Các bằng chứng về sự tồn tại của nền văn minh nhân loại chu kỳ trước
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Các bằng chứng về sự tồn tại của nền văn minh nhân loại chu kỳ trước", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
cac_bang_chung_ve_su_ton_tai_cua_nen_van_minh_nhan_loai_chu.docx
Nội dung text: Các bằng chứng về sự tồn tại của nền văn minh nhân loại chu kỳ trước
- Chân – Thiện – Nhẫn Các bằng chứng về sự tồn tại của nền văn minh nhân loại chu kỳ trước Ghi chú của tác giả: tập sách nhỏ này chỉ đưa ra một số ví dụ minh họa thực tế về những nền văn minh cổ đã bị diệt vong trước thời đại của nền văn minh nhân loại đương thời, được đề cập đến trong sách Chuyển Pháp Luân của Thầy Lý Hồng Chí. Các bằng chứng còn rất nhiều, các bạn hữu có tâm có thể tự tìm kiếm các tài liệu có liên quan. Ở đây chỉ nêu ra một vài sự việc tiêu biểu, tác giả cố gắng chọn lọc và tổng hợp từ các nguồn dữ liệu Anh ngữ đáng tin cậy nhất. Lượng sức hạn hẹp, trong quá trình biên tập chắc chắn có nhiều thiếu sót, mong nhận được ý kiến phê bình của độc giả. Nguyễn Lê Duy Thắng Học viên Pháp Luân Công Việt Nam Có nhiều khám phá rải rác trên phạm vi toàn thế giới chứng tỏ từ thời xa xưa, trên hành tinh Trái Đất nhỏ bé của chúng ta đã từng tồn tại ít nhất một nền văn minh toàn cầu có trình độ kỹ thuật cao không kém gì so với nền khoa học kỹ thuật hiện đại của chúng ta ngày nay, thậm chí về một số mặt còn vượt trội hơn. Một đoạn phim hay Mục lục Bằng chứng đầu tiên: Điện đã từng được biết đến và sử dụng trong nhiều nền văn minh tiền sử 2 Pin điện tiền sử 2 Đèn điện thời tiền sử 3 Bằng chứng thứ 2: Kiến thức Toán học và Thiên văn siêu đẳng 5 Lịch pháp Maya 5 Toán học và thiên văn học trình độ cao của người Maya 8 Bằng chứng thứ 3: Trình độ kiến trúc và xây dựng siêu đẳng 10 Từ những công trình cổ xưa mà hiện nay vẫn còn nằm trên mặt đất 10 Đến những công trình tiền sử hiện nay đang nằm dưới đáy biển sâu 23 Cấu trúc Kim tự tháp Yogaguni đang nằm dưới đáy biển Nhật Bản 23 Bằng chứng về một thành phố cổ đại tìm thấy tại Cuba 24 Thành phố 9500 năm tuổi được tìm thấy dưới đáy biển Ấn Độ 27 Các khám phá tại Bimini, Bahamas 29 Bằng chứng thứ 4: Kỹ thuật hàng không vũ trụ thời tiền sử 32 Từ những tấm bản đồ cổ đại 32 Bản đồ Piri Re’is 32 Đến những mô hình máy bay phi công và tàu vũ trụ 38 Những hình chạm khắc tại Ai Cập 3000 năm trước 38 Những chiếc máy bay bằng vàng cổ đại 40 Tham chiếu về các Vimana trong Mahabharata và các cổ văn khác 52 Bằng chứng thứ 5: Chiến tranh trên không và chiến tranh hạt nhân thời tiền sử 64 Chiến tranh thời tiền sử dùng vimana như các máy bay chiến đấu 64 Bằng chứng tại Rajasthan, Ấn Độ 66 Bằng chứng tại Harappa và Mohenjo-Daro, Pakistan 67 Lonar, hố sâu kỳ lạ gần Bombay, Ấn Độ 69 A Nuclear Catastrophe in Paleoindian Times? 69 Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 1
