Chuẩn sư phạm cho ứng dụng E/M Learning và các sản phẩm multimedia trong dạy học
Bạn đang xem tài liệu "Chuẩn sư phạm cho ứng dụng E/M Learning và các sản phẩm multimedia trong dạy học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
chuan_su_pham_cho_ung_dung_em_learning_va_cac_san_pham_multi.pdf
Nội dung text: Chuẩn sư phạm cho ứng dụng E/M Learning và các sản phẩm multimedia trong dạy học
- CHUẨN SƯ PHẠM CHO ỨNG DỤNG E/M LEARNING VÀ CÁC SẢN PHẨM MULTIMEDIA TRONG DẠY HỌC Lê Minh Tuấn1 Cùng với sự phát triển rất nhanh của các ngành khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện các sản phẩm multimedia dùng trong giáo dục đang trở nên ngày càng phổ biến. Nhiều sản phẩm đã và đang được thực hiện trong các nhà trường cũng như đang được cung cấp trên thị trường. Việc ứng dụng E/M Learning để đưa các khoá học lên Internet và công nghệ thông tin để tạo ra các sản phẩm multimedia dùng trong dạy học được nhiều cơ sở đào tạo đặt vào danh sách các công việc cần thực hiện trong chiến lược phát triển của đơn vị mình. Tuy nhiên, việc phát triển các sản phẩm này chủ yếu còn mang tính tự phát, phát triển theo nguyên tắc thử sai để dần rút kinh nghiệm thực tiễn thông qua các sản phẩm được hoàn thành. Xét trên một phương diện nào đó, sự phát triển này ít nhiều mang đến những kinh nghiệm thực tế cho các tác giả về kỹ thuật và cách thức tổ chức thực hiện sản phẩm nhiều hơn là hiệu quả của sản phẩm mang lại đối với việc học của người học. Sự thiếu vắng chuẩn sư phạm (những tiêu chuẩn về kỹ thuật thiết kế và thực hiện), cũng như những tiêu chuẩn sư phạm cơ bản làm cho các sản phẩm này bị hạn chế tính hệ thống và tính thống nhất vốn rất cần thiết trong trong thiết kế và thực hiện dạy học. Điều này gây ra khá nhiều khó khăn cho việc tổ chức học tập, tổ chức lưu trữ, tra cứu quá trình và thành tích học tập của người học cũng như giảm đi hiệu quả của kế hoạch và chiến lược trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường. Ngoài ra, việc không áp dụng các tiêu chuẩn này còn gây khó khăn cho việc đánh giá công sức và giá trị công việc của các tác giả, đôi khi còn làm hạn chế sự cố gắng của chính họ. Từ đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và chuẩn sư phạm của các sản phẩm E/M Learning và multimedia dùng trong giáo dục là một vấn đề cần được ưu tiên nghiên cứu chuyên sâu nhằm tạo ra các nội dung đào tạo nguồn nhân lực trước khi triển khai ứng dụng. I. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1 Viện Sư phạm Kỹ thuật – Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM 1
- Vấn đề cơ sở lý luận về dạy học với E/M Learning và multimedia trong dạy học đã được nghiên cứu khá nhiều tại các nước phương Tây. Từ các nghiên cứu đó, người ta cũng đã xây dựng một số hệ thống tiêu chí đánh giá cho các sản phẩm multimedia dạy học. Nếu bỏ qua phương thức chuyển giao khoá học và các hình thức kiểm tra đánh giá, việc ứng dụng E/M Learning cũng giống như ứng dụng công nghệ multimedia trong dạy học, do vậy không có sự khác biệt nhiều trong việc xây dựng chuẩn sư phạm cho E/M Learning và multimedia. Hầu hết các nghiên cứu và đánh giá về multimedia dạy học có cơ sở nền tảng là các lý thuyết học tập nổi trội như thuyết hành vi, thuyết nhận thức, thuyết kiến tạo và đặc biệt là dựa trên cơ sở phân tích tình hình áp dụng multimedia dạy học trên thực tế và đối tượng người học. Do đó, trong một chừng mực nhất định, các kết quả nghiên cứu này mang tính cá biệt. Nói cách khác, với mỗi đối tượng người học khác nhau, bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội, và trình độ phát triển công nghệ trên mặt bằng chung khác nhau cần phải có các điều chỉnh, thậm chí thiết kế hoàn toàn mới trên cơ sở các gợi ý từ các kết quả nghiên cứu này. Năm 1994, Nielsen đã xây dựng một bảng tiêu chí đánh giá các vấn đề về thiết kế giao diện người dùng theo hướng hỗ trợ nhận thức hơn là gợi nhớ và ngăn ngừa lỗi. Kết quả làm việc của người đánh giá được xem xét để xác định một cách chính xác các vấn đề về tính khả dụng của sản phẩm. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng với mỗi đánh giá nên có ít nhất từ 3 đến 5 người đánh giá. Với số lượng người đánh giá như thế kết quả phân tích cuối cùng có thể xác định đến 75% các vấn đề về tính khả dụng (nếu có) của sản phẩm. Cũng theo Nielsen, sử dụng nhiều người đánh giá hơn sẽ chỉ cho thêm kết quả phụ trong tỉ lệ phát hiện mà thôi. Năm 1996, nhà nghiên cứu Quinn đã đề xuất rằng có thể phỏng theo các phương pháp và kỹ thuật đánh giá tính khả dụng trước đó để xây dựng các đánh giá về phương diện thiết kế dạy học của các phần mềm. Trong mô hình của Quinn, nhóm các đánh giá viên sẽ bao gồm đại diện của nhóm người dùng mục tiêu, các chuyên gia thiết kế dạy học và các chuyên gia nội dung của các lĩnh vực liên quan. Bảng tiêu chí đánh giá lúc này bao gồm các thành phần của một thiết kế dạy học chuẩn mực dựa trên các nguyên lý của các lý thuyết dạy học liên quan. 2
- Quinn cũng đã thử phát triển một danh sách gồm có 8 tiêu chí đánh giá dựa trên các lý thuyết như thuyết nhận thức, học tập theo vấn đề, và hướng dẫn với công nghệ. Sở dĩ ông lựa chọn các lý thuyết này, dù có sự khác biệt nhau về đối tượng và kết quả, vì nói chung các lý thuyết đều có xu hướng kiến tạo và có chung các đặc điểm là (1) người học được lôi cuốn vào các hoạt động sắp xếp theo trình tự và (2) người học có sự đối chiếu theo hướng dẫn của người dạy trong khi học. Dù đã có đề cập đến vai trò của chuyên gia nội dung trong nhóm các đánh giá viên nhưng bảng tiêu chí của Quinn lại không đặc biệt chỉ ra các vấn đề thuộc về nội dung. Bảng các tiêu chí của Quinn về thiết kế dạy học dĩ nhiên không thay thế đánh giá về tính khả dụng, dù cũng có thể xác định một số vấn đề giống như của đánh giá về tính khả dụng. Vì vậy, Quinn đã đề xuất nên thành lập nhóm đánh giá viên gồm từ 6 đến 8 thành viên cho mỗi quá trình phát triển sản phẩm. Một số nhà nghiên cứu khác cũng nhận thấy được tiềm năng của các phương pháp đánh giá heuristic đối với phần mềm giáo dục. Năm 1997, Squires đã phân biệt giữa đánh giá dự đoán (predictive evaluation) do người dạy thực hiện trước khi mua phần mềm và đánh giá thể hiện (interpretive evaluation) của phần mềm khi sử dụng với người học. Ông cho rằng các kỹ thuật đánh giá dự đoán như viết phân tích, phê bình, hoặc sử dụng các bảng kiểm và khuôn mẫu không để ý đến bối cảnh và mất thời gian. Ông chủ trương sử dụng bảng tiêu chí đánh giá dự đoán. Gần đây nhất vào năm 1999, Squires và Preece đã đưa ra một phương pháp đánh giá dự đoán các multimedia giáo dục dựa trên một bộ các tiêu chí có tích hợp các vấn đề về tính khả dụng và học tập của người học. Trong đó tính chất xác thực của bối cảnh (contextual authenticity) và nhận thức (cognitive authenticity) được xem là các thành phần quan trọng trong đánh giá phần mềm sử dụng trong môi trường học tập kiến tạo xã hội. Với tính xác thực của nhận thức, các mặt như sự cộng tác và chương trình đào tạo được xác định là then chốt. Với tính xác thực của bối cảnh, các khía cạnh như sự tín nhiệm, mức độ phức tạp và quyền sở hữu được xem là then chốt. Các khía cạnh này được xem xét trong phạm vi của 10 tiêu chí đánh giá tính khả dụng của Nielsen (1994). Bảng tiêu chí đánh giá học với phần mềm cuối cùng của Squires và Preece gồm có 8 tiêu chí. 3
- Trong bài viết Đánh giá heuristic cho multimedia giáo dục: từ lý thuyết đến thực hành, tác giả P.R. Albion đã trình bày các bảng tiêu chí đánh giá mà ông hiệu chỉnh lại trên cơ sở các bảng tiêu chí đánh giá của Nielsen, Quinn, và một bảng tiêu chí đánh giá về nội dung do chính ông xây dựng với mong muốn làm cho các vấn đề trong bảng tiêu chí dễ hiểu hơn đối với người đánh giá chưa thành thạo về kỹ thuật như sau : Bảng 1: Tiêu chí đánh giá thiết kế giao diện (Albion, hiệu chỉnh từ Nielsen) TIÊU CHÍ MÔ TẢ Đảm bảo hiển thị rõ ràng Duy trì thông tin về những gì đang diễn ra cho người học trạng thái của hệ thống biết thông qua các phản hồi kịp thời và đúng lúc. Tối đa hóa sự tương đồng Sử dụng ngôn ngữ đơn giản và trong sáng. Thông tin giữa hệ thống và thực tế được trình bày theo trật tự thời gian và logic. Tối đa hóa khả năng kiểm Người sử dụng có thể thoát khỏi vị trí hiện hành và có thể soát và sự tự do của người thực hiện lại thao tác (undo) khi mắc lỗi. dùng Đảm bảo tính nhất quán và Với cùng một vấn đề, người dùng không phải băn khoăn hợp chuẩn có những từ, trạng thái hoặc hành động khác hay không. Phần mềm bám sát các tiêu chuẩn của hệ điều hành đang sử dụng. Ngăn ngừa lỗi Thiết kế cung cấp những hướng dẫn để giảm khả năng rủi ro do lỗi của người sử dụng. Hỗ trợ tái nhận thức, không Các đối tượng, hoạt động và tùy chọn trực quan trên màn hỗ trợ tái hiện hình. Người dùng không cần phải ghi nhớ. Thông tin trực quan và dễ truy cập bất cứ lúc nào. Hỗ trợ sử dụng một cách hiệu Cho phép người dùng có kinh nghiệm sử dụng phím tắt quả và linh hoạt và thiết lập lại các cài đặt cho thích hợp. Thiết kế đẹp và đơn giản Phần mềm được thiết kế đẹp, không hiển thị các thông tin không cần thiết hay ít được sử dụng. Hỗ trợ người dùng nhận Thông báo lỗi được diễn đạt bằng ngôn ngữ dễ hiểu, chỉ dạng, chuẩn đoán và khôi rõ lỗi và kèm theo giải pháp khắc phục. phục lại hệ thống khi mắc lỗi Cung cấp giúp đỡ và tài liệu Phần mềm cung cấp trợ giúp và tài liệu trực tuyến thích hợp, truy cập dễ dàng và có liên quan đến nhu cầu của người dùng. Bảng 2: Tiêu chí đánh giá thiết kế sư phạm (Albion, hiệu chỉnh từ Quinn) 4
- Mục đích và mục tiêu rõ ràng Nêu rõ cho người học biết cần phải hoàn thành những gì và thành quả sẽ đạt được sau khi sử dụng phần mềm/ chương trình là gì. Bối cảnh có ý nghĩa với Các hoạt động trong phần mềm là các tình huống thực tế, người học và lĩnh vực nghiên tạo hứng thú và hấp dẫn người học. cứu Nội dung rõ ràng, trình bày Các thông báo trong phần mềm rõ ràng. Phần mềm hỗ trợ và điều hướng linh hoạt, đa người học tiếp cận nội dung theo nhiều con đường khác dạng nhau. Người học có thể tìm được thông tin có liên quan khi đang tham gia vào một hoạt động nào đó. Hỗ trợ hoạt động Phần mềm cung cấp sự hỗ trợ cho các hoạt động của người học để có thể khai thác các năng lực có sẵn khi gặp phải các kiến thức và vấn đề khó. Vận dụng nội dung tiếp thu Phần mềm đòi hỏi người học phản hồi trên cơ sở sử dụng các nội dung lĩnh hội được. Đánh giá quá trình Phần mềm cung cấp các phản hồi mang tính kiến tạo theo mức nỗ lực của người học. Đánh giá theo năng lực Phần mềm cung cấp thành quả rõ ràng và đo lường được, hỗ trợ đánh giá theo năng lực thực hiện. Hỗ trợ khả năng áp dụng và Phần mềm tạo điều kiện cho người học áp dụng các kỹ kỹ năng tự học năng của mình bên ngoài môi trường học tập và tạo điều kiện thuận lợi để người học tự hoàn thiện kiến thức và kỹ năng. Hỗ trợ học tập cộng tác Phần mềm cung cấp cơ hội và hỗ trợ cho việc học thông qua tương tác với người khác bằng các thảo luận hoặc các hoạt động có tính cộng tác khác. Bảng 3: Tiêu chí đánh giá nội dung (Albion) Thiết lập bối cảnh Hình ảnh, văn bản và các tài liệu khác có liên quan tạo cho người học cảm giác giống như thực tế. Phù hợp với thực tế nghề Kịch bản và các nhiệm vụ thực hiện phù hợp hoặc lấy từ nghiệp thực tế nghề nghiệp. Thể hiện cách giải quyết vấn Giải pháp mẫu đưa ra thể hiện được cách giải quyết vấn đề của thực tế nghề nghiệp đề của thực tế nghề nghiệp và thách thức người dùng xem xét các giải pháp thay thế khác. Tài liệu tham khảo có liên Tài liệu tham khảo được đóng gói theo chương trình, phù quan hợp với kịch bản và mang tính vừa sức. Trình bày tài nguyên video Nội dung các đoạn video sử dụng trong chương trình có liên quan, dễ truy xuất và đọc được. Trợ giúp của chương trình Các trợ giúp ngữ cảnh hỗ trợ người dùng xác định các tài mang tính hỗ trợ, không nguyên liên quan và có liên quan đến kịch bản mà không mang tính mô tả gây cản trở các phản hồi cá nhân của người học. 5
- Tài liệu gắn kết và thu hút Cách trình bày và nội dung của phần mềm khuyến khích người dùng tiếp tục làm việc theo các kịch bản. Trình bày tài nguyên Phần mềm giới thiệu các tài nguyên có ích để phát triển nghề nghiệp một cách hấp dẫn và dễ truy xuất. Hiệu quả chung của tài liệu Tài liệu giúp tăng sự tự tin và khả năng tích hợp công nghệ thông tin vào việc dạy và học của người dạy một cách hiệu quả. Các tiêu chí được trình bày trên mẫu khảo sát. Đánh giá viên sẽ cho điểm mỗi tiêu chí từ 1 (kém) đến 5 (xuất sắc). Nếu tiêu chí không áp dụng được hoặc không có khi đánh giá sản phẩm thì ghi là NA (không phù hợp). Ngoài ra còn chừa chỗ trống để viết nhận xét thêm. Việc nghiên cứu các tiêu chí đánh giá các sản phẩm multimedia trong dạy học ở nước ta hầu như chưa có những kết quả đáng quan tâm. II. PHÂN LOẠI CÁC HÌNH THỨC MULTIMEDIA DẠY HỌC Multimedia dạy học là tất cả các sản phẩm ứng dụng công nghệ thông tin ở dạng kết hợp nhiều kênh thông tin và tương tác vào dạy học như giáo án điện tử, sách điện tử, bài giảng điện tử, giáo trình điện tử, E/M Learning mà trong đó có sự tích hợp phong phú các thành phần phương tiện như chữ, đồ họa, âm thanh, màu sắc, hoạt hình, mô phỏng, Ngoài ra còn có sự tích hợp các hệ thống điều hướng, điều khiển, nội dung và tư duy tùy theo mức độ để tổ chức, xây dựng và trình bày các nội dung dạy học theo nhiều hình thức khác nhau. Giáo án điện tử là khái niệm được sử dụng một cách tự phát trong phong trào sử dụng phần mềm PowerPoint để thiết kế các trình chiếu hỗ trợ cho công việc giảng dạy của giáo viên trên lớp. Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào của nước ngoài và trong nước có đề cập đến khái niệm giáo án điện tử một cách chính thức. Ngoài ra, chính tên gọi và cách hiểu về khái niệm giáo án điện tử cũng không có sự nhất quán. Do đó, nhóm nghiên cứu thống nhất không sử dụng khái niệm giáo án điện tử trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. Bài giảng điện tử là sản phẩm dùng để dạy và học trên lớp với sự hỗ trợ của máy tính. Bài giảng điện tử được thiết kế bằng các phần mềm ứng dụng hoặc công cụ; có tổ chức hệ 6
- thống điều hướng nội dung và điều khiển. Sự có mặt của giáo viên trên lớp là dấu hiệu để phân biệt với các quan niệm khác về “bài giảng” đôi khi vẫn được sử dụng trong giảng dạy đại học. Vì là bài giảng nên những gì thể hiện trên trang trình chiếu chỉ là khung nội dung chính kèm theo môi trường thực hiện hoạt động học được tạo ra bởi máy tính. Đặc biệt là các nội dung bằng chữ thường rất vắn tắt, chủ yếu sử dụng các từ khóa; nhiều phần giải thích không được viết chi tiết nhưng dành cho giáo viên bổ sung tùy theo hoàn cảnh cụ thể. Hoạt động dạy và hoạt động học sẽ bổ sung để có nội dung hoàn chỉnh chuyển đến người học. Sách điện tử là sản phẩm được tạo ra bằng máy tính và các phần mềm ứng dụng xử lý văn bản; có nội dung hoàn chỉnh và trọn vẹn về một vấn đề; có hệ thống điều hướng nội dung đơn giản để người đọc có thể truy xuất nhanh đến nội dung cần đọc. Với các công nghệ phát triển hiện đại như hiện nay, sách điện tử được thiết kế và phát triển rất gần với hình thức multimedia dạy học là giáo trình điện tử. Giáo trình điện tử là sản phẩm do người dạy hoặc người thiết kế tạo ra bằng máy tính và các phần mềm ứng dụng hoặc công cụ; có nội dung hoàn chỉnh và cấu trúc nội dung dựa trên cơ sở là giáo trình in của một môn học; có tổ chức hệ thống điều hướng điều khiển, nội dung và tư duy phức tạp; có các hoạt động học phong phú được thiết kế theo các mô hình thiết kế dạy học, truyền thông, đối thoại. Đối tượng sử dụng chủ yếu là người học dùng để tự học hoặc tham khảo thêm ở ngoài lớp học. E/M Learning là ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào việc dạy và học nhằm làm cho công việc giáo dục trở nên dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả hơn. E/M Learning phù hợp với mọi đối tượng, lứa tuổi. Nó là tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật cho giáo dục như văn bản, âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, trò chơi, phim, thư điện tử, các diễn đàn thảo luận, các forum E/M Learning cung cấp nhiều công nghệ khác nhau để thiết lập một giải pháp đào tạo tổng thể. Phương pháp mô phỏng và những bài tập, bài kiểm tra sau khi kết thúc bài học, chương, phần, khóa học cho phép học viên tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và kỹ năng của mình. Hệ thống eLearning được xây dựng trên các hệ thống quản trị được gọi là hệ quản lý đào tạo (Learning Management System), viết tắt là LMS, giúp học viên và người quản lý theo dõi tiến trình học tập. 7
- III. ĐỀ XUẤT CHUẨN SƯ PHẠM (TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ) CÁC SẢN PHẨM E/M LEARNING VÀ MULTIMEDIA CHO DẠY HỌC. Trên cơ sở thống nhất hệ thống các khái niệm và phân loại các hình thức multimedia dạy học như trên, Viện SPKT đề nghị đánh giá các sản phẩm multimedia cho dạy học theo các tiêu chí sau: Bảng tiêu chí đánh giá E/M Learning. Bảng tiêu chí đánh giá bài giảng điện tử và e/m Learning gồm có 10 tiêu chí – 30 dấu hiệu nhận biết cụ thể như sau: TT Tiêu chí – Dấu hiệu 1 Hệ thống mục tiêu dạy học, bài tập, kiểm tra 1.1 Có nêu mục tiêu của từng bài học. 1.2 Có bài tập củng cố sau mỗi bài và chương học. 1.3 Có kiểm tra kết thúc môn học. 2 Nội dung 2.1 Tương thích với đề cương chi tiết của môn học. 2.2 Chính xác về mặt chuyên môn. 2.3 Có liên hệ với thực tế. 3 Thông tin 3.1 Có bảng chú giải thuật ngữ. 3.2 Có hướng dẫn sử dụng, cung cấp thông tin để người học liên hệ khi cần thiết. 3.3 Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, các tài nguyên khác. 4 Kênh truyền thông 4.1 80% số trang dùng đa phương tiện (chữ, các loại hình ảnh, video, hoạt hình, mô phỏng, ) 4.2 Các kênh trên một trang cung cấp thông tin về cùng một đối tượng. 4.3 Nội dung thông tin của các kênh trên một trang không trùng lắp nhau. 5 Hoạt động học 5.1 Người học tiếp nhận, xử lý và trình bày lại kết quả xử lý thông tin thông qua nhiều hoạt động đa dạng (quan sát, nghe, nhìn, ghi nhận, lựa chọn, so sánh, đối chiếu, đánh giá, tính toán, viết, ) 5.2 Các hoạt động của người học với giáo trình đều có hướng dẫn và nêu yêu cầu thực hiện rõ ràng. 5.3 Có nhiều hơn 2 hình thức luyện tập cho mỗi kiến thức hoặc kỹ năng mới. 6 Tổ chức hệ thống 6.1 Có hệ thống tổ chức thư mục, tập tin và cơ sở dữ liệu rõ ràng. 6.2 Lưu trữ và theo dõi được thành tích học tập của người học. 6.3 Người học tra cứu dễ dàng các nội dung liên quan. 7 Tương tác 7.1 Người học được phép thay đổi giá trị các đại lượng/ thông số của mô phỏng hoặc các thành phần của mô hình có trong trang giáo trình. 8
- TT Tiêu chí – Dấu hiệu 7.2 Có phản hồi cho người học về kết quả hoạt động của mình. 7.3 Thiết lập mối quan hệ với giáo viên/ hướng dẫn viên để trao đổi khi gặp trở ngại hay khi muốn tìm hiểu thêm. 8 Phân phối 8.1 Đảm bảo tính toàn vẹn của giáo trình khi chạy trên các máy tính khác nhau. 8.2 Thủ tục cài đặt đơn giản, dễ dàng. 8.2 Có thể sử dụng trực tuyến. 9 Hình thức 9.1 Không có lỗi chính tả, ngữ pháp. 9.2 Giao diện nhất quán với hệ thống đề mục, tiểu mục rõ ràng. 9.3 Ghi chú rõ ràng cho các phương tiện bổ trợ cho nội dung như hình ảnh, bảng biểu, âm thanh, video, hoạt hình, mô phỏng, 10 Điều hướng và kiểm soát hoạt động 10.1 Thông tin cho người học biết mình đang ở đâu trong giáo trình. 10.2 Dễ dàng trở về được đúng những phần đã nghiên cứu. 10.3 Có chức năng Undo. Bảng 4: Bảng tiêu chí đánh giá giáo trình điện tử a. Thủ tục đánh giá Để đánh giá một sản phẩm eLearning hay multimedia dạy học cần có ít nhất là 2 người đánh giá. Chuẩn sư phạm này được thiết lập trên cơ sở người đánh giá không phải tư duy hay suy nghĩ khi quyết định cho điểm hay không cho điểm một dấu hiệu, nhờ vậy kết quả đánh giá sản phẩm tăng được tính khách quan, không phụ thuộc vào các quan điểm, suy nghĩ, trạng thái cá nhân của những người đánh giá. Toàn bộ các tiêu chí và dấu hiệu được trình bày trên một mẫu tiêu chí đánh giá. Trước khi tiến hành đánh giá multimedia dạy học, người đánh giá cần xem kỹ các dấu hiệu trong bảng tiêu chí đánh giá và trao đổi với người phụ trách nếu gặp phải những khái niệm chưa hiểu rõ. Khi tiến hành đánh giá, người đánh giá sử dụng mẫu đánh giá trong khi duyệt qua toàn bộ multimedia dạy học đang được đánh giá. Khi nhận thấy trong chương trình của multimedia dạy học có thể hiện dấu hiệu nào trong bảng tiêu chí thì người đánh giá sẽ đánh dấu kiểm () vào dấu hiệu tương ứng trong mẫu đánh giá. Với những dấu hiệu người đánh giá có sự phân vân thì phải có sự trao đổi ngay, tránh trường hợp tự phán đoán, làm giảm tính khách quan trong đánh giá sản phẩm. 9
- Mỗi dấu kiểm cho một dấu hiệu tương ứng với 1 điểm. Như vậy, điểm tối đa một sản phẩm bài giảng điện tử và e/m Learning có thể đạt được là 30. Sau khi các đánh giá viên đã thực hiện xong phần đánh giá của mình, kết quả đánh giá cuối cùng của sản phẩm cho từng dấu hiệu tương ứng được tính bằng giá trị trung bình cộng của số các mẫu đánh giá rồi làm tròn số. Sau khi đã có kết quả điểm số đánh giá cuối cùng của sản phẩm, các giá trị điểm số sẽ được phân bố lên một hình tròn được chia đều thành 10 hướng tương ứng với 10 tiêu chí. Trên mỗi hướng có phân thành 4 mức độ (4 hình tròn đồng tâm) tương ứng với kết quả đánh giá của từng tiêu chí có đạt được cả 3, hoặc 2, hoặc 1, hoặc 0 đạt được dấu hiệu nào được thể hiện trong bảng tiêu chí đánh giá. Đánh dấu số các dấu hiệu đạt được lên các mức độ tương ứng của mỗi hướng. Nối các điểm vừa đánh dấu lại ta được một đa giác đánh giá sản phẩm multimedia dạy học. Ví dụ Hình 1: Đa giác đánh giá sản phẩm multimedia dạy học Nhìn vào kết quả đánh giá trên đây, chúng ta có thể thấy được số dấu hiệu sản phẩm đạt được trong từng tiêu chí. Cụ thể như sau: Tiêu chí (1): 3 dấu hiệu; Tiêu chí (2): 2 dấu hiệu; Tiêu chí (3): 3 dấu hiệu; Tiêu chí (4): 1 dấu hiệu; Tiêu chí (5): 3 dấu hiệu; 10
- Tiêu chí (6): 2 dấu hiệu; Tiêu chí (7): 0 dấu hiệu; Tiêu chí (8): 3 dấu hiệu; Tiêu chí (9): 3 dấu hiệu; Tiêu chí (10): 1 dấu hiệu Sử dụng đa giác đánh giá sản phẩm multimedia dạy học này mang lại một số lợi ích. Thứ nhất, nhìn vào đa giác chúng ta có thể thấy sự phân lệch giữa các tiêu chí. Thứ hai, đối với tác giả hoặc nhóm tác giả thực hiện sản phẩm sẽ không có cảm giác bị cho điểm. Họ vẫn có thể duy trì được sự hứng thú trong việc thiết kế và thực hiện các sản phẩm multimedia dạy học mà như chúng ta đã biết là ngốn rất nhiều thời gian, công sức và chi phí. Bên cạnh đó, sau một khoảng thời gian, chúng ta hoàn toàn có thể cùng với tác giả hoặc nhóm tác giả tái đánh giá sản phẩm. Kết quả đánh giá mới cũng được thể hiện trên cùng hình tròn để thực hiện so sánh một cách trực quan sự cải tiến và mức độ cải tiến của sản phẩm, tạo động lực cho người thực hiện luôn tiến hành tìm hiểu và nâng cấp sản phẩm. Ngoài ra cũng có thể sử dụng đa giác đánh giá này để so sánh hai sản phẩm cùng loại với nhau. Ví dụ Hình 2: Sử dụng đa giác đánh giá để so sánh kết quả các lần đo hoặc giữa nhiều sản phẩm Từ các hình trên chúng ta có thể thấy rõ ràng ở lần đánh giá thứ hai, sản phẩm đã được cải thiện ở các tiêu chí (2), (4), (6), (7), và (10). Tuy nhiên, ở các tiêu chí (3) và (5), sản phẩm sau khi cập nhật đã không giữ được tiêu chuẩn như đã đạt trong phiên bản trước đó. 11
- Ngoài đa giác đánh giá dùng để thể hiện xu hướng thiết kế của sản phẩm và giúp đánh giá một cách trực quan về các phiên bản phát triển của sản phẩm hoặc so sánh các sản phẩm với nhau, người đánh giá còn có thể cộng toàn bộ điểm số của các dấu hiệu lại để có tổng số điểm của sản phẩm. Điểm tổng số của sản phẩm có thể dùng để phân loại sản phẩm, cụ thể như sau: Bài giảng điện tử được đánh giá phân loại theo 5 mức độ từ thấp đến cao là Yếu (0 – 5,5) – TB Yếu (5,5 – 11,5) – Trung bình (11,5 – 17,5) – Khá (17,5 – 23,5) – Tốt (23,5 - 30). IV. KẾT LUẬN Quá trình phát triển các sản phẩm E/M Learning và multimedia giáo dục luôn phải trải qua nhiều giai đoạn. Do đó, theo từng giai đoạn phát triển sản phẩm, cũng như theo từng chức năng của các sản phẩm, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều phương pháp và kỹ thuật đánh giá. Có thể nhắc đến một số như khảo sát kết quả nghiên cứu và sản phẩm hiện có, quan sát phản ứng của người dùng khi tương tác với sản phẩm, hoặc kiểm tra các thay đổi về năng lực của người dùng sau khi sử dụng sản phẩm multimedia giáo dục, Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Quinn (1996), chính công việc thực hiện đánh giá, để đảm bảo hiệu quả sử dụng cao nhất các nguồn tài nguyên thời gian và ngân sách, cũng cần phải được thực hiện một cách tiết kiệm nhất. Theo đó, đánh giá quá trình là cách đánh giá rất phù hợp với các yêu cầu vừa nêu. Ưu điểm lớn nhất của cách đánh giá này là kết quả đánh giá luôn luôn được cập nhật, giúp cho quá trình phát triển sản phẩm, thứ nhất là không bị đình trệ và thứ hai là luôn luôn có thông tin kịp thời để tiến hành các điều chỉnh cần thiết. Trong lĩnh vực tương tác người-máy, đã từ lâu việc đánh giá tính khả dụng của sản phẩm đã được xem như một kỹ thuật của đánh giá quá trình. Ở đó, các đánh giá tập trung chủ yếu vào việc phát triển tính dễ sử dụng của phần mềm. Đánh giá tính khả dụng là tên chung cho các phương pháp đánh giá dựa trên kết quả nhận xét của các đánh giá viên. Cách đánh giá này có sự khác biệt nhất định so với một số các cách đánh giá khác. Đánh giá tự động do máy tính thực hiện cho kết quả không như mong muốn; mặt khác, các phân tích toán học về tính khả dụng không thể tương đồng và không thể áp dụng được với các giao diện được thiết kế phức tạp. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Mack và Nielsen, 1994, đánh giá dựa vào kinh nghiệm có kinh phí thực hiện 12
- quá cao bởi vì cần phải có nhiều người dùng tham gia đánh giá ở các giai đoạn nhất định của dự án phát triển multimedia giáo dục. Theo Desurvire, 1994, đánh giá tính khả dụng được xem là một giải pháp thay thế có tính kinh tế cao cho các phương pháp đánh giá vừa nêu. Trong số rất nhiều các phương pháp đánh giá được giới thiệu, đánh giá heuristic là một trong những phương pháp dễ thực hiện nhất. Kết quả đánh giá dưới dạng báo cáo vấn đề là cơ sở dự đoán khá tốt cho các vấn đề ở người dùng cuối (Mack và Nielsen, 1994). Để thực hiện, người ta tổ chức cho nhiều đánh giá viên cùng đánh giá một cách độc lập với nhau. Mỗi đánh giá viên sẽ so sánh các thành phần của sản phẩm với một danh sách các tiêu chí đã được thống nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Albion, P.R, Heuristic evaluation of educational multimedia: from theory to practice. [2] Darryn Lavery, Gilbert Cockton and Malcolm Atkinson, 1996, Heuristic Evaluation Usability Evaluation Materials. [3] Mourat Tchoshanov, 2013, Engineering of Learning: Conceptualizing e-Didactics. [4] William Horton, 2006, E-Learning by Design. 13
- BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2017-2018 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.



