 trong vùng biển Nam Việt Nam của Chương trình NAGA (1959-1960) Hoạt động điều tra vùng biển Việt Nam của Hải quân Hoa kỳ Từ 1965 đến 1966, cơ quan Hải dương học Hải quân Hoa Kỳ đã sử dụng các tàu điều tra Rchoboth, Serano, Cable Enterprise tổ chức các chuyến điều tra trên toàn Biển Đông, nhằm đo sâu lập hải đồ, xác định cấu trúc nằm ngang và thẳng đứng của trường tốc độ âm để phục vụ việc sử dụng máy SONAR-3, thu thập các số liệu về biển ven bờ, cung cấp số liệu để đánh giá các thông số âm học, chuẩn bị cho các kế hoạch điều tra sau này. Các nội dung trên được thực hiện tại 31 trạm lấy mẫu nước ở các tầng tiêu chuẩn, 10 trạm quan trắc hải dương, 4 trạm âm học đại diện cho khu vực biển khác nhau trong vùng biển từ Nam Đài Loan tới NamVũng Tàu bao gồm cả vùng trung tâm Biển Đông. Tiếp theo cuộc điều tra này, còn có một cuộc điều tra vùng biển ven bờ Nam Việt Nam bằng tàu Serrano nhằm mục đích thu thập số liệu về dòng chảy ven bờ và trầm tích đáy bể xây dựng bản đồ thuỷ văn, các số liệu về điều kiện thuỷ lý hoá học nước ở những khu vực biển trọng yếu như vịnh Cam Ranh (12 trạm), Vịnh Nha Trang (6 trạm), Côn Đảo (20) trạm. 1.2.3. Hoạt động thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam trước 1975 Hoạt động thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Nam Việt Nam, trước hết là địa chất - địa vật lý bắt đầu từ năm 1967, với hoạt động khảo sát từ hàng không lập bản đồ tỉ lệ 1 : 250.000 phủ kín khắp phần đất liền với đới ven biển của Hải quân Hoa Kỳ. Trên 200 điểm đo trọng lực, tập trung chủ yếu dọc ven biển Nam Việt Nam, 19.510 km tuyến địa chấn và lấy mẫu địa chất ở phần phía Nam Biển Đông đã được thực hiện. Năm 1969 Công ty Ray Geophysical Mandrell đã tiến hành đo địa vật lý ở vùng thềm lục địa miền Nam Việt Nam và phía nam Biển Đông với tổng số 3.482 km tuyến địa chấn và đầu năm 1970 lại tiến hành đo đợt 2 nhiều tuyến địa vật lý dài 8,639 km ở phía nam Biển Đông và dọc bờ biển Nam Việt Nam kết hợp các phương pháp địa chấn, trọng lực và từ. Vào các năm 1973 - 1974, các Công ty dầu khí nước ngoài như Mobil, Pecten, Exxon Union Texas Marathon, Sunning Dale sau khi trúng 26
- thầu khoảng 40 lô trên thềm lục địa Nam Việt Nam đã tiến hành khảo sát trên nhiều lô riêng biệt, với khối lượng hàng chục nghìn km tuyến địa vật lý. Trên cơ sở các tài liệu đo được đã tiến hành phân tích liên kết phân chia ranh giới địa chấn, xây dựng một số bản đồ đẳng thời tỉ lệ 1:100.000 các lô riêng biệt và tỉ lệ 1: 50.000 cho một số cấu tạo có triển vọng dầu khí như Bạch Hổ, Dừa, Mía 1.2.4. Hoạt động điều tra nghiên cứu biển Việt Nam sau năm 1975 Việc thống nhất đất nước năm 1975 đã tạo ra tình hình mới cho hoạt động điều tra nghiên cứu biển ở nước ta, với một vùng biển thống nhất rộng gấp 3 lần đất liền, một đường bờ biển dài trên 3.260km. Việc lực lượng cán bộ khoa học về biển ở cả hai miền Nam và Bắc được thống nhất lại, các cơ sở nghiên cứu khoa học ở các ngành đã có và mới xây dựng ở hai miền được tổ chức lại, là điều kiện thuận lợi để có thể tổ chức thực hiện các chương trình điều tra nghiên cứu biển của Nhà nước và các ngành trong phạm vi cả nước. Chương trình điều tra tổng hợp vùng biển ven bờ Thuận Hải - Minh Hải (1977-1980) Đây là một trong 4 chương trình của Nhà nước đầu tiên về điều tra tổng hợp vùng lãnh thổ trọng điểm trong kế hoạch 5 năm 1976-1980, là Chương trình điều tra nghiên cứu biển ở quy mô trung bình, được tổ chức thực hiện với khả năng phương tiện và lực lượng hiện có của ta lúc đó. Mục tiêu của Chương trình là cung cấp các dẫn liệu, số liệu cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi biển của vùng biển giảm nguồn lợi hải sản, phục vụ các ngành sản xuất, quốc phòng trên biển, góp phần thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước 1976-1980 làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế cho thời gian sau, đề xuất phương hướng biện pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi biển và thềm lục địa nước ta. Chương trình gồm 16 đề tài điều tra nghiên cứu về vật lý thuỷ văn, địa hình địa mạo, địa chất, nguồn lợi sinh vật và khoáng sản vùng thềm lục địa, ven biển và cửa sông. Tham gia thực hiện Chương trình có các cơ quan nghiên cứu khoa học biển thuộc Viện Khoa học Việt Nam, Bộ Hải sản, Bộ tư lệnh Hải quân, Tổng cục Địa chất, Tổng cục Dầu khí, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Bộ Giáo dục, Bộ Đại học, Bộ Y tế, Cục Đo đạc Bản đồ Nhà nước và các địa phương ven biển, do Viện khoa học Việt Nam chủ trì. 27
- Phạm vi điều tra bao gồm dải đất ven biển rộng 30-40 km tính từ bờ biển, từ Phú Khánh tới Minh Hải, với diện tích khoảng 25.000 km2. Phần khảo sát trên biển nhìn chung kéo dài từ vĩ độ 70 - 120 Bắc, kinh độ 1050 - 1150 Đông. Hoạt động khảo sát trên biển do các tàu Biển Đông (Viện Hải sản), NCB-03 (Viện Nghiên cứu Biển) đảm nhiệm. Tàu Biển Đông đã thực hiện 12 chuyến khảo sát, đường dò cá tổng cộng dài 34.650 hải lý, khảo sát 333 lần/trạm, tới độ sâu 500m, cách xa bờ 300 km. Tàu NCB-03 đã thực hiện 5 chuyến điều tra tổng hợp theo 18 trạm mặt rộng và 1 trạm liên tục tới độ sâu 125m, cách xa bờ 100km . Toàn khu vực biển điều tra có diện tích khoảng 10.000 km2. Chương trình được thực hiện trong 3 năm (1977-1980) đã thu một khối lượng tư liệu giá trị về điều kiện tự nhiên, sinh vật, khoáng sản của vùng biển phía Nam còn ít biết, phát hiện nhiều vấn đề quan trọng của vùng biển nhiệt đới mà trước đây còn chưa rõ, đặc biệt là các vùng nước trồi (upwelling) trên vùng biển lục địa phía nam các hệ sinh thái vùng biển cửa sông với hệ thực vật sú vẹt phát triển, đặc tính phân bố di động của cá nổi, sinh vật nổi vùng nhiệt đới và các vấn đề khác Một ý nghĩa quan trọng khác của Chương trình là ở chỗ đây là lần đầu tiên ta tổ chức thực hiện một chương trình điều tra biển liên ngành, với phương tiện kỹ thuật của ta hiện có, không có sự hỗ trợ, tham gia của nước ngoài, qua đó có được kinh nghiệm tốt cho các hoạt động điều tra nghiên cứu biển lớn sau này. Chương trình điều tra tổng hợp biển và thềm lục địa Việt Nam (1981-1985) (Chương trình 48-06) Với kinh nghiệm tổ chức thực hiện và lực lượng tập hợp được trong chương trình Thuận Hải - Minh Hải. Chương trình Điều tra Nghiên cứu Biển 48-06 giai đoạn 1981-1985 đã mở rộng ra trên phạm vi toàn vùng biển. Đây là lầm đầu tiên ta có một chương trình điều tra cơ bản về biển ở cấp Nhà nước tương đối toàn diện, đồng bộ, lớn về quy mô, địa bàn hoạt động cũng như nội dung khảo sát. Chương trình gồm 13 đề tài, tập trung các vấn đề cơ bản của vùng biển Việt Nam, trong đó chú ý đến các hệ sinh thái nhiệt đới tiêu biểu, dải ven biển, các quá trình sinh học và động lực như năng suất sinh học sơ cấp, nước dâng trong bão Chương trình do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì với sự tham gia thực hiện của các cơ quan đã tham gia Chương trình Thuận Hải - 28
- Minh Hải. Các hoạt động hợp tác với nước ngoài (Liên Xô) của các ngành như Viện Khoa học Việt Nam, Bộ Thuỷ sản, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn đã hỗ trợ cho chương trình khảo sát vùng biển khơi, vùng sâu mà ta chưa có khả năng tiến hành do yêu cầu chi phí về phương tiện quá lớn. Sau 4 năm hoạt động. Chương trình đã thu được những kết quả đáng kể. Từ chỗ chỉ có những tư liệu về từng khu vực biển, lần đầu tiên đã xây dựng được phác hoạ bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên trên phạm vi toàn vùng biển và thềm lục địa Việt Nam trong khung cảnh Biển Đông, về khí tượng thuỷ văn, động lực, địa hình, địa mạo, phân bố trầm tích, cấu trúc địa chất, phân bố sinh vật, đánh giá một số nguồn lợi sinh vật và khoáng sản ven bờ, triển vọng dầu khí ở mức độ dự đoán, đặc trưng các hệ sinh thái biển nhiệt đới như : rừng sú vẹt, rạn san hô, đầm phá ven biển, vùng triều cửa sông. Trên cơ sở các kết quả này, bước đầu đề xuất phương hướng, biện pháp sử dụng hợp lý, bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên, các hệ sinh thái biển. Với những kết quả nói trên. Chương trình 48-06 có thể coi là một bước phát triển của hoạt động điều tra nghiên cứu biển nước ta, từ mức độ khu vực đã tới mức độ bao quát trên toàn vùng biển, nâng cao hiểu biết về các vấn đề cơ bản của biển nước ta. Chương trình điều tra nghiên cứu tổng hợp điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và một số vấn đề kinh tế xã hội biển phục vụ phát triển kinh tế biển (1986-1990). (Chương trình 48-B) Chương trình 48-B là chương trình điều tra nghiên cứu biển cấp Nhà nước thứ ba kể từ năm 1977, được tổ chức thực hiện trong kế hoạch 5 năm 1986-1990 trong hoàn cảnh có nhiều đổi mới. Ngành kinh tế biển trước hết là hải sản và dầu khí, trong tình hình chung đã có nhiều chuyển biến của đất nước ta, đang đặt ra nhiều vấn đề của thực tiễn sản xuất cần giải quyết. Lực lượng khoa học kỹ thuật biển nước ta cũng đã có những bước phát triển về tổ chức cũng như về trình độ, từ chỗ chỉ có một số ít cơ quan nghiên cứu biển chuyên trách trước đây, cho tới nay đã có tới hơn 20 đơn vị (viện, trung tâm, phòng thí nghiệm nghiên cứu) ở các ngành tham gia hoạt động nghiên cứu biển, với số lượng cán bộ trình độ Tiến sĩ, Phó tiến sĩ nhiều hơn. Từ chỗ chỉ quen với phương pháp thống kê mô tả, đã tiếp cận được và sử dụng các phương pháp kĩ thuật hiện đại trong nghiên cứu biển như mô phỏng toán học, kĩ thuật tin học, viễn thám, nâng cao trình độ và chất lượng nghiên cứu. Với 29
- những đặc điểm mới của tình hình trên đây. Chương trình Biển 48-B do Viện Khoa học Việt Nam chủ trì, với sự tham gia của trên 20 cơ quan thuộc 10 bộ, ngành và 16 địa phương ven biển đã có nhiều đổi mới về quy mô và trình độ nghiên cứu. Chương trình gồm 19 đề tài thuộc 7 vấn đề, trong đó có những vấn đề còn chưa đặt ra trong các chương trình trước đây như : ô nhiễm môi trường biển, kĩ thuật công trình biển, kinh tế xã hội biển. Phạm vi điều tra khảo sát của Chương trình đã bao quát được từ dải ven biển tới các quần đảo vùng khơi như Trường Sa. Bên cạnh nhiệm vụ bổ sung và hoàn thiện điều tra cơ bản vùng biển và thềm lục địa, đã có khả năng đặt ra nhiệm vụ ứng dụng phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế giao thông hàng hải, thăm dò khai thác dầu khí, hải sản Kết quả thực hiện Chương trình 48-B có ý nghĩa quan trọng đối với công tác điều tra nghiên cứu biển nước ta. Thừa kế các kết quả điều tra khảo sát đã có từ trước tới nay, được bổ sung, hoàn thiện, tổng hợp lại trong Chương trình lần này, nên đã có được một tài liệu tương đối hoàn chỉnh, đủ tin cậy về những nét đặc trưng cơ bản của điều kiện tự nhiên cũng như các nguồn lợi thiên nhiên chủ yếu của nước ta, hoàn thành một bước quan trọng nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn điều tra khái quát, làm cơ sở cho việc định hướng các nhiệm vụ khảo sát khu vực cũng như nghiên cứu ứng dụng kĩ thuật phục vụ phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu các ngành, các địa phương trong giai đoạn tới. Các kết quả nghiên cứu ứng dụng phục vụ thực tiễn sản xuất của Chương trình tuy chưa lớn, song cũng đóng góp thiết thực cho hoạt động của các ngành kinh tế, quốc phòng trên biển. Chương trình điều tra nghiên cứu biển Việt Nam, mã số KT-03 giai đoạn 1991-1995. Chương trình KT-03 có 22 đề tài, đề cập một cách toàn diện các lĩnh vực khoa học hải dương, nhưng đều tập trung vào các vấn đề điều tra nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, các nhiệm vụ an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên Biển Đông như sau : * Điều tra cập nhật các số liệu điều tra cơ bản các vùng biền còn ít được quan tâm như vùng biển ven bờ Cà Mau, Kiên Giang, vùng biền miền Trung Việt Nam theo hai hình thức, một là tự tổ chức điều tra vùng nước nông (<50m), hai là hợp tác với Viện Hải Dương học Viễn Đông Nga điều tra vùng nước xa bờ miền Trung (50-500m) bằng NC Bogorop (1.200 CV). Điều tra đánh giá đặc sản ven bờ biển Việt Nam và xây dựng các bản đồ địa chất 30
- biển tỷ lệ 1 : 1.000.000đ. * Tập trung nghiên cứu, tính toán bằng các phương pháp mô hình toán hiện đại động lực thuỷ triều Biển Đông, các qúa trình xói lở bờ biển, bờ đảo, cửa sông. * Nghiên cứu xây dựng các qui trình công nghệ dự báo sóng biển, nước dâng trong bão, dự báo biến động sản lượng khai thác và phân bố nguồn lợi cá khai thác nguồn lợi cá biển, dự báo lan truyền ô nhiễm do sự cố tràn dầu. * Xây dựng những cơ sở khoa học về xây dựng công trình trên đảo, về ranh giới thềm lục địa, và thiết kế, sản xuất các thiết bị đo hải dương. Chương trình KT-03 đã đánh dấu một bước tiến bộ về công nghệ điều tra nghiên cứu biển Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đã đặt nền tảng cho các bước nghiên cứu ứng dụng tiếp theo. Bên cạnh các chương trình điều tra tổng hợp biển của Nhà nước nói trên, còn có các hoạt động nghiên cứu từng vấn đề về biển trong các chương trình cấp Nhà nước khác do các bộ chuyên ngành quản lý như: Tìm hiểu thăm dò, đánh giá tiềm năng nguồn lợi dầu khí (Chương trình 22-01); Nguồn lợi hải sản (Chương trình 08-02, 08-A): Môi trường sinh thái ven biển (Chương trình 52.02, 52-D); Xây dựng và bảo vệ các công trình thuỷ lợi ven biển (Chương trình 06-8); Hiện tượng sa bồi, luồng lạch ở các cảng (Chương trình 36-A) và các chương trình khác. Công tác điều tra nghiên cứu biển trong giai đoạn này, ngoài các chương trình cấp Nhà nước, còn có các hoạt động của các ngành và các địa phương. Đây là các hoạt động nghiên cứu mang tính ứng dụng rõ rệt, được đẩy mạnh trong thời gian từ 1985 trở lại đây, như khảo sát hiện tượng xói lở và bồi lắng vùng cửa sông và bờ biển Hải Phòng, Thái Bình, Hà Nam Ninh, huyện Duyên Hải, các cảng miền Trung, điều tra khảo sát thuỷ văn phục vụ công trình dầu khí phát triển kinh tế các huyện ven biển, nghiên cứu kỹ thuật biển phục vụ xây dựng công trình dàn khoan biển, công trình trên nền san hô trên thềm lục địa. Cần phải kể đến cả những hoạt động hợp tác điều tra nghiên cứu biển nước ta với nước ngoài trong thời gian này. Chương trình hợp tác nghiên cứu sinh thái, các yếu tố hải dương giữa Viện Khoa học Việt Nam và Viện HLKH Liên Xô đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát bằng các tàu công suất lớn, ra tới tận khu vực Trường Sa thu được số liệu trên 10.000 điểm đo thuỷ văn, tư liệu 31
