Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức nghề nghiệp và thái độ học tập của sinh viên khối ngành sư phạm tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh

pdf 12 trang phuongnguyen 90
Bạn đang xem tài liệu "Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức nghề nghiệp và thái độ học tập của sinh viên khối ngành sư phạm tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfde_xuat_giai_phap_nang_cao_nhan_thuc_nghe_nghiep_va_thai_do.pdf

Nội dung text: Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức nghề nghiệp và thái độ học tập của sinh viên khối ngành sư phạm tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh

  1. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỖ HỒNG THỦY Viện SPKT – Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM TÓM TẮT Hiện nay khối sinh viên chuyên ngành sư phạm Kỹ thuật trong quá trình đào tạo không phải đóng học phí mà học bằng nguồn tiền ngân sách của nhà nước, nếu sau khi học xong tốt nghiệp ra trường mà không có lòng yêu nghề, không có tâm huyết làm thầy thì sẽ rất phí phạm nguồn ngân sách nhà nước đã bỏ ra để đào tạo họ. Đây là một câu hỏi lớn được đặt ra và phải nghiên cứu tìm câu trả lời thực tế để dùng nguồn kinh phí nhà nước vào đào tạo khối ngành sư phạm kỹ thuật cho có hiệu quả. Muốn vậy, những sinh viên này phải có sự nhận thức đúng về nghề nghiệp và thái độ nghiêm túc, cầu tiến trong học tập để sau khi ra trường mới thực sự là những nhà giáo yêu người, yêu nghề với đầy đủ các kiến thức chuyên môn, kỹ năng sư phạm và đạo đức nghề nghiệp, trở thành những nhà giáo giỏi của đất nước. Từ khóa: giáo viên dạy kỹ thuật, dạy nghề, trường Sư phạm kỹ thuật, sinh viên. ABSTRACT:. Currently the block specialized students in pedagogical technique training process non mà school tuition with funds of the state budget, if after finishing graduation but no passion for this job, do without enthusiasm Will he much wasted state funds was spent to train more. This is a great question be set out and right research to find practical answers to use the state budget to the training of technical teachers block to take effect results. For this, the students the proper awareness This phải career and serious attitude, for progress in learning for a new school after a teacher Actually is mà love, love my job all with the full knowledge, pedagogic skills and professional ethics, to become good teachers những of the country. Key words:. engineering teachers, vocational, technical teachers and students. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong số các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng GD, đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng, cần phải quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề, bồi dưỡng giáo viên
  2. dạy môn kỹ thuật/công nghệ ở trường phổ thông và đội ngũ chuyên gia công nghệ có trình độ về chuyên môn sâu và nghiệp vụ sư phạm giỏi. Hiện nay có quá ít sinh viên yêu thích và chọn nghề dạy học, một bộ phận học sinh chọn ngành sư phạm chỉ vì nhận thức sức học của mình khó đỗ vào những trường có những ngành có tỉ lệ chọi cao. Một bộ phận khác thấy sư phạm là nơi được miễn giảm học phí, được nhiều học bổng và là nơi bảo đảm ổn định công ăn việc làm dẫn đến nhận thức về nghề nghiệp và thái độ học tập chưa cao làm cho kết quả học tập không tốt. 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC NGHỀ NGHIÊP VÀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP 2.1. Nhận thức nghề nghiệp Nhận thức nghề nghiệp là một trong những vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với cá nhân và xã hội, vì khi chọn nghề chính là chọn cho mình một con đường sống, một lối sống trong tương lai phù hợp với bản thân cá nhân, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, chứ không chỉ đơn thuần chọn một nghề để kiếm sống cho mai sau. Đa số thế hệ trẻ thường có nhận thức không đúng về nghề. Các em chọn nghề thường chọn đỉnh vinh quang của nghề, đánh đồng tri thức nghề nghiệp với tri thức của môn học, nên khi vào học thấy thất vọng và chán nản, nhiều em bỏ học, hoặc thi chuyển trường khác, gây ra sự lãng phí thời gian, tiền bạc cho cá nhân và xã hội. Đối với ngành sư phạm thì đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định đến chất lượng của bất cứ cơ sở đào tạo nào, họ là người trực tiếp thực hiện quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo. Trong quá trình dạy học, người giảng viên không chỉ đơn thuần truyền thụ kiến thức, mà còn là người thiết kế thực thụ, tổ chức, điều khiển các hoạt động học để khơi dạy hứng thú học tập, tự giác và tích cực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. 2.2. Nhận thức về nghề giáo viên dạy nghề Nhận thức nghề nghiệp là một quá trình con người nhận biết, tìm hiểu về nghề nghiệp mình đang quan tâm. Việc nhận thức đầy đủ về nghề nghiệp mà mình đang theo đuổi và phấn đấu có ý nghĩa quan trọng đối với sinh viên nói chung và sinh viên hệ SPKT nói riêng. Để các em có thể toàn tâm toàn ý, nỗ lực phấn đấu hết mình đẻ theo đuổi nghề thì cần phải có nhận thức dầy đủ về nghề giáo viên dạy nghề như sau:  Vai trò: Góp phần đào tạo cho đất nước nguồn lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các cấp trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý
  3. thức, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, có năng lực ngoại ngữ, có tri thức xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng.  Môi trường làm việc: Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề, và trường Cao đẳng nghề. Trong các trường đại học, giáo viên sư phạm dạy nghề phụ trách dạy thực hành nghề.  Chức năng, nhiệm vụ  Đào tạo ra 1 đội ngũ công nhân lao động lành nghề, có tay nghề cao. Tay nghề cao trong 1 lĩnh vực lao động nghề nghiệp được đo ở 2 mức độ Kỹ năng và kỷ xảo nghề. Trước tiên phảo phụ thuộc vào tay nghề người thầy giáo, vì nhiệm vụ của người thầy là thông qua việc truyền thụ tri thức nghề anh phải huấn luyện cho học sinh thành tạo, tức là biết vận dụng lý luận vào thực tế để giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra. Một trong những công cụ chính đó là nhân cách người thầy dựa trên tay nghề. Thầy mà có tay nghề cao – tinh thông về chuyên môn hình thành cho hs tay nghề cao. Trong một lĩnh vực lao động nghề nghiệp cụ thể thì Kỹ xảo cao hơn kỹ năng, nhưng trong hoạt động nói chung thì ko thể nói kỹ năng và kỹ xảo cái nào cao hơn cái nào bởi vì ở mức độ kỹ năng có 2 mức độ: có những kỹ năng không thành kỹ xảo nhưng có những kỹ năng chưa trở thành kỹ xảo, cho nên một kỹ năng muốn trở thành một kỹ xảo thì phải đặt nó trong một tình huống ít thay đổi và nó phải lặp đi lặp lại có mục đích, có phương pháp, có kế hoạch thì 1 kỹ năng mới trở thành 1 kỹ xảo. 2.5. Thái độ học tập Theo tác giả A.A.Xmirmov đã căn cứ vào đối tượng của thái độ mà phân chia chúng thành các nhóm sau : Thái độ đối với xã hội, tập thể và mọi người; thái độ lao động ( làm việc ) và thái độ đối với bản thân. Theo cách phân loại này, thái độ học tập thuộc loại thái độ làm việc hay thái độ lao động – ở đây là lao động học tập, một hoạt động chủ yếu của học sinh, sinh viên .G.Witzlack cũng khẳng định về cơ bản thái độ học tập và thái độ làm việc thống nhất với nhau. Tác giả N.P.Levitop cho rằng : thái độ học tập tích cực của học sinh, sinh viên biểu hiện ở chỗ học sinh, sinh viên chú ý, hứng thú và sẵn sàng gắng sức vượt khó khăn. Tác giả đã phân tích tỉ mỉ những mặt biểu hiện này trên hành vi học tập của sinh viên trong giờ học trên lớp cũng như tự học. G.Witzlack đã phân tích thái độ học tập trong các hình
  4. thức học tập khác nhau ( thái độ học tập trên lớp, thái độ tự học trong giờ tự học ). Trong các hình thức học tập ấy, tác giả đưa ra những “ điểm tựa” cho sự đánh giá thái độ học tập như : sự nỗ lực nhận thức, sự sẵn sàng hết mình thực hiện những nhiệm vụ học tập, đặt ra những yêu cầu cao về thành tích học tập của bản thân, phản ứng với những thể nghiệm thành công hay thất bại trong học tập, có tinh thần vận dụng kiến thức. Qua phân tích các quan niệm về thái độ học tập được nêu ở trên nhất là các mặt biểu hiện của nó trong thực tế học tập chúng tôi thấy rằng : Thứ nhất, về cơ bản có một mức độ tương đồng cao giữa các ý kiến xác định những mặt biểu hiện chủ yếu của thái độ học tập. Thứ hai, những biểu hiện này tồn tại trong những hành vi học tập cơ bản của các hình thức học tập trên lớp, tự học cũng như tham gia ngoại khóa Thứ ba, các mặt biểu hiện của thái độ học tập không tồn tại độc lập với nhau mà đan xen, thâm nhập vào nhau tạo thành một bức chân dung tương đối hoàn chỉnh về thái độ học tập với tư cách một thuộc tính nhan cách của người học. Tóm lại, thái độ học tập là một thành tố, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức học tập là yếu tố bên trong quy định xu hướng tự giác, tích cực học tập (hoặc ngược lại) ở người học; được biểu hiện ra bên ngoài thông qua nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi học tập của người học. 2.6. Thái độ học tập của sinh viên Sinh viên là một tầng lớp quan trọng đối với xã hội, đây là những chủ nhân tương lai của đất nước. Sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội. Có thể đưa ra một số tiêu chí đánh giá chung về thái độ học tập của sinh viên dựa trên những biểu hiện hành vi của họ khi học trên lớp và khi học ở nhà như sau: - Thái độ trên lớp: Chăm chú nghe giảng; Ghi chép bài đầy đủ; Tham gia phát biểu ý kiến và chủ động đưa ra các vấn đề giải quyết liên quan đến nội dung môn học - Thái độ ở nhà: Dành thời gian học tập hợp lý; Tham gia tích cực có hiệu quả bài tập của nhóm; Chủ động nắm bắt và trao đổi các kiến thức mới liên quan đến môn học; Ý thức tự học tự nghiên cứu 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
  5. 3.1. Các nguyên tắc để đề xuất các biện pháp nâng cao nhận thức nghề nghiệp và thái độ học tập cho sinh viên - Thứ nhất phải đảm bảo tính khoa học: Các giải pháp đề ra phải dựa trên tình hình đào tạo thực tế của nhà trường nói chung và của Viện Sư phạm Kỹ thuật nói riêng trong quá trình dạy của giáo viên và học của sinh viên để đề ra các biện pháp. - Thứ hai đảm bảo tính phù hợp: Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước, mục tiêu đào tạo và sứ mệnh của nhà trường, đồng thời phải phù hợp với điều kiện dạy và học hiện có, đặc điểm của sinh viên khối ngành sư phạm, đặc điểm tổ chức giảng dạy của Viện Sư phạm Kỹ thuật. - Thứ ba đảm bảo tính kế thừa và phát triển: các giải pháp đề xuất dựa trên cơ sở kế thừa các hình thức đã và đang được thực hiện tại trường Sư phạm Kỹ thuật và tại Viện Sư phạm kỹ thuật. - Thứ tư đảm bảo tính khả thi và hiệu quả: giải pháp đưa ra phải phụ thuộc vào lực lượng tham gia và sau khi áp dụng các biện pháp này phải mang lại sự chuyển biên tích cực về nhận thức, về kết quả học tập của người học. 3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên 3.2.1. Cải tiến nội dung chương trình đào tạo Chương trình mới phải được xây dựng theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu thực tế, phát triển năng lực dạy học kỹ thuật dựa trên nền tảng có nhận thức đúng về nghè nghiệp và năng lực chuyên môn đã được hoàn thiện, tăng cường thời gian phát triển kỹ năng dạy học chuyên ngành và kỹ năng thực hành nghề theo tiêu chuẩn quốc gia. Chuẩn đầu ra phải đáp ứng được: Kiến thức và lập luận ngành SPKT ; Kỹ năng và tố chất cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp thuộc lĩnh vực SPKT; Kỹ năng giao tiếp và hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp thuộc lĩnh vực SPKT; Hình thành ý tưởng, thiết kế, triển khai và hoàn thiện hoạt động nghề nghiệp thuộc lĩnh vực SPKT. 3.2.2. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, quảng bá vai trò, ý nghĩa ngành nghề cho sinh viên Quảng bá thông tin về ngành nghề đào tạo một cách sâu rộng, giúp người học hiểu biết và có kiến thức về ngành mình học, biết lựa chọn hướng phát triển nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân và nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Nhấn mạnh vai trò của nhà giáo trong xã hội hiện đại. Người giáo viên là những người trực tiếp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ theo đúng mục đích giáo dục, truyền đạt cho
  6. thế hệ trẻ hệ thống tri thức khoa học, và kỹ năng, kỹ xảo lao động nghề nghiệp, truyền bá cho họ lý tưởng và đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, đào luyện họ trở thành những lớp người có ích cho đất nước. Ngày nay vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hóa, đoàn kết, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, sống trong hoàn bình, bao dung Nâng cao công tác tư vấn nghề nghiệp giúp SV có nhận thức đúng hơn nghề nghiệp, từ đó theo đuổi đam mê, cảm thấy yêu nghề và dành trọn tâm trí cho nghề nghiệp của mình. Tác động giúp người học coi trọng ngành nghề và không ngưng quảng bá ngành nghề đến với xã hội. 3.2.3. Bồi dưỡng năng lực kỹ năng nghề cho đội ngũ giáo viên Hiệu quả và chất lượng đào tạo nguồn giáo viên dạy nghề, trước hết cần nâng cao tầm hiểu biết và nhận thức nghề nghiệp cho sinh viên đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng GV tham gia giảng dạy. Hiện tại giáo viện của Viện SPKT có trình độ chuyên môn, trách nhiệm và nhiệt tình trong công tác giảng dạy và có kỹ năng dạy học để đảm bảo nhiệm vụ giảng dạy và khả năng công tác mang tính lâu dài, xong về tay nghề còn thiếu, chưa có điều kiện tiếp cận những công nghệ, phương pháp mới và sự phát triển của xã hội về các lĩnh vực nghề trong xã hội hiện nay trước thời đại công nghệ như vũ bão vì thế mà quá trình giảng dạy chưa truyền đạt sâu những thực tiễn cho SV. 3.2.4. Vận dụng Mô hình Johari Window vào hoat động cụ thể nhằm nâng cao năng lực nhận thức về nghề nghiệp Giới thiệu về mô hình Johari Window Theo tác giả Nguyễn Thanh Thuỷ trong “Vận dụng mô hình johari window trong phát triên kỹ năng tự nhận thức cho sinh viên”, mô hình Johari Window được tạo bởi hai nhà tâm lý học Joseph Luft và Harry Ingham vào năm 1955. Mô hình này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực có liên quan đến đào tạo và giáo dục và được sử dụng rộng rãi ở |Mỹ và một số nước phát triển. Mô hình này được xem là một công cụ quan trọng và hiệu quả trong đào tạo kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng tự nhận thức. Do đó, tác giả sử dụng mô hình này như là một biện pháp có tính khả thi trong việc nâng cao năng lực tự nhận thức về nghề nghiệp cho sinh viên.
  7. Mô hình gồm có một cửa sổ với 4 ô cửa trong đó: - Ô mở (Open) bao gồm những thông tin mà cá nhân người đó biết (Known to self) và người khác cũng biết (Known to others) , vùng này được xem như vùng tự do; - Ô mù (Blind) bao gồm những thông tin mà cá nhân người đó không biết (Not known to self) nhưng người khác lại biết; - Ô ẩn (Hidden) chứa thông tin mà cá nhân biết nhưng người khác lại không biết (Not know to others) - Ô chưa được biết (Unknown) chứa thông tin cá nhân không biết và người khác cũng không biết. Vận dụng mô hình vào hoạt động cụ thể Đặc điểm nổi trội của mô hình này là có tính khái quát cao. Việc vận dụng nó vào từng tình huống, hoàn cảnh hay hoạt động là hoàn toàn có thể. Tác giả đề xuất vận dụng
  8. mô hình này vào một hoạt động cụ thể thường xuyên được tổ chức và diễn ra tại Viện SPKT đó là hoạt động “Chào đón tân sinh viên”. Hoạt động “ Chào đón tân sinh viên” được tổ chức thường niên vào đầu năm học sau khi kết thúc đợt đăng ký học sư phạm của sinh viên toàn trường. Căn cứ vào nguyện vọng của sinh viên muốn phục vụ ngành sư phạm trong tương lai, nhà trường có 400 chỉ tiêu cho toàn bộ 12 ngành sư phạm kỹ thuật. Như vậy hoạt động này tổ chức nhằm hướng sinh viên quan tâm đến các thông tin chung về quá trình học tập, hình dung ra tiến trình học tập và đặt kế hoạch học tập cho tương lai, tìm kiếm các kênh thông tin cũng như cách thức nhận thông tin phản hồi từ Viện Sư phạm kỹ thuật. Với hoạt động này, mô hình Johari Window thường được sử dụng như một hoạt động chung xen kẽ các trò chơi. Các câu hỏi được đặt ra nhằm kích thích tân sinh viên có hứng thú tìm hiểu thông tin mình chưa biết, củng cố thông tin mình đã biết, chia sẻ thông tin chung cho nhóm và nhận ra những thông tin mình chưa biết. Đây là một yếu tố quan trọng cho việc nhận thức một cách rõ ràng về vai trò và vị trí nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên. Từ sự hình dung này, sinh viên sẽ chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng nghề và kỹ năng sư phạm để trở thành người giáo viên dạy nghề. Các câu hỏi được sử dụng nhằm khai thác ô mở trong mô hình + Bạn có tìm hiểu thông tin về ngành Sư phạm kỹ thuật trước khi đăng ký sư phạm không? + Bạn hãy giới thiệu về bản thân một cách ngắn gọn nhất theo hướng dẫn sau: Hình ảnh bên ngoài của tôi như thế nào? Ưu điểm về vẻ bề ngoài của tôi là gì? Tôi có những điểm mạnh và điểm yếu gì về năng lực và tính cách để phù hợp với ngành sư phạm? Tôi đã thành công trong những lĩnh vực nào?/Tôi không thành công trong lĩnh vực nào? Mục tiêu cuộc sống của tôi là gì? Tôi đang có những điều kiện thuận lợi nào để hoàn thành mục tiêu? Tôi đang gặp những thách thức và trở ngại nào trong việc đạt mục tiêu? Sở thích của tôi là gì? Tôi có thể hiểu được các đối tượng trong quá trình giao tiếp không?[ ]
  9. Tôi có ước nguyện trở thành giáo viên trong tương lai không? Tôi nhận ra được vai trò và trách nhiệm của một giáo viên không? Tôi cảm nhận như thế nào về nghề dạy học? Tôi có nghĩ rằng nghề dạy học chứa nhiều thử thách và khó khăn không? Đây là những câu hỏi giúp cá nhân bộc lộ đặc điểm nhân cách thông qua việc tự đánh giá về mình. Điều này cần thực hiện một cách trung thực và rõ ràng. Với riêng cá nhân, việc tự nhận ra điểm mạnh và điểm yếu cũng có thể khiến cá nhân muốn phủ nhận hoặc giấu kín một số thông tin trong ô ẩn. [ ] Một trò chơi “tìm hiểu thông tin về ngành sư phạm theo nhóm” được tổ chức nhằm giúp sinh viên trao đổi thông tin một cách rõ ràng và logic. Bước đầu giúp sinh viên có thể tự tin mạnh dạn chia sẻ thông tin cho người khác đồng thời khi nhận thông tin từ người khác thì cần thái độ tôn trọng, chăm chú lắng nghe để hợp tác, tránh xung đột. Đây chính là hoạt động khai thác ô mù trong mô hình. Như vậy căn cứ vào việc phân tích mô hình, tác giả cho rằng việc vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo không chỉ trong 1 hoạt động mà có thể trong nhiều hoạt động đa dạng nhằm nâng cao năng lực nhận thức nói chung và nhân thức về nghề nói riêng cho sinh viên là cần thiết và khả thi. 3.3.3. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực phát huy năng lực tự học của sinh viên Phương pháp dạy học này nhằm chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. 3.3.4. Nhà trường tạo môi trường học tốt cho sinh viên tự học Củng cố, nâng cấp, mở rộng hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm - thực hành - thực tập, thư viện; bám sát yêu cầu cúa các đề cương môn học để chuẩn bị các học liệu được coi là bắt buộc ghi trong đề cương môn học
  10. Tăng cường khả năng khai thác các tiện ích của mạng nội bộ, mở rộng nguồn tư liệu điện tử, thiết bị dạy học bằng cách ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin hiện đại. Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động tự học, nhà trường cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh viên của các bộ phận chuyên trách, các chính sách hỗ trợ của nhà trường để tạo cho sinh viên một môi trường học tập tốt nhất. 4. KẾT LUẬN Sự nhận thức về nghề nghiệp của mỗi sinh viên khi theo đuổi đam mê nghề nghiệp của mình là điều vô cùng quan trọng, nó giúp các em có được niềm tin về một tương lai tươi sáng khi vượt qua những khó khăn và thử thách trong quá trình học tập, rèn luyện của mình khi còn ngồi trên giảng đường đại học. Nhà trường, với vai trò quan trọng là giáo dục, định hướng và cung cấp tri thức nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật giỏi về nghiệp vụ, vững về tay nghề, thông thạo về kỹ năng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách khi nhu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề đang là một nhu cầu hết sức bức thiết. Chính vì vậy, cần thiết phải tiến hành đồng thời các giải pháp tác động theo hướng phát huy vai trò tích cực, chủ động của đội ngủ giảng viên và sinh viên hơn nữa. Kết hợp với các nguồn lực đổi mới theo hướng hiện đại của nhà trường, tạo cơ hội và động lực để thúc đẩy các em sinh viên học tập và bồi dưỡng thường xuyên và không ngừng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đỗ Thị Coong (2003). Nâng cao tính tự giác, tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên. Tạp chí Tâm lý học, số 3, 2003, tr.60-63 2. Hoàng Thị Thu Hiền (2012). Giáo trình Tâm lý học, NXB. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tr. 176 3. Nghiên cứu về thái độ học tập” (đăng ngày 17/7/2005) trên diễn đàn của web Tâm lý học và bạn 4. Nguyễn Thanh Thủy 2016. Vận dụng mô hình Jonhari window trong phát triển kỹ năng tự nhận thức cho sinh viên. Kỷ yếu hội thảo khoa học Sinh viên và cán bộ trẻ các trường Đại học Sư phạm toàn quốc năm 2016. Thành phố Hồ Chí Minh.
  11. THÔNG TIN LIÊN HỆ TÁC GIẢ CHÍNH Họ và tên: Lê Minh Tuấn Chữ ký: Đơn vị: Viện SPKT – Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM Điện thoại: 0937.57.07.81 Email: tuanlm@hcmute.edu.vn XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
  12. BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn B n ti ng Vi t ©, T NG I H C S PH M K THU T TP. H CHÍ MINH và TÁC GI Bản quếy n táệc ph mRƯ ãỜ cĐ bẠ o hỌ b Ưi Lu tẠ xu t Ỹb n vàẬ Lu t S hỒ u trí tu Vi t Nam. NgẢhiêm c m m i hình th c xu t b n, sao ch p, phát tán n i dung khi c a có s ng ý c a tác gi và ả ng ề i h ẩ pđh đưm ợK thuả tộ TP.ở H ậChí Mấinh.ả ậ ở ữ ệ ệ ấ ọ ứ ấ ả ụ ộ hư ự đồ ủ ả Trườ Đạ ọCcÓ Sư BÀI BạÁO KHỹ OA ậH C T ồT, C N CHUNG TAY B O V TÁC QUY N! ĐỂ Ọ Ố Ầ Ả Ệ Ề Th c hi n theo MTCL & KHTHMTCL h c 2017-2018 c a T vi n ng i h c S ph m K thu t Tp. H Chí Minh. ự ệ Năm ọ ủ hư ệ Trườ Đạ ọ ư ạ ỹ ậ ồ