- Chân – Thiện – Nhẫn Mysterious Glass in the Egyptian Sahara 70 Bằng chứng đầu tiên: Điện đã từng được biết đến và sử dụng trong nhiều nền văn minh tiền sử. Pin điện tiền sử. Tại I Rắc: Năm 1936, trong các cuộc khai quật một ngôi làng cổ 2000 năm tuổi ở phía Đông Ai Cập vài trăm km, ngày nay thuộc I Rắc, những người công nhân đã khám phá ra những bình gốm nhỏ kỳ lạ. Những bình này có chứa các trụ đồng được ngâm trong một loại dung dịch đã đông đặc, gắn vào bình bằng nhựa đường, được định niên vào khoảng từ năm 248 trước công nguyên đến 226 sau công nguyên. Trong số này có một bình bằng đất nung cao 6 inch, màu vàng sáng có chứa một trụ đồng kích thước 5 inch chiều dài x 1,5 inch đường kính tiết diện. Ở giữa các trụ bằng đồng là một lõi thép cũng được gắn vào bằng keo nhựa đường. Nhà khảo cổ học nổi tiếng người Đức Wilhelm Konig, đã kiểm tra mẫu vật và đưa ra một kết luận đáng ngạc nhiên : cái bình gốm này không có gì khác hơn chính là một pin điện thời tiền sử. Pin điện tiền sử, được trưng bày tại Viện bảo tàng Baghdad Pin điện tiền sử tại viện bảo tàng Bát Đa, cũng giống như những bình pin gốm khác được đào lên, tất cả đều được định niên từ năm 240 TCN đến năm 226 sau công nguyên trong thời chiếm đóng của đế chế Parthi. Tuy nhiên, tiến sĩ Konig còn phát hiện được những bình đồng mạ bạc khác trong viện bảo tàng Bát Đa, được khai quật từ những vùng đất cổ của người Sumer ở miền Nam I Rắc, qua giám định niên đại cho thấy ít nhất có từ 2500 năm trước công nguyên. Khi những cái bình này được dùi nhẹ vào, một lớp gỉ đồng tách ra từ bề mặt, có đặc điểm của một vật được mạ điện bạc lên một vật bằng đồng. Điều này làm ta không thể không nghĩ rằng những người Pathi đã thừa kế những Pin này từ nền văn minh Sumer, một trong những nền văn minh sớm nhất được biết đến. Vào năm 1940, Willard F.M. Gray, một kỹ sư từ General Electric High Volatage Laboratory tại Pittsfield, Massachusetts, Mỹ, đã đọc những lý luận của Konig. Dùng những bản vẽ và các chi tiết được cung cấp bởi nhà khoa học hỏa tiễn người Đức Willy Ley, Gray đã làm ra một bản sao từ Pin này. Dùng dung dịch Đồng Sunphát, nó cho một dòng điện khoảng nửa vôn. Vào thập kỷ 70 thế kỷ trước, Nhà Ai Cập học người Đức, Arne Eggebrecht đã làm ra một bản sao của Pin Bát Đa và dùng dung dịch nước nho ép nguyên chất mà ông phỏng đoán những nhà khoa học tiền sử đã dùng. Bản sao này đã sinh ra dòng điện 0,87V. Ông đã dùng dòng điện này để mạ vàng cho một bức tượng bằng bạc. Thí nghiệm này đã chứng minh rằng những Pin điện đã được sử dụng khoảng 1800 năm trước khi viên Pin đầu tiên được phát minh bởi Alessandro Volta năm 1799. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 2
- Chân – Thiện – Nhẫn Cũng dễ nhận thấy việc sử dụng những pin tương tự có thể đã được những người Ai Cập cổ đại biết đến, nơi mà vài mẫu vật với dấu vết mạ điện những kim loại quý được tìm thấy tại nhiều địa điểm khác nhau. Có vài khám phá dị thường từ nhiều vùng khác nhau, cho phép khẳng định điện đã được sử dụng trong một quy mô lớn. Đèn điện thời tiền sử Một chi tiết chủ chốt của luận đề điện tiền sử này là quả thật một số thứ đang bị thất lạc. Đó là câu đố mà các sách khoa học thường thức phải đầu hàng. Bồ hóng. Hầu hết trong số nhiều ngàn ngôi mộ và kim tự tháp không có dấu vết nhỏ nào của bồ hóng trên tường, như cách giải thích của tác giả luận đề, mặc dù rất nhiều trong các ngôi mộ cổ này khắc đầy các bức họa tiết sinh động nhiều màu sắc. Nhưng những nguồn ánh sáng thô sơ của người Ai Cập cổ đã biết (nến, đèn dầu, vv ) đều gây ra nhiều bồ hóng và tiêu thụ ôxi. Như vậy, làm thế nào những người Ai Cập cổ lấy ánh sáng? Một vài nhà duy lý cho rằng họ đã dùng gương phản chiếu ánh mