Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh khối 10 trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, tỉnh Đồng Nai

pdf 9 trang phuongnguyen 780
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh khối 10 trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, tỉnh Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_hoat_dong_tu_hoc_cua_hoc_sinh_khoi.pdf

Nội dung text: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh khối 10 trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, tỉnh Đồng Nai

  1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH KHỐI 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH, TỈNH ĐỒNG NAI. Lâm Thụy Trà Khanh TÓM TẮT Xu thế chung của nền giáo dục thế giới với bốn trụ cột chính do UNESCO đềxuấtlà : học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung sống, cùng với triết lí giáo dụcsuốtđời,đã khẳng định vai trò rất quan trọng của hoạt động tự học. Thật vậy, với lượng thông tin, kiến thức khổng lồ ngày càng gia tăng không ngừng đòi hỏi con người phải học và tự họclàđiều tất yếu nếu không muốn tụt hậu. Điều đó còn đặc biệt quan trọng và rất cần thiết chohọcsinh các trường chuyên. Qua thực tế giảng dạy, tiếp xúc với học sinh, tác giả nhận thấy hoạtđộng tự học luôn gắn liền với việc học tập hằng ngày của các em. Đặc biệt, trong quá trìnhtựhọc, học sinh lư trú tại kí túc xá và cư trú tại nhà cùng gia đình bị ảnh hưởng bởi những yếutố giống và khác nhau. Xuất phát từ thực tế đó, nhằm tìm hiểu và đề xuất những giải pháp để nâng caohoạtđộng tự học của học sinh, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của học sinh khối 10 trường THPT chuyên Lương Thế Vinh– tỉnh Đồng Nai. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả thấy rằng các yếu tố: động cơ học tập, phương pháp học tập, chiến lược học tập, phong cách học tập, môi trường học tập có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tự học của học sinh. Từ khóa: tự học, động cơ học tập, phương pháp học tập, chiến lược học tập, phong cách học tập, môi trường học tập ABSTRACT The overall trend of world education with four main pillars are proposed by UNESCO: learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together, along with the philosophy of lifelong education, affirmed very important role of self-study activities. Indeed, the amount of information, huge knowledge constantly increasing human demands to learn and study is inevitable if not want to fall behind. That was particularly important and very necessary for students to magnet schools. Through practice teaching, contact with students, the authors found that self-learning activities are closely linked to the daily learning of the children. In particular, during the self-study, students residing in dorms burners and reside in the same family are affected by the same or different elements. Stemming from the fact that, in order to understand and propose solutions to enhance self- learning activities of students, authors have conducted research on this issue: Factors affecting the self-study activities of students block 10 Luong The Vinh specialized high school - Dong Nai Province. Through the research process, the authors found that the following factors: motor learning, learning methods, learning strategies, learning styles, learning environment that affect self- study performance.
  2. Keywords: self- study, motor learning, learning methods, learning strategies, learning styles, learning environment I. GIỚI THIỆU Từ những đặc điểm cơ bản của học sinh trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Đồng Nai nói chung, học sinh khối 10 của trường nói riêng: thời lượng học tập nhiều, khối lượng học tập nặng, áp lực của các kỳ thi học sinh giỏi các cấp, chính vì thế tự học là hoạt động tất yếu của các em học sinh, cùng với xu thế chung của nhiệm vụ nền giáo dục trong thế kỷ XXI là học tập suốt đời. Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã khảo sát, nghiên cứu trong lĩnh vực này. Các tác giả đề cập đến hoạt động tự học với sự ảnh hưởng của các yếu tố: Động cơ học tập, phương pháp học tập, phương pháp tự học, môi trường học tập, chiến lược học tập. Trên cơ sở đó, tác giả bài báo đã phân tích, tổng hợp và khái quát làm tiền đề cho vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả chia học sinh thành 2 nhóm để nghiên cứu , nhóm học sinh cư trú tại nhà, và nhóm lưu trú tại kí túc xá. Tác giả tiến hành nghiên cứu trên học sinh khối 10, năm học 2914-2015 của trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Đồng Nai. Năm học 2014- 2015, trường có 8 lớp chuyên các môn như trên, trong đó môn Tiếng Anh có 2 lớp chuyên Anh 1 và Anh 2. Tổng số học sinh của trường là 938 học sinh, trong đó học sinh khối 10 có 278 em. Số học sinh các lớp chuyên của khối 10 là 205 em. Vì nhà trường tổ chức tuyển sinh trong toàn tỉnh, nên các em nhà xa (ở các huyện) khi đỗ vào trường sẽ được bố trí ở kí túc xá của trường. Học sinh khối 10 có em lưu trú tại kí túc xá, còn lại là các em ở nhà cùng gia đình. Số học sinh khối 10 năm học 2014-2015 lưu trú tại KTX là 44 em. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Các phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu, bài viết, bài báo khoa học, ấn phẩm, các luận văn, tạp chí, các văn kiện, nghị quyết trong giáo dục, các trang web giáo dục. Tổng hợp tài liệu, phân tích tài liệu, chọn lọc và khái quát tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và vận dụng vào đề tài. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp, khảo sát thực tế. Phương pháp thống kê: Xử lý, thống kê, mô tả và đánh giá kết quả nghiên cứu. 2. Tổ chức thực hiện khảo sát thực tế:  Quan sát thực tế Người nghiên cứu tiến hành quan sát 3 lần tại kí túc xá, khu vực các phòng của học sinh khối 10 (gồm 9 phòng) vào thời điểm tự học của học sinh, mỗi lần cách nhau 1 tháng. Ghi chép những gì quan sát được trong quá trình quan sát, bao gồm: thời gian học, địa điểm học, mức độ chú ý, các yếu tố nào gây ảnh hưởng?, mức độ gây ảnh hưởng như thế nào? Phương pháp quan sát thực tế với công cụ là phiếu quan sát thực tế.  Phỏng vấn ban quản lí kí túc xá
  3. Người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 3 cán bộ quản lí về hoạt động tự học của học sinh các nội dung: động cơ tự học, mức độ tự học, hiệu quả tự học, các trở ngại trong hoạt động tự học.  Phỏng vấn giáo viên chủ nhiệm và học sinh Người nghiên cứu phỏng vấn 3 giáo viên chủ nhiệm, 9 học sinh được chọn ngẫu nhiên. Nội dung phòng vấn bao gồm: Giáo viên chủ nhiệm: mức độ tự học của học sinh, động cơ tự học của học sinh, chiến lược tự học của học sinh, nội dung tự học của học sinh, sự ảnh hưởng của môi trường học tập đến tự học của học sinh. Học sinh: theo em thế nào là tự học, mức độ tự học, động cơ tự học, nội dung tự học, trở ngại trong tự học.  Phát phiếu lấy ý kiến ban giám hiệu, ban quản lí kí túc xá, học sinh Phiếu lấy ý kiến được thiết kế sau khi quan sát thực tế và phỏng vấn. Phiếu lấy ý kiến được phác tháo lần thứ nhất, khảo sát trên 3 giáo viên chủ nhiệm, 9 học sinh. Sau đó, tác giả điều chỉnh lần thứ hai để phù hợp với hướng khảo sát, bám sát với các yếu tố cần khảo sát cụ thể hơn, giúp học sinh dễ hiểu hơn khi trả lời các câu hỏi. III. KẾT QUẢ Quá trình khảo sát giúp tác giả rút ra một số nhận định sau đây  Mức độ tự học Hoạt động tự học luôn đồng hành với các em học sinh khối 10, đa phần các em tự học trong khoảng hai đến bốn giờ một ngày, có một vài em học ở mức độ ít nhất là các em chỉ học khoảng một giờ một ngày.  Động cơ tự học Các em tự học xuất phát từ động cơ rõ ràng (chiếm đến 96%). Ở hai nhóm học sinh khác nhau về nơi cư trú có động cơ cũng khác biệt thú vị. Các em ở cùng gia đình có động cơ nhiều nhất là cố gắng tự học để thi đỗ vào trường đại học mơ ước, còn nhóm ở kí túc xá, nhà trọ lại có động cơ học để cha mẹ vui lòng đứng hàng thứ nhất.  Môi trường học tập Hai nhóm học sinh có nhận định về ảnh hưởng của môi trường sống đến hoạt động tự học khá tương đồng. Nhóm học sinh ở cùng gia đình, các em cho rằng các em gặp trở ngại về không gian riêng ảnh hưởng đến học tập tại nhà, đa phần các em bị ảnh hưởng tiếng ồn xung quanh, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của các thành viên trong gia đình. Còn nhóm học sinh ở kí túc xá, nhà trọ lại ảnh hưởng nhiều bởi không gian xung quanh, cũng bao gồm tiếng ồn của các bạn cùng phòng, hoặc các bạn rủ rê chơi cùng. Từ đó, càng khó để các em thích nghi với việc tự học tại kí túc xá.  Chiến lược tự học Phần lớn các em cho biết, sự định hướng, lên kế hoạch cho hoạt động tự học, cách tìm những kiến thức gì các em cần, và có thể hiểu được kiến thức ấy, giúp được hoạt động tự học hiệu quả. Điều kiện tinh thần, cơ sở vật chất, người hỗ trợ cũng giúp hoạt động tự học của các
  4. em hiệu quả hơn. 100.00% 80.00% 60.00% 40.00% 20.00% Không đồng ý Phân vân 0.00% Hoàn toàn đồng ý Biểu đồ 3.3:Chiến lược tự học của học sinh cư trú tại nhà  Phương pháp tự học Đa phần các em chọn phương pháp học bài, làm bài tập, sau đó ôn tập, rèn luyện thêm mức độ thường xuyên. Cách học này được rất nhiều em chọn lựa. Có rất nhiều học sinh thỉnh thoảng nghiên cứu kiến thức nâng cao.  Phong cách học tập Có hai loại hình được các em chọn lựa nhiều, thứ nhất đó là cần nghe lời giảng trực tiếp hoặc gián tiếp, thứ hai là cần có sách, giáo trình, có minh họa bằng biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh Đây là hai loại hình phù hợp với hoạt động tự học của các em nhất. Ngoài ra, có nhiều em khác chọn lựa loại hình: cần thao tác thực hành thật, cần đọc to nội dung, hay cần phải có không gian yên lặng thì hoạt động học mới hiệu quả. Tuy nhiên các em cũng cho biết, tùy theo yêu cầu môn học mà các em sẽ có phong cách học cho hiệu quả nhất.
  5. 70.00% 60.00% 50.00% 40.00% 30.00% Rất cao 20.00% Vừa phải 10.00% Ít hiệu quả 0.00% Biểu đồ 3.4: Phong cách học tập của học sinh lưu trú tại kí túc xá IV. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Những đóng góp chính của đề tài Hoạt động tự học cuả học sinh khối 10 trường PHTH chuyên Lương Thế Vinh- tỉnh Đồng Nai có ảnh hưởng bởi các yếu tố: động cơ học tập, chiến lược học tập, phương pháp học tập, phong cách học tập và môi trường học tập. Động cơ tự học giúp học sinh có động lực tự học từ đó có chiến lược tự học cụ thể và rõ ràng hơn. Phương pháp tự học được học sinh lựa chọn phù hợp với chiến lược tự học. Môi trường học tập tác động khá nhiều đến hoạt động tự học của học sinh vì phong cách học tập của học sinh có ảnh hưởng bởi môi trường học tập. Mặc dù đa phần các em có động cơ tự học rõ ràng, nhưng vẫn còn học sinh chưa có động cơ học tập, hoặc còn mơ hồ. Chính bản thân của các em cũng rất khó khăn cho việc định hướng học tập, xa hơn là trong việc học và cuộc sống tương lai. Khá nhiều học sinh có phong cách học tập là cần nghe được lời giảng của giáo viên nên trong quá trình tự học các em cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố này.
  6. Môi trường học tập ảnh hưởng đến các em học sinh khá lớn, có thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả tự học của các em, kể cả những em ở nhà hay kí túc xá, nhà trọ. Cả hai nhóm ở nhà và kí túc xá, nhà trọ đều bị ảnh hưởng của không gian sống, học tập đến hoạt động tự học tại gia đình, hoặc kí túc xá. Với tình hình hiện tại, kí túc xá chưa có phòng tự học riêng cho học sinh, các em tự học tại phòng học, ngay trên bàn nhỏ gắn phía đầu giường cá nhân của từng em. Vì thế, các em dễ bị phân tâm khi các bạn khác đang sinh hoạt, giải trí, tiếng ồn. Như vậy, luận văn đã khái quát được thực trạng hoạt động tự học của học sinh khối 10 trường PTTH chuyên Lương Thế Vinh - tỉnh Đồng Nai. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả tự học của học sinh khối 10, tác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp sau đây 2. Kiến nghị Việc xây dựng phòng tự học là một phương án rất hợp lí nhằm giúp hoạt động tự học của học sinh ở kí túc xá được nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, nếu có thêm một cán bộ phụ trách quản lí phòng tự học thì thiết nghĩ phòng tự học sẽ đi vào hoạt động nề nếp hơn. Nếu điều kiện không cho phép, nhà trường có thể thành lập ban tự quản kí túc xá để thay ca trực quản lí phòng học, giúp phòng tự học được sử dụng đúng mục đích hơn, hiệu quả hơn. Các em cư trú tại nhà cùng gia đình, để cải thiện không gian xung quanh, các em có thể lựa chọn những thời điểm ít ồn ào nhất trong ngày, ví dụ như thức dậy rất sớm để học bài. Nếu không có một góc học tập riêng, các em có thể xin ý kiến của cha mẹ, vì việc học của con chắc chắn cha mẹ sẽ đồng ý. Trường hợp nhà không còn không gian để kê góc học tập riêng cho yên tĩnh, các em có thể bán trú tại kí túc xá, vì sắp tới kí túc xá sẽ có phòng tự học cho các em học sinh. Các yếu tố khác như động cơ học tập, phong cách học tập, phương pháp học tập, cần có cán bộ (chuyên gia về lĩnh vực này) hướng dẫn, hoặc có buổi gặp gỡ các em vào đầu năm để khơi gợi, hướng dẫn, giúp các em biết đến các yếu tố này nhiều hơn và sâu sắc hơn. Các em chưa biết sẽ biết về những yếu tố đó, các em đã biết thì sẽ biết nhiều hơn. Để từ đó hiểu nhiều hơn về bản thân, có định hướng tốt hơn trong việc lựa chọn phương thức học tập ưu thế nhất, nhằm mục đích cuối cùng là đem lại kết quả học tập tốt hơn, nâng cao hiệu quả tự học của bản thân. Cần có sự kết hợp, trao đổi giữa giáo viên và học sinh, nếu cần phụ huynh cũng có thể tham gia. Sau khi trao đổi kết hợp quá trình học tập, rèn luyện tại trường, giáo viên và học sinh sẽ có những giải pháp phù hợp với từng học sinh giúp cho hiệu quả tự học tăng lên. Thế nên giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm kết hợp với những người bạn thân thiết, phụ huynh của em để có thể định hướng, giúp em làm rõ hơn mục tiêu phấn đấu, động cơ học tập, tự học cho bản thân các em. Chỉ khi xác định rõ động cơ học tập, mục tiêu phấn đấu các em mới có thể chọn lựa nội dung học cho hiệu quả, từ đó các em mới có được phương pháp học tập cho riêng các em. Đây cũng là tiền đề giúp các em đưa ra chiến lược học tập lâu dài, biết bản thân mình cần gì, biết làm gì để đạt được điều mình cần. Biết chọn lựa những điều, những kiến thức vừa sức, đúng tầm.
  7. Với các em có động cơ học tập nhưng kết quả chưa cao có thể các em chưa có chiến lược và phương pháp phù hợp. Để giúp các em cải thiện hiệu quả học, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm cần kết hợp định hướng cho em tìm được hướng đi phù hợp với các em. Khá nhiều học sinh có phong cách học tập là cần nghe được lời giảng của giáo viên. Điều này hoàn toàn có thể cải thiện thông qua nhiều kênh học tập. Các em có thể học qua mạng, vẫn có những trang mạng hướng dẫn quay hình của giáo viên hệt như trên lớp học. Hoặc các em có thể nhờ bạn bè giảng giải giúp những chỗ cần thiết. Tuy nhiên, ở mỗi môn học, ở mỗi nội dung và mục đích, yêu cầu khác nhau, các em sẽ linh hoạt chọn lựa cho bản thân phong cách học cho hợp lí nhưng hiệu quả nhất. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bernd Meier- Nguyễn Văn Cường. Lí luận dạy học hiện đại- Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2014. [2] Carl Rogers. Phương pháp dạy và học hiệu quả. NXB Trẻ, 2001. [3] Đỗ Thị Châu. Tình huống tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. NXBGD, 2005. [4] Éric Matrullo – Éric Maurette. Phương pháp học và làm việc hiệu quả. NXB Đà Nẵng, 2008. [5] PGS. TS. Hoàng Anh- PGS. TS. Đỗ Thị Châu. Tự học của sinh viên. NXB Giáo dục, 2008. [6] Nguyễn Cảnh Toàn- Nguyễn Châu An. Tự học thế nào cho tốt. NXB Tổng hợp TP.HCM. [7] Nguyễn Hiến Lê. Tự học- một nhu cầu thời đại. NXB Vă Hóa Thông Tin, 2003. [8] Vũ Quốc Chung- Lê Hải Yến. Để tự học đạt được hiệu quả. NXB Đại học sư phạm, 2003. [9] Robert J. Marzano. Các phương pháp dạy học hiêu quả. NXBGD, 2005. [10] 25/6/2014 [11] 14/7/2014 [12] 14/7/2014 [13]. , 23/9/2014 [14] , 23/0/2014 [15] techniques.html, 23/9/2014 [16] hoc-11/news/dien-dan-day hoc-, [17] 10/11/2014 [18] 20/12/2014 [19] 583818.htm?mob, 20/12/2014 Thông tin liên hệ tác giả: Họ và tên: Lâm Thụy Trà Khanh Đơn vị: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, tình Đồng Nai
  8. Điện thoại: 0989374447 Email: lamkhanh214@yahoo.com.vn
  9. BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2016-2017 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.