- điều tra các đảo ven bờ và vùng khơi ( Trường Sa và Hoàng Sa). Chương trình hợp tác khảo sát tuyến 1C trong Chương trình SEATAR của CCOP-IOC. Chương trình hợp tác điều tra đánh giá nguồn lợi cá biển giữa Bộ Thuỷ sản và Bộ Nghề cá Liên Xô từ 1979-1987 đã thực hiện 32 chuyến khảo sát theo ô vuông trên toàn vùng biển với hàng chục tàu lớn nhỏ. Chương trình hợp tác giữa Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn với Uỷ ban Khí tượng Thuỷ văn Nhà nước Liên Xô đã khảo sát có hệ thống theo các trạm trên toàn vùng thềm lục địa từ vĩ độ 7" đến 22" Bắc, kinh độ 103" đông với trên 200 trạm và 3 polygon. Công tác thăm dò dầu khí trên thềm lục địa trong thời gian này cũng được đẩy mạnh hơn với chính sách mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Các bể trầm tích sông Hồng, Malaysia - Thổ Chu, Cửu Long, Nam Côn Sơn được khảo sát chi tiết hơn, đã phát hiện trên 100 cấu tạo và đã khoan tìm kiếm một số cấu tạo, đã tìm thấy dầu chứa trong tầng móng ở mỏ Bạch Hổ, hiện đang khai thác. Các hoạt động hợp tác điều tra khảo sát biển trên đây góp phần quan trọng vào công tác điều tra cơ bản biển và thềm lục địa nước ta, nhất là trong điều kiện khả năng phương tiện kĩ thuật khảo sát lớn của ta còn hạn chế. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu biển Việt Nam có thể thấy rằng, trong khi vùng cực đông và nam Biển Đông đã được điều tra khảo sát từ thế kỷ trước, thì vùng biển Việt Nam chỉ mới được nghiên cứu từ đầu thế kỷ này. Những công trình nghiên cứu thực sự đóng góp vào sự hiểu biết về biển Việt Nam chỉ có từ khi thành lập viện Hải dương học Nha Trang (1930) với lực lượng chuyên viên, phương tiện kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu cần thiết. Kết quả 70 năm điều tra nghiên cứu đã cho ta hiểu biết được những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên cũng như nguồn lợi thiên nhiên vùng biển nước ta. Đây là cơ sở trong việc định hướng nghiên cứu ứng dung cũng như nghiên cứu chuyên đề, đi vào giải quyết các vấn đề quan hệ, cơ chế của các quá trình biển trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới, có ý nghĩa to lớn về khoa học cũng như về ứng dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế biển nước ta. Lực lượng cán bộ khoa học về biển nước ta, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức các cơ quan nghiên cứu cũng có bước phát triển to lớn. Từ chỗ phải dựa vào lực lượng khoa học nước ngoài, hiện nay ta đã có thể tự đảm nhiệm được việc tổ chức thực hiện những chương trình nghiên cứu lớn về biển. Từ chỗ chỉ có duy nhất (Viện Hải dương học Nha Trang), đến nay trong cả nước đã có tới hàng chục đơn vị nghiên cứu khoa học về biển ở các ngành. Trình độ cán bộ nghiên 32
- cứu từ chỗ chỉ ở mức điều tra mô tả, thống kê hiện tượng, đã có thể tiếp cận được với các phương pháp kĩ thuật hiện đại trong nghiên cứu biển, từng bước trưởng thành, tiến kịp trình độ tiên tiến thế giới. Quan hệ quốc tế về khoa học biển cũng ngày càng được mở rộng. 33
- Chương 2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên Biển đông 2.1 ĐặC ĐIểM địA CHấT ĐịA MạO Biển Đông nằm ở một vị trí đặc biệt trên bình đồ kiến trúc hiện đại của hành tinh - đới chyển tiếp giữa các miền kiến trúc kiểu địa máng uốn nếp có tuổi tạo lập khác nhau thuộc phần đông nam đại lục á - Âu và các miền động hiện đại của các đai động hành tinh Tây Thái Bình Dương và Địa Trung Hải - Hymalaya. Vì vậy, đã từ nhiều thập kỷ nay, vùng biển kỳ thú này luôn hấp dẫn sự quan tâm của nhiều nhà khoa học địa chất. Những hiểu biết cơ bản hiện nay về cấu trúc thạch quyển và tiềm năng khoáng sản của lưu vực Biển Đông dựa vào các kết quả điều tra của các nước trong khu vực là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Brunây, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và phần rất quan trọng là các kết quả nghiên cứu nhiều năm của CCop, ESCAP và một số tổ chức quốc tế khác. ở phần này chúng tôi chỉ trình bày những nội dung cơ bản về các thành tạo địa chất, đặc điểm kiến tạo, đặc điểm cấu trúc hình thái và các hoạt động động đất của Biển Đông 2.1.1. Các thành tạo địa chất Cấu trúc địa chất của biển Việt Nam được đặc trưng bởi các thành tạo địa chất đa nguồn, được sinh thành trong suốt lịch sử phát triển lâu dài khoảng 3 tỉ năm từ Tiền Cambri sớm đến nay. Các nhóm thành tạo tuổi trước Kainozoi bao gồm các hệ tầng trầm tích phun trào, biến chất và các phức hệ macma xâm nhập phân bố chủ yếu trên đới duyên hải, các đảo và quần đảo của thềm lục địa Việt Nam. Còn các thành tạo tuổi Kainozoi phủ trên toàn bộ phần còn lại của đới duyên hải, thềm lục địa, vùng đáy biển và các quần đảo biển khơi. Các đá trước Kainozoi Các thành tạo này lộ chủ yếu trên hệ thống đảo ven bờ. Tuy nhiên một số đảo ven bờ còn được cấu tạo bởi đá trầm tích và đá phun trào bazan tuổi Neogen và Đệ tứ. Chúng ta sẽ xem xét đặc điểm các thành tạo trước Kainozoi cho các vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ. Trong vịnh Bắc Bộ các đá thuộc hệ tầng Tấn Mài (0 - S) phân bố từ 34
- phía nam đứt gãy lớn Tiên Yên - Móng Cái đến quần đảo Cô Tô, trên các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, Tràng Tây, Thanh Lân, Cô Tô, phần dưới là cát kết tufogen, đá phiến sét - silic, cát kết và phần trên là đá phiến thạch anh xerixít, cát bột kết. Điệp Đồ Sơn (D1) phân bố trên vòng cung các đảo từ Hạ Mai, Nất Đất, Phượng Hoàng, Thượng Mai đến Cảnh Cước, Cao Lô, Sậu Nam, Thoi Xanh, Vĩnh Thực, gồm các trầm tích lục nguyên hạt thô : cuội sạn kết, cát bột kết, cát kết dạng quaczit và phiến sét màu tín đỏ. Các trầm tích Devon thuộc điệp Dưỡng Động (D1,2) gồm các bột kết, thấu kính đá vôi - sét và đá vôi gặp trên các đảo Cao Lô, Cái Lim, Trà Bản, Vạn Cảnh, Ngọc Vừng. Hệ tầng Lỗ Sơn (D2) phân bố trên các đảo Cái Bầu, Cái Lim, Soi Đán, Trà Bản với thành phần chủ yếu là đá vôi màu xám đen, đá vôi Đolomit, đá vôi silic, trên cùng là đá phiến silic. Các trầm tích Paleozoi thượng (C - P) phân bố rộng rãi. Hệ tầng Cát Bà (C1) chiếm diện tích chủ yếu của đảo Cát Bà, đa số các đảo đá trong vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và quần đảo Long Châu gồm đá vôi màu đen, đá vôi silic, đá vôi sét, cát bột kết. Hệ tầng Quang Hanh (C-P) phân bố ở trung tâm đảo Cát Bà và trên một số đảo nhỏ (đảo Hang Trại, Đầu Bê, Cống Đỏ ) gồm đá vôi xám trắng, đá vôi đolomit, đá vôi silic và đá vôi trứng cá. Các thành tạo Mesozoi là các đá trầm tích tuổi T3 và J1-2 có chứa than. Điệp Hòn Gai (T3 n-r hg) phân bố ở phần đông nam đảo Cái Bầu và trên các đảo Vạn Vược, Vạn Mạc, phần dưới là cuội kết, sạn cát kết, bột sét kết, đá phiến, sét than và than đá ; phần trên có cuội kết, cát kết thạch anh, bột kết và ít đá phiến sét đen. Hệ thống Hà Cối (J1-2) phân bố thành dải hẹp trên các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vận Mặc Vạn Vược, Cái Bầu và một số đảo nhỏ khác. Phần dưới của hệ tầng gồm cuội kết, cát bột kết, sét vôi, đá phiến sét than, thấu kính than; phần trên gồm cát bột kết, sét kết và thấu kính đá vôi. Đảo Bạch Long Vĩ được cấu tạo bởi đá sét kết, cát bột kết xen cuội kết tuổi Neogen. Trong vịnh Thái Lan các đảo và quần đảo được cấu tạo bởi các đá có tuổi Cổ sinh. Trung sinh và Tân sinh. Theo kết quả lập bản đồ địa chất và hiệu đính tỉ lệ 1 : 200.000 của Liên đoàn Địa chất 6 (1993) có thể tóm tắt các đặc điểm chính như sau : 35
- Cổ nhất là các đá thuộc hệ tầng Hòn Chông (D2 - C1) phân bố trên các đảo Hòn Heo và Hòn Đội Trưởng (quần đảo Bà Lụa), gồm : cát kết thạch anh xen phiến sét. Tiếp đến là hệ tầng Hòn Ngang (C), phân bố khá rộng rãi trên các đảo thuộc quần đảo Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du, gồm porfia thạch anh xen cát kết,phiến sét, chuyển lên đá fenzit, đá silic sét, đôi nơi có lớp phun trào axít. Hệ tầng Hòn Mấu (C1 - P1) có diện tích bó hẹp ở phía bắc Hòn Mấu gồm aglomerat, phiến silic xen phun trào andezit. Đã được xếp vào hệ tầng Hà Tiên (P) lộ không nhiều ở quần đảo Bà Lụa (Đá Lửa, Lò Cốc ) và phía bắc Hòn Tre Lớn, gồm đá vôi màu xám sáng, xám tối dạng khối hoặc phân lớp dày. Thuộc các thành tạo Meôi có hệ tầng Hòn Nghệ (T2), hệ tầng Phú Quốc (K1) và hệ tầng Nha Trang (K2). Hệ tầng Hòn Nghệ (T2) lộ ở tây bắc đảo Hòn Nghệ gồm đá vôi xám sáng, chuyển lên đá phiến sét, bột kết, cát kết. Hệ tầng Phú Quốc (K1) phân bố tại đảo Phú Quốc, quần đảo An Thới, Thổ Chu và một số đảo nhỏ khác, gồm cát kết dạng quaczit, sét bột kết, chuyển lên cát cuội sạn kết và cát kết. Hệ tầng Nha Trang (K2) gồm các đá phun trào axit kiềm lộ ra ở đảo Hòn Nghệ, Hòn Trung, Hòn Trước, Nam Du. Trên các đảo còn gặp các đá Macma xâm nhập tuổi khác nhau. ở Hòn Tre, Đá Bạc phân bố các đá granodiorit, monzodiorrit, thuộc phức hệ Định Quán, tuổi J3 - K1. Đảo Hòn Rái cấu tạo bởi đá granit hạt lớn, granosienit, thuộc phức hệ Đèo Cả, tuổi K2. Các đảo ven bờ Trung Bộ và Đông Nam Bộ phân bố rải rác, có thành phần khác nhau. ở phía bắc, ven bờ Thanh Hoá và Nghệ An các đảo cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích, khi ở phía nam chủ yếu là các đá macma và trầm tích phun trào. Hòn Mê (Thanh Hoá) phía đông bắc là các đá bazan andezit tuổi P2, phía tây nam đảo là các trầm tích cuội kết, cát sạn kết, bột kết màu đỏ, tuổi T3- Hòn Nghi Sơn cũng cấu tạo bởi các đá màu đỏ tương tự. Tại Hòn Ngư và 36
- Hòn Mát (ở ven bờ Nghệ An) chủ yếu phân bố các đá cát bột kết tuf phun trào tuổi T2. Các đá macma xâm nhập chiếm lĩnh đa số các đảo ven biển Trung Bộ và đông Nam Bộ Cù Lao Chàm (Quảng Nam - Đà Nẵng), cù lao Cỏ (Bình Định), cù lao Xanh (đông Cù Mông), Hòn Lớn (vịnh Văn Phong - Khánh Hoà), Hòn tre (Nha Trang), đảo Bình Ba (Cam Ranh), đảo Cái Hòn (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Hòn Khoai (Minh Hải). Đó là các đá granit granodiorit, diorit, granosyenit, tuổi từ trước Carbon (cù lao Chàm) (cù lao Cỏ, cù lao Xanh), Jura-Creta (Côn Đảo, Hòn Trứng Lớn ) đến Creta - Paleogen (Hòn Lớn, Hòn Tre, Côn Đảo). Bên cạnh các đá xâm nhập, trên một số đảo (Hòn Tre, Côn Đảo) còn gặp các đá ryolit, đaxit, tuf và cát cuội kết tuổi Creta. Cũng cần lưu ý là ngoài các đá trước Kainozoi, các đảo ven biển miền Trung còn được đặc trưng bởi các thành tạo trẻ hơn do các hoạt động núi lửa. Đó là các đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi) và vùng đảo Phú Quý (Bình Thuận), cấu tạo bởi đá bazan và trầm tích biển tuổi N-Q. Các thành tạo Kainozoi Các thành tạo Kainozoi đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc địa chất vùng biển và các miền kế cận. Chúng tạo nên kiến trúc vỏ phủ của thềm lục địa, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trũng nước sâu Biển Đông và các đồng bằng lớn ven biển (sông Hồng, sông Cửu Long ) của Việt Nam. Các thành tạo Kainozoi thường nằm phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo có tuổi cổ hơn. Cấu trúc mặt cắt của các thành tạo Kainozoi bao gồm các phân vị địa tầng có tuổi Paleogen (chủ yếu Neogen và Oligoxen), Neogen, Đệ tứ và các thành tạo phun trào bazan Neogen - Đệ tứ. Trên phạm vi vùng biển và đồng bằng ven biển Việt Nam, các thành tạo Paleogen hiện biết được ở một số mặt cắt ở phần sâu của trũng Sông Hồng, trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn gồm các trầm tích kiểu molas lục địa, tích tụ trong các bồn trũng giữa núi. Chúng được phân chia thành các hệ tầng Phù Tiên (ở trũng Sông Hồng) và cù lao Dung (ở trũng Cửu Long), có tuổi Oligoxen. Các thành tạo trầm tích Oligoxen được phân chia thành các hệ tầng với các tên gọi địa phương khác nhau là hệ tầng Đình Ca (miền võng Hà Nội), hệ tầng Trà Cú (ở đồng bằng sông Cửu Long), hệ tầng Trà Tân (trũng Cửu Long), 37
- và hệ tầng Cau (trũng Nam Côn Sơn).Chúng đặc trưng bởi các trầm tích lục địa và tam giác châu ven biển hoặc biển nông. Các thành tạo Neogen phân bố rộng rãi trong các bồn trũng Kainozoi. Chúng đã được phân chia chi tiết thành các phân vị có tuổi tương ứng là Mioxen sớm, Mioxen giữa, Mioxen muộn và Plioxen với các tên gọi địa phương khác nhau. Trầm tích Mioxen sớm được phân chia thành các hệ tầng như : hệ tầng Phong Châu (miền võng Hà Nội), hệ tầng Bạch Hồ (trũng Cửu Long) và hệ tầng Dừa (trũng Nam Côn Sơn). Mặt cắt chủ yếu bao gồm sét kết và các kết tướng tam giác châu (trầm tích biển châu thổ). Trầm tích Mioxen giữa được đặc trưng bởi phần dưới là các tập sét và chuyển lên trên là cát kết xen kẽ với sét kết và bột kết thuộc tường biển nông. Kết thúc mặt cắt là cãc trầm tích tường biển lùi, tam giác châu. Chúng được phân chia ra các hệ tầng : Phú Cừ (miền võng Hà Nội), Côn Sơn (trũng Cửu Long), Thông và Mãng Cầu (trũng Nam Côn Sơn). Trầm tích tuổi Mioxen muộn phát triển rất rộng rãi trong các trũng Kainozoi vùng biển Việt Nam, bao gồm hệ tầng Tiên Hưng (miền võng Hà Nội), hệ tầng Đồng Nai (trũng Cửu Long) và hệ tầng Nam Côn Sơn (trũng Nam Côn Sơn). Hệ tầng Tiên Hưng đặc trưng bằng trầm tích châu thổ chứa than, trong khi đó hệ tầng Đồng Nai chủ yếu là các trầm tích biển, còn hệ tầng Nam Côn Sơn lại gồm các thành tạo đá vôi, sét vôi ở phần trung tâm và cát gắn kết yếu ở phần rìa. Các thành tạo tuổi Plioxen phát triển rất rộng rãi trong phạm vi các bồn trũng thềm lục địa và các đồng bằng ven biển sông Hồng và Cửu Long. Chúng chủ yếu là các trầm tích biển. Trên phạm vi trũng Nam Côn Sơn và trũng Cửu Long phân bố rộng rãi các trầm tích biển tuổi Plioxen (hệ tầng Biển Đông) gồm sét, bột, cát. Các trầm tích Đệ tứ phân bố hết sức rộng rãi trên phạm vi thềm lục địa, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và lòng chảo nước sâu Biển Đông, nhưng mức độ nghiên cứu còn thấp và không đều. Trên phạm vi thềm lục địa đông nam, các trầm tích Đệ tứ có chiều dày đáng kể, đạt tới 600m ở trũng Nam Côn Sơn và 250m ở trũng Cửu Long (Võ Dương, Nguyễn Văn Đức, 1982), Lê Văn Cự (1986) đã chia ra các phân vị : 38
- hệ tầng Định An tuổi Plioxen - Pleistoxen sớm, hệ tầng U Minh tuổi Pleistoxen giữa, hệ tầng Đồng Tháp tuổi Pleistoxen giữa muội và hệ tầng Hậu Giang tuổi Holoxen. Trên phạm vi một số vùng của thềm lục địa Việt Nam đã phát hiện các trầm tích Pleistoxen lộ ngay trên bề mặt đáy biển. Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cấu tạo bởi san hô, mảnh vụn sinh vật và đá bazan. ở quần đảo Trường Sa mới biết được phần trên cùng của mặt cắt có tuổi Pleistoxen muộn - Holoxen (Đỗ Tuyết, 1978). Còn ở quần đảo Hoàng Sa đã xác định được các thành tạo từ Pleistoxen dưới đến Holoxen trên (Trần Tuấn Nhân, 1978). Tuổi các phân vị này được xác định khá tốt nhờ các di tích hoá thạch phong phú. Một trong những thành tạo địa chất quan trọng của Kainozoi là phun trào bazan, phân bố trên vùng duyên hải Trung Bộ và trên thềm lục địa kế cận (đảo Cồn Cỏ, cù lao Ré, đảo Tro, cù lao Thu ). Một số diện phân bố bazan trên bề mặt đáy biển thềm lục địa được khoanh định đưa vào các dị thường kiến trúc trên các mặt cắt địa chấn. Đá bazan này thường là các loại bazan olivin, bazan olivin kiềm, dolerit olivin kiềm, ít hơn là bazan trachyt, bazanit, thường có màu xanh, xám xanh, xám nâu nhạt, cấu tạo đặc xít và bọt lỗ rỗng xen kẽ lẫn nhau. ở các khu vực phân bố các đá bazan này thường còn thấy bảo tồn tốt các kiến trúc núi lửa phễu, miệng, họng núi lửa với các thành tạo đặc trưng cho tướng bùng nổ như bom, dăm núi lửa, bọt núi lửa xen lẫn trong các dòng dung nham . Một đặc điểm khác dễ nhận thấy của các bazan olivin tuổi này là kiến trúc nứt khối dạng cột lăng trụ điển hình. Thành phần khoáng vật chủ yếu của các đá bazan này (tuổi QII, IV) gồm có plagioclaz từ 10 đến 50-60%, olivin từ vài phần trăm đến 60-70%, trung bình từ 15-30%, qugit từ vài đến 15-20%, thường có nền vi tỉnh hoặc thuỷ tỉnh. Đặc biệt trong các đá bazan kiềm cao và á kiềm gặp các bảo thể đá siêu bazic có thành phần chủ yếu là peridotit, thứ đều là dunit trong các bazan trên rìa lục địa, và lerzolit- spinel, thứ đều là pyroxenit trong các bazan trên thềm lục địa. Kích thước trung bình của các bao thể đạt vài cemtimét, lớn nhất đạt tới 40cm như ở đảo Tro. Thành phần hoá học nhìn chung so với các đá bazan tuổi N-Q1 có hàm lượng SiO2 và Al2O3 thấp hơn, còn TiO2, MgO, CaO và tổng kiềm cao hơn. Về mặt trật tự thời gian thì hoạt động phun trào bazan ở rìa lục địa đã kết thúc vào khoảng đầu Holoxen, trong khi đó các hoạt động núi lửa 39
- bazan ở thềm lục địa đặc biệt là phần phía nam còn tiếp tục cho tới hiện đại. Trầm tích tầng mặt đáy biển Trầm tích tầng mặt đáy biển Việt Nam bao gồm các kiểu chủ yếu là : tảng, cuội sỏi, cát, cát chứa bùn, sét, cát vỏ sò ốc và kiểu không xác định(theo nguyên tắc phân loại của Polk R.L.) (hình 6). Các trầm tích tảng thường gặp ở các chân đảo, các mũi nhô đá gốc và một số nơi trên bề mặt đáy biển : ở ngoài khơi Vũng Tàu ở độ sâu nước 30m, ở vùng biển Khánh Hoà, vùng Hòn Lớn Nha Trang và trong vùng biển Ninh Thuận - Minh Hải. ở thềm lục địa phía bắc (vịnh Bắc Bộ và bắc Trung Bộ), tảng chỉ gặp rải rác ở những nơi địa hình đặc biệt như vùng cửa sông, eo biển và giữa các chân đảo (cửa sông Hà Cối, eo biển Cửa Đại, vùng Tiên Yên, Trà Cổ, Đầm Hà ). Nếu trong thành phần của các tảng ở phía nam giàu cacbonat và đá vôi thì ở phía bắc tảng lại có thành phần chủ yếu là đá phun trào axits, cát kết, cát bột kết giàu silic; độ mài tròn và hình dạng, kích thước của đá tảng ở phía bắc cũng khác biệt so với phía nam. Nhìn chung, trên bề mặt thềm lục địa Việt Nam, tảng chỉ có mặt ở những nơi có địa hình phức tạp, đặc biệt chúng thường ở gần hoặc ngay trong các điểm lộ đá. ở phần phía nam, cuội sỏi gặp ở những nơi có địa hình phức tạp, ven bờ, chân đảo và gần nơi có điểm lộ đá gốc. Theo thành phần chúng là các đá giàu cacbonat, đá vôi. Sự có mặt của kiểu trầm tích này trước đây đã được nhiều tác giả xác nhận và sau đó Phạm Văn Thơm (1980) đã mô tả chi tiết. ở phần phía bắc, trầm tích cuội sỏi có mặt rải rác ở các vùng ven bờ, cửa sông, có biển và giữa các đảo. Cuội sỏi ở đây tương đối đồng đều về kích thước (cửa sông Hà Cối). Trầm tích cát chiếm hầu hết diện tích bề mặt đáy biển thềm lục địa phía nam Việt Nam, trong khi đó ở vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, cát chỉ có diện phân bố không đáng kể so với các kiểu trầm tích khác. ở vùng biển phía nam, trầm tích cát phân bố thành một đới dài từ Cà Ná mở rộng về phía nam. Có thể phân chia chi tiết các loại cát lớn, cát trung và cát nhỏ. Loại cát lớn và cát trung chỉ chiếm một diện nhỏ hẹp và tạo thành một dải cát bờ Phan Thiết - Hàm Tân và vùng Bạc Liêu, chúng chủ yếu có 40
- thành phần là thạch anh, fenspat, chứa rất ít hoặc không có mảnh xác sinh vật, độ chọn lọc và mài mòn tương đối tốt. Cát nhỏ là kiểu trầm tích ưu thế trong vùng. Theo thành phần có thể phân ra hai khu vực khác nhau rõ rệt với ranh giới nằm ngang vĩ tuyến Vũng Tàu. ở khu bắc Vũng Tàu trong thành phần cát nhỏ lượng cacbonat đạt trên 10%, đôi khi đến 30%. Trong khi đó ở khu nam Vũng Tàu, cát có hàm lượng cacbonat ít hơn rõ rệt (5 - 10%) và độ chọn lọc tốt hơn nhiều. Nhìn chung, cát nhỏ có màu xám vàng, hầu như không chứa hoặc có chứa rất ít bùn cát. Trong thành phần vật chất, có các vỏ xác sinh vật, chủ yếu là các loại thân mềm (Mollusca), một ít Foraminifera và Diatomea. Thành phần chính của phần vô cơ là thạch anh trong suốt (70 - 80%), fenspat và các màng đá khác (5-10%). Các khoáng vật nặng như inmenit, magnetit, zircon và muscovít có hàm lượng rất thấp (Trịnh Thế Hiếu, 1981). ở phần phía bắc (chủ yếu là ở trong vịnh Bắc Bộ), cát có diện phân bố hẹp và thường tạo thành các đới ở trung tâm vịnh và bao quanh vùng tây nam đảo Hải Nam. Nhìn chung, cát ở đây có thành phần chủ yếu là thạch anh và fenspat. Chủ yếu là cát lớn - cát trung hoặc cát lớn lẫn cát trung. Màu sắc của cát so với phần phía nam cũng khác biệt, màu chủ yếu là vàng hơi nâu đến hơi đỏ, có lẽ do nguồn tiếp vật liệu chính là laterit. Trong vịnh Thái Lan, các trầm tích cát tạo thành hai diện nhỏ: một ở phía đông đảo Phú Quốc và một ở phía tây nam ngoài khơi đảo này. Về kích thước chúng thuộc loại cát lớn (gần đảo Phú Quốc), cát trung (ngoài khơi tây nam đảo Phú Quốc) cả hai loại cát này đều có màu hơi nâu. Trên thềm lục địa Việt Nam, kiểu trầm tích cát chứa bùn được vạch định tương đối tốt ở phía bắc, rất khó ở phía nam. Trong vịnh Bắc Bộ, cát chứa bùn có mặt ở trung tâm tạo thành một dải dạng elíp lớn bao quanh dải cát lớn - trung Bạch Long Vĩ. Ngoài ra còn ba dải khác : một dải ngoài khơi biển Thanh Hoá, dải thứ hai chạy sát bờ biển từ Nghệ An vào Quảng Nam, dải khác chạy ôm theo đới cát lớn phía tây nam đảo Hải Nam. Trong thành phần kiểu trầm tích này, tỉ lệ cát/bùn là 2/1, lượng sinh vật trung bình chiếm khoảng 10-20%, màu sắc thay đổi theo khu vực địa lý từ xám xanh (vịnh Bắc Bộ) chuyển sang xám vàng (ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng). Trầm tích bùn chứa cát phân bố rất hạn chế ở phía bắc cũng như phía 41
- nam thềm lục địa. ở vịnh Bắc Bộ kiểu trầm tích này tạo thành một lưỡi nhỏ từ phía nam Hải Phòng vươn xuống phía nam và một vài diện nhỏ ở trung tâm vịnh Bắc Bộ. ở miền Trung, kiểu trầm tích này tạo thành một dải chạy sát bờ từ Đà Nẵng vào đến Nha Trang - Khánh Hoà. ở thềm lục địa phía nam rất khó phân biệt diện tích riêng của bùn chứa cát hoặc cát chứa bùn. Chỉ ở ngoài khơi trước cửa sông Tiền, sông Hậu bùn chứa cát tạo thành một diện tích hẹp. Trong thành phần kiểu trầm tích này, tỉ lệ giữa bùn/cát là 3/1. Loại này có màu vàng phớt nâu, đây có thể là vật liệu phong hoá từ các mũi nhô và từ bờ đưa ra. Bùn-cát là kiểu trầm tích có tỉ lệ bùn/cát xấp xỉ 1/1. Kiểu này ít phổ biến trên bề mặt đáy thềm lục địa Việt Nam. Trong phạm vi phần phía nam chúng chỉ có mặt ngoài khơi xa với diện phân bố không lớn với lượng mảnh xác sinh vật thường tương đối cao (20 - 30%), màu sắc chủ yếu là xám xanh hơi nâu vàng. Cát chứa bùn sét có màu xám xanh, độ chọn lọc trung bình, độ ướt cao. Tỉ số cát/bùn sét gần 1/1 kiểu này tạo thành một dải hẹp ngoài khơi từ Phan Thiết xuống phía nam, ranh giới trong tiếp giáp cới vùng cát nhỏ rộng lớn của phần phía nam thềm lục địa Việt Nam, phía ngoài là ranh giới của kiểu trầm tích sét biển khơi Biển Đông. Ranh giới trong của kiểu trầm tích cát chứa bùn sét gần trùng với đường đẳng sâu 200m. Bùn sét và sét bùn kiểu trầm tích này về thành phần tương đối giống nhau. Tuỳ thuộc vào tỉ lệ cấp hạt lớn hơn 0.005mm và nhỏ hơn 0.005 mm để phân ra bùn sét hay sét bùn (hàm lượng cấp hạt 0.05 - 0,005mm nhiều là bùn sét ; 0.005 - 0,001 nhiều là sét bùn). ở thềm lục địa phía bắc, bùn sét và sét bùn có màu xám xanh chứa mảng xác sinh vật chiếm hầu hết diện tích bề mặt đáy biển và có xu thế vươn xuống phía nam với diện phân bố càng thu hẹp lại. Điểm đặc biệt là dải sét bùn tiền delta (avandelta) của hệ thống sông Hồng và của hệ thống sông Mê Kông có bề rộng và sự phân bố gần tương tự nhau (ranh giới ngoài ở độ sâu 20 - 22m). ở phần phía nam, các kiểu trầm tích bùn sét và sét bùn chiếm diện tích phân bố rất nhỏ, trừ một hố và rãnh sâu ở vùng biển khơi Ninh Thuận - Minh Hải. Bắt đầu từ Vũng Tàu chạy gần song song với đường bờ biển Nam Bộ ranh 42
- giới ngoài của dải bùn sét này gần trùng với đường đẳng sâu 20-22m. Đây là kiểu trầm tích tiền delta điển hình. Càng xuống phía nam bùn sét và sét bùn mở rộng dần diện phân bố, đặc biệt là bùn sét. Trong vịnh Thái Lan, khoảng 4/5 bề mặt đáy biển được phủ bởi trầm tích mịn là bùn sét và sét bùn (Emery, Niimo). Nếu so sánh giữa bùn sét và sét bùn trên toàn bộ bề mặt đáy biển Việt Nam thấy rằng phía bắc (vịnh Bắc Bộ) và trong vịnh Thái Lan lượng mảnh xác sinh vật nhiều hơn ở ven bờ thềm lục d địa phía nam. Về màu sắc, kiểu trầm tích này có màu gần tương tự nhau là xám xanh hoặc xám xanh hơi đen. Còn ở dải avandelta sông Mê Kông và Đồng Nai màu xám hơi vàng. Về cấp hạt, trầm tích trong vịnh Thái Lan mịn hơn trong vịnh Bắc Bộ. Sét là kiểu trầm tích có kích thước hạt nhỏ nhất, đồng thời là kiểu trầm tích chủ yếu của đáy biển khơi thềm lục địa Việt Nam. Chúng có màu xám hơi nâu vàng, phớt đỏ, lượng mảnh xác sinh vật rất ít (khoảng 5-7%)., thành phần chủ yếu là các khoáng vật sét. Ngoài các kiểu trầm tích được trình bày ở trên, trong phạm vi tầng mặt đáy thềm lục địa Việt Nam còn có một số kiểu trầm tích mà diện phân bố của chúng hoặc rất hẹp hoặc chỉ là các vệt lẫn trong vùng phân bố của các kiểu trầm tích khác. Đó là: cát vỏ sò ốc (Trịnh Thế Hiếu, 1981), đá trầm tích Đệ tam (Phạm Văn Thơm, 1985) và kiểu không xác định (Nguyễn Hữu Sửu, 1990). Cát vỏ sò ốc tạo thành từ vỏ sò ốc vỡ vụn, hàm lượng cacbonat khá cao (50-79%), gặp ở khu vực phía bắc vịnh Phan Thiết và ngoài khơi Phan Rang. Trầm tích có thành phần không xác định chủ yếu là các mảng đá, mảng san hô, sò ốc hỗn hợp, đặc biệt lượng cacbonát khá cao, kích thước hạt các vật liệu thu được cũng rất hỗn hợp. Chính vì vậy mà chúng được phân thành một kiểu trầm tích riêng biệt kiểu không xác định (Nguyễn Hữu Sửu, 1990). Đã phát hiện chúng ở gần cù lao Thu, Hòn Tranh trong khu vực quần đảo Katvich và gần quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, ở ngoài khơi vùng thềm lục địa nam Việt Nam ở độ sâu tương đối lớn đôi nơi gặp vết lộ đá trầm tích Đệ tam. 43
- Hình 6 Sơ đồ mẫu trầm tích tầng mặt thềm lục địa Việt Nam và vùng kế cận ( theo Nguyễn Hữu Sửu,1990) 44
- Hình 7 Sơ đồ tân kiến tạo biển Việt Nam và các miền kế cận (Theo Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, 1990) 1. Đường đẳng trị biến dạng tân kiến tạo trên lục địa 4. Đứt gẫy giới hạn các địa hào và rift 2. Đường đẳng trị bề dày trầm tích Kainozoi vùng biển 5. Trục giãn đáy đại dương đã tắt 3. Đứt gẫy không phân chia 6. Trục giãn đáy đại dương dự kiến 45
- 2.1.2. Đặc điểm kiến tạo Các kiến trúc kiến tạo chính Theo cách phân vùng phối hợp giữa nguyên tắc truyền thống theo tuổi uốn nếp kết thúc với quan điểm động lực mới về tiến hoá thạch quyển, bình đồ kiến trúc hiện đại của Biển Đông và các vùng kế cận bao gồm các yếu tố kiến trúc cơ bản là (hình 7). 1. Xecment Việt Nam của hệ uốn nếp Caledoni Việt - Trung. 2. Đới khâu kiến tạo Sông Hồng. 3. Hệ địa máng uốn nếp Việt - Lào. 4. Địa khối Indonesia. 5. Hệ địa máng uốn nếp Đà Lạt - Campuchia. 6. Khối Tiền Cambri Cardamon (Pursat). Trải qua lịch sử tiến hoá lâu dài từ Tiền Cambri sớm đến nay, bình đồ kiến trúc của thạch quyển lục địa Việt Nam và các miền kế cận đã ngày càng phức tạp bởi các thế hệ kiến trúc chủng loại khác nhau, được nảy sinh trong các kiến trúc sinh kế khác nhau. Careli, Baicali, Caledoni, Hecxini, Kimmeri và Alpi. Căn cứ vào các đặc điểm cấu trúc và tiến hoá của các thế hệ kiến trúc kể trên có thể phân chia chúng thành hai loại cơ bản : loại kiến trúc Tiền Cambri và loại kiến trúc Phanerozoi. Thềm lục địa Việt Nam có móng uốn nếp đa sinh, hợp thành từ các kiến trúc uốn nếp có tuổi sinh thành khác nhau từ Proterozoi đến cuối Trias. Cấu trúc của móng uốn nếp này có đặc tính khối khảm rõ rệt, được phản ánh ngay trong bình đồ cấu trúc của loại kiến trúc Kainozoi nằm chồng phía trên. Quá trình hình thành các kiến trúc sau địa máng thuộc các chủng loại khác nhau ở mỗi đới kiến trúc uốn nếp cụ thể đã bắt đầu vào các thời điểm khác nhau. Với các tài liệu hiện có, có thể ghi nhận những pha kịch phát vào đầu Mesozoi, vào đầu Jura và vào cuối Creta-Pleogen. Bức tranh toàn cảnh của cấu trúc Kainozoi thềm lục địa Việt Nam được phản ánh trong hình hài các đường đồng bề dày trầm tích Kainozoi, có thể hình dung là một chuỗi các bồn trũng có qui mô khác nhau và định hướng khác nhau trải trên móng uốn nếp đa sinh và khuôn lấy bờ biển hình chữ "S' 46
- của Việt Nam, chuỗi bồn trũng này bị cắt đôi thành hai phần bởi đới khâu kiến tạo kế thừa Sông Hồng được thể hiện trực tiếp trong phạm vi thềm lục địa và oằn võng sâu vịnh Bắc Bộ phương tây bắc - đông nam. Đến lượt mình, các bồn trũng Kainozoi lại được ngăn cách bởi những kiến trúc nâng (hay sụt tương đối) có qui mô bé hơn nhiều và thường chỉ là các kiến trúc rìa nhưng lại có cấu trúc nội tại rất phức tạp. Theo kết quả nghiên cứu hiện nay, các bồn trũng kể trên tuy lệ thuộc các kiểu nguồn gốc khác nhau nhưng cũng có chung một cơ chế sinh thành là căng dãn và sụt lún,và dường như đều trải qua ba thời kỳ phát triển : Paleogen, Mioxen và Plioxen - Đệ tứ. Sự phát triển của chúng nằm trong mối tương quan chặt chẽ với qúa trình phát triển của kiến trúc Biển Đông kế cận. Các kiến trúc Kainozoi của thềm lục địa được chia thành hai nhóm chính với đới khâu kế thừa Sông Hông làm ranh giới, Nhóm kiến trúc thứ nhất nằm kề phía đông bắc của đới khấu Sông Hồng. Cấu trúc nội tại của nó bao gồm các bồn trũng Kainozoi có qui mô khác nhau là Tây Lôi Châu và Nam Hải Nam. Các bồn trũng kể trên thành tạo trên móng uốn nếp tuổi Paleogen bị lún chìm của miền uốn nếp Katazia đã bị cải biến mạnh bởi các hoạt động hồi sinh macma - kiến tạo Mecozoi. Trên phạm vi thềm lục địa đới khâu Sông Hồng thể hiện là một oằn võng bù trừ sâu được giới hạn bởi các đới đứt gãy sâu có phương tây bắc - đông nam và chuyển dần về phương kinh tuyến thềm lục địa miền Trung. Cho đến nay vấn đề cấu trúc nội tại của oằn võng sâu này vẫn chưa được sáng tỏ. Căn cứ vào các tài liệu địa vật lý (địa chấn và trọng lực) có thể dự đoán bề dày các trầm tích Kainozoi ở đây đạt trên 12 km (có thể đến 14 km). Sự phân dị kiến trúc theo đường phương cũng thể hiện khá đậm nét. Đây là một đối tượng địa chất quan trọng của thềm lục địa Việt Nam nói chung. Phía tây nam của đới khâu Sông Hồng là một dải thềm lục địa hẹp thuộc phần rìa phía tây của vịnh Bắc Bộ. Trên hầu hết diện tích dải này có biểu hiện các đơn nghiêng sụt lún với biên độ đạt đến 6-7km. Nằm kề sát phía nam của dải này là bốn trũng Phú Khánh chủ yếu có phương kinh tuyến. Cấu trúc nội tại của bồn này bao gồm các trũng hẹp có chiếu sâu đến 5-6km. Có những trũng kéo dài sang phạm vi sườn lục địa và bị chắn phía đông bởi đới đứt gãy kinh tuyến Hai Nam- eo biển Sunda. ở phía nam, bồn trũng Phú Khánh tiếp giáp với đớt sụt tương đối Phan Rang đồng thời cũng là hội điểm 47
- phía bắc của các bồn trũng lớn Cửu Long (Vũng Tàu) và Nam Côn Sơn. Bồn trũng Cửu Long có phương đông bắc và cấu tạo phức tạp với nhiều hệ thống đứt gãy khác phương. Bề dày trầm tích ở đây đạt đến 8km. Dải nâng Côn Sơn đóng vai trò ranh giới của hai trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn. Bồn trũng Nam Côn Sơn chiếm diện tích rộng lớn phía đông và nam dải nâng Côn Sơn. Cấu trúc của nó bao gồm một số các trũng bậc cao được giới hạn chủ yếu bằng các đứt gãy phương kinh tuyến và đông gắc - tây nam. Biên độ sụt lún ở đây đạt cực đại hơn 10 km. Về phía đông, một sống lồi rìa ngăn cách bồn trũng Nam Côn Sơn với kiến trúc lòng chảo nước sâu Biển Đông. Về phía nam bồn trũng Nam Côn Sơn chia thành hai nhánh đới nâng Natuma. Nhánh phía tây kéo dài và bồn trũng tây Natuna. Còn nhánh phía đông tiếp tục kéo xuống phía nam và nhập vào bồn trũng Kainozoi khổng lồ Sarawan. Càng đi về phía nam thì thềm lục địa Việt Nam càng mở rộng và hoà vào các thềm lục địa Sunda. Như đã biết, kiến trúc cơ bản của thềm lục địa này là những bồn trũng Kainozoi rộng được lấp đầy các trầm tích có bề dày lớn (từ 4-5 đến 9-10 km) với tiềm năng lớn về tích tụ dầu khí trong sự thành tạo đa số các bồn trũng dẫn đầu là các đứt gãy của móng. Điều đó nói lên bản chất rift của chúng. Trong phạm vi vịnh Thái Lan phân chia được hai vòng nguồn rift : Pattani phương kinh tuyến và Malay phương tây bắc - đông nam. Võng Malay phương tây băc - đông nam. Võng Malay phân cách với rìa nam của thềm lục địa tây Biển Đông bởi một yên ngựa. Rìa nam này uốn thành vòng cung lồi về phía nam và có biên độ sụt lún đến 4-5 km. Trong cấu trúc của hệ thống giáp nối này có các trũng Peniu và Tây Natuna. Về phía bắc hệ thống này kề với vùng nước nông của thềm lục địa Việt Nam có chiều dày trầm tích Kainozoi bé (tối đa đến 2 km) và có điểm lác đác các hòn đảo nhỏ thuộc phạm vi thềm lục địa Sunda (trong văn liệu hiện nay thường gọi là đới nâng Korat). Về phía đông thềm lục địa Việt Nam tiếp giáp với biển với biển rìa Đông Việt Nam qua một đới khâu kiến tạo khổng lồ, thể hiện là một đới phá huỷ kiến tạo bao gồm các hệ thống đứt gãy chủ yếu có phương kinh tuyến nhưng có đặc tính cấu trúc và hình động học khác nhau. Đới khâu này trải dài theo dải kinh tuyến 109 - 1100, bắt đầu từ phía nam của địa khối Tiền Cambrri Nam Hải qua suốt sườn lục địa phía đông nước ta và kéo xuống phía nam dọc mạn sườn phía tây đảo Kalinantan đến eo biển Sunda ngân cách các đảo 48
- Sumatra và Java của Indonesia. Trên bình đồ đới khâu này phân cắt rõ rệt cả các kiến trúc kiểu lục địa lẫn các kiến trúc kiểu đại dương. Điều đó nói lên bản chất nguồn sâu của nó. Mô hình phân vùng kiến tạo của vực đáy Biển Đông bao gồm các yếu tố kiến trúc chủ yếu sau : 1. Lòng chảo nước sâu với vỏ đại dương mà trên đó đã bắt đầu hình thành vỏ phủ trầm tích từ Kainozoi với bề dày tầng cao. 2. Các khối bị lún chìm có vỏ lục địa tuổi Paleozoi Trường Sa (Spratly - Reed) và Hoàng Sa (Paracel-Macclefield) đang bị huỷ hoại và tách dãn cùng với việc thành tạo các hệ tầng Kainozoi có bề dày phân dị lớn. 3. Hệ thống bờ của biển rìa bao gồm các võng rìa sâu và vàch kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa. Các kiểu kiến trúc kể trên hợp thành một loại kiến trúc thống nhất kiểu huỷ hoại - gây dựng (destruction- construction) rất đặc trưng cho các miền động kiểu địa máng rìa lục địa. Lòng chảo nước sâu Biển Đông trên bình đồ lòng chảo nước sâu trung tâm Biển Đông có dạng một địa hào, thu hẹp lại trên hướng tây nam giữa hai khối vỏ lục địa lún chìm Hoàng Sa và Trường Sa. ở phía tây nam tiếp cận với sườn lục địa, kiến trúc này bị cắt ngang bởi đứt gãy kinh tuyến Hải Nam - eo biển Sunda. Lòng chảo nước sâu Biển Đông ngăn cách với biển Sulu bởi tiểu lục địa Palawan-Mindoro, tiểu lục địa này tiếp tục kéo dài về phía tây nam bằng cung đảo Plawan-Sabah. ở phía bắc lòng chảo này tiếp giáp với thềm lục địa Nam Trung Quốc qua đới đứt gãy có phương á vĩ tuyến với các địa hào hẹp kèm theo. Trong các địa hào này có mặt các thành tạo macma mafic và các hệ tầng trầm tích Kainozoi khá dày. Vỏ Trái đất của lòng chảo nước sâu Biển Đông thuộc kiểu đại dương với chiều dày 4 - 8km và bề mặt Moho nằm ở độ sâu 8 - 12km tương ứng. Phần phía đông rộng nhất của lòng chảo này là nơi được nghiên cứu chi tiết nhất. ở đây các dị thường từ mang tính chất tuyến đối xứng với phương á kinh tuyến. Theo các dị thường từ này nhận biết được pha dãn đáy biển mạnh nhất diễn ra vào khoảng 32 đến 17 triệu năm về trước với tốc độ là 2,5cm một năm. Bề dày của vỏ phủ trầm tích ở đây tăng dần từ trục dãn đáy về phía các bờ đặc biệt là về phía bờ bắc và dao động trong khoảng 0,2 đến 2km. 49
- Các khối tảng có vỏ lục địa bị lún chìm phần lớn của diện tích Biển Đông thuộc về các kiến trúc khá đặc thù, về phía đông bắc là kiến trúc Hoàng Sa, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và cồn nổi Macclefield và các phần kéo dài dưới nước của chúng về phía tây nam, còn về phía nam là kiến trúc Trường Sa bao gồm quần đảo Trường Sa và cổn nổi Reed. Khối Hoàng Sa theo một số tài liệu mới thì móng của các đảo Hoàng Sa được cấu tạo từ đá biến chất Tiền Cambri và các hệ tầng phun trào - trầm tích bị biến chất tuổi Paleozoi-Mesozoi. Vào giai đoạn trước Neogen, móng này bị nâng lên cao trên mặt biển được chứng minh bằng việc phát hiện vỏ phong hoá (dày đến 20m) có chứa bào tử và phấn hoa gốc lục địa. Sự lún chìm của khối này bắt đầu vào Oligoexen muộn - Mioxen và sau đó thành tạo các hệ tầng đá vôi ám tiêu Mioxen-Plioxen dày đến 1.000m. Với những dao động nhất định, khuynh hướng sự lún của khối Hoàng Sa tiếp tục kéo sang Pleistoxen, điều được ghi nhận bởi các ám tiêu san hô dày đến 200-260m. Quan sát được các biểu hiện phun trào bazan tập trung trong hai pha Pléitoxen sớm và muộn. Các tài liệu địa vật lý cho thấy phần lớn vùng quần đảo Hoàng Sa bị che phủ bởi các trầm tích Kainozoi có chiều dày đáng kể, đôi nơi đến trên 4 km (phía nam đảo Tri Tôn). Hình dáng các đường đồng bể dày phản ánh khá nổi bật cấu trúc khối tảng của móng quần đảo. Cấu trúc khối tảng này bị phân cắt bởi các đới đứt gãy chủ yếu có phương đông bắc và tây bắc. Theo các tuyến đứt gãy phương đông bắc ghi nhận được các đới địa hào - rift hẹp có các biểu hiện macma mafic và có chiều dày trầm tích Kainozoi không lớn. Chính bằng các kiến trúc này mà khối Hoàng Sa thoạt đầu tách khỏi rìa thềm lục địa Nam Hai Nam và sau đó thì cồn nổi Macclesficld tách khỏi chính khối tảng Hoàng Sa. Khối Hoàng Sa ngăn cách với sườn lục địa bằng các kiến trúc oằn võng địa hào có phương đông bắc. Kiến trúc này trải dọc phía bắc Hoàng Sa và có dạng sút lún không đều với biên độ tăng dần về phía sườn lục địa và đặt xấp xỉ 4.000m. ở cánh đông nam và nam, khối Hoàng Sa tiếp giáp với trũng nước sâu Biển Đông bằng một hệ thống các nếp oằn bị đứt gãy làm phức tạp thêm kiến trúc. Khối Trường Sa trong phạm vi kiến trúc có vỏ lục địa thoái hoá Trường 50
- Sa, ở phần tây nam của cồn nổi Reed đã khoan thấy trầm tích lục địa tuổi Mesozoi (Creta) bị chìm dưới các trầm tích Kainozoi ở độ sâu hơn 5.000m. Các hệ tầng Kainozoi bắt đầu bằng các trầm tích Paleoxen thượng tướng biển nông, sau đó tiếp tục một hệ tầng dày các trầm tích Eoxen biển sâu. Sau một gián đoạn trầm tích ngắn, từ Eoxen đến giữa Oligoxen muộn tiếp tục trầm đọng các hệ tầng tướng ven biển, cuối cùng phủ trên các hệ tầng vừa mô tả với gián đoạn là các hệ tầng đá vôi ám tiêu (dày đến 2.000m) tuổi Oligoxen muộn - Đệ tứ. Các tài liệu địa vật lý hiện có thường cho một khái niệm về móng âm học (mà không phải lúc nào cũng rõ về bản chất địa chất) các trầm tích trước biến dạng và sau biến dạng. Hiện đang tồn tại nhiều giả thiết khác nhau về tuổi của các trầm tích này. Phần đông đều nghiêng về lập luận cho rằng các trầm tích (dù trước hay sau biến dạng) chủ yếu có tuổi Kainozoi. Theo hình thái và đặc điểm kiến trúc của địa hình đáy, có thể xác định được nhiều yếu tố kiến trúc phá huỷ đứt gãy có phương khác nhau. Bề dày trầm tích Kainozoi trong phạm vi của khối này nhiều nơi đạt trị số lớn. Có thể phân chia được một số trũng qui mô khác nhau và định hướng cũng khác nhau : trũng bãi Suối Ngà (bề dày trầm tích đến 6.000m), các bồn trũng Nam Yết, Bình Nguyên, Kỷ Vân (đều có bề dày trầm tích trên 5.000m) Nhìn chung, bề dài trầm tích giảm theo chiều tăng dần của độ sâu đáy biển. Theo kết quả khoan nêu ở trên thì rõ ràng là thời gian sụt hạ của vùng này đã xảy ra vào khoảng cuối Paleoxen. Đặc điểm này chứng tỏ khối Trường Sa đang trải qua sự lún chìm phân dị. Toàn bộ sườn phía nam và đông nam của khối này tiếp giáp với kiến trúc oằn võng sâu kiểu địa hào - hẻm vực biển Palawan và phần kéo dài của nó về phía đông bắc. Hẻm vực biển này đóng vai trò giới hạn giữa khối Trường Sa và vách kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa bắc Kalimantan. Nếu so với khối Hoàng Sa thì địa hình kiến tạo khối Trường Sa có mức độ phân dị cao hơn nhiều. Điều đó phản ánh sự dịch chuyển các khối móng theo các phương khác nhau. Dường như trong lịch sử, khối Trường Sa đã từng có liên hệ về phía đông bắc với khối tiểu lục địa Palawan-Mindoro trượt xuống một ít về phía nam. Các tài liệu trình bày ở trên chứng tỏ rằng hai kiến trúc Hoàng Sa và Trường Sa khá giống nhau và phân biệt rất rõ với kiểu kiến trúc đại dương ngăn cách chúng - lòng chảo nước sâu Biển Đông. Bản chất lục địa của các 51
- kiến trúc này ngày càng được chứng minh bằng các tài liệu mới. Rất có thể những khối kiến trúc Hoàng Sa và Trường Sa đã từng là những hợp phần của lục địa châu á, nằm ở vùng kết thúc phía đông của hệ thống địa máng uốn nếp Việt- Lào. Chúng đã bị đập vỡ mạnh và biến dạng kiến trúc phân dị, rồi sau đó bị lôi cuốn vào sụt lún trong qúa trình hình thành trũng nước sâu Biển Đông. Vị trí kiến trúc hiện nay của chúng được xác định bởi pha tách dẫn cuối cùng của đáy biển này trong Kainozoi muộn. Lòng chảo nước sâu trung tâm Biển Đông và hai khối tảng có vỏ lục địa bị lún chìm Hoàng Sa và Trường Sa được phân cách với các thềm lục địa kế cận bởi một kiểu kiến trúc khá độc đáo được đặt tên là "Hệ thống bờ của miền nước sâu Biển Đông". Hệ thống bờ của miền nước sâu Biển Đông có những yếu tố kiến trúc chủ yếu là : Sườn lục địa, trong đa số trường hợp được thể hiện bằng vách kiến tạo có kèm theo các kiểu phá huỷ khác nhau (đứt gãy hoặc nếp oằn có thể nằm sâu). Các oằn võng sâu bù trừ dạng địa hào thuộc nhiều kiểu nguồn gốc. Vách kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa là một kiểu kiến trúc ranh giới mang đặc tính tổng hợp. Móng của kiến trúc này vẫn là thực thể của các kiến trúc lục địa nằm kế cận, nhưng các hoạt động tích đọng ở đây khá mạnh và nhiều nơi đạt chiều dày khá lớn. Ranh giới trên của kiến trúc này được vạch trong khoảng độ sâu từ 200 - 500m, còn ranh giới dưới khá phức tạp thường nằm ở độ sâu từ 1.000 - 2.000m. Nhiều đoạn của kiến trúc thể hiện là các đốt đứt gãy (như vùng rìa ngoài thềm lục địa Quảng Ngãi - Bình Thuận) kiểu các rìa động. Nhiều nơi chúng là sự ùn đống những nón phóng tích khổng lồ. Vách kiến tạo nhận biết được trong địa hình đáy biển thường là nhờ vào sự tăng dày các đường cùng độ sâu ở các rìa thềm lục địa. Điều này trùng với đới tăng cao gradient chiều dày trầm tích Kainozoi và tương ứng như vậy với đới giảm ráo riết bề dày vỏ Trái đất chủ yếu do sự vát nhọn nhanh lớp granít - biến chất. Các oằn võng sâu bù trừ dạng địa hào ở phía bắc, nơi giáp với thềm lục địa Nam Trung Quốc (kể cả Nam Hải Nam) vách kiến tạo này có kèm theo về 52
- phía biển sâu một oằn võng khá rộng dạng địa hào phương đông bắc được lấp đầy bởi các trầm tích Kainozoi dày đến 6 km và có biển hiện các macma mafic. Trên địa hình đáy biên oằn võng này thể hiện như một "eo biển" với độ sâu đến 2.000m. Một kiến trúc khác cũng sâu như vậy và đi kèm vách kiến tạo về phía biển sâu được nhận định ở phía nam Biển Đông - ở đới khớp nối Trường Sa với thềm lục địa Kalimantan. Kiến trúc này được nhắc nhiều trong văn liệu với tên gọi là "hẻm vực biên Palawan". Hẻm vực biển này hình thành trên một đới benhop đã thôi hoạt động vào Mioxen muộn. Còn bản thân kiến trúc Palawan được lấp đầy bởi các trầm tích Kainozoi khá dày đến 6km. Trên bình đồ hẻm vực biển Palawan có dạng một oằn võng vát nhọn về phía đông bắc và chuyển dạng thành đới đứt gãy đổ nghiêng dưới đảo Palawan. Một yếu tố kiến trúc nữa của các hệ thống của Biển Đông là oằn võng dạng rift trước thềm lục địa Đông Việt Nam có phương á kinh tuyến trên bình đồ kiến trúc có dạng vát nhọn ở phía bắc và mở rộng ở phía nam. Có thể oằn võng nàylà phần kéo dài của đới rift lục địa Sông Hòng, hiện đã bị di chuyển dọc theo đứt gãy kinh tuyến Hải Nam - eo biển Sunda. Những tài liệu hiện có chưa cho phép phân tích cặn kẽ cấu trúc nội tại của oằn võng này. Tuy vậycó thể nêu ra một số nét cặn kẽ cấu trúc nội tại của oằn võng này. Tuy vậy có thể nêu ra một số nét chính về kiến trúc của nó. Trên địa hình đáy biển, kiến trúc này được thể hiện như một bậc thang chuyển tiếp nhô cao ở phía bắc và nghiêng nhẹ về phía nam, tức về phía lòng chảo nước sâu. Bậc thang này cắt qua các kiến trúc trẻ khác, điều được phản ánh rõ trong sự phân bố bề dày các trầm tích Kainozoi, đạt cực đại đến 6km ở cận với vách kiến tạo. ở phía nam, vào khoảng vĩ tuyến Vũng Tàu, kiến trúc oằn võng đang mô tả khớp nối với đoạn cuối phía tây nam của lòng chảo của kiến trúc này có các dữ kiện như sau : thứ nhất là sự xuất hiện của núi lửa ngầm, trong số đó có biểu hiện cách đây không lâu (Hòn Tro) trên lãnh thổ thềm lục địa Nam Trung Bộ, thứ hai là tính hoạt động đất nâng cao rõ rệt với các chấn tiêu động đất nằm ở độ sâu 10 - 20km. Đặc điểm biến dạng tân kiến tạo Khái niệm biến dạng tân kiến tạo được đề cập ở đây bao hàm các nội dung về các quy luật đặc thù của các chuyển động tân kiến tạo và các thế hệ kiến trúc do những chuyển động này tạo ra, về các biểu hiện của chế độ địa 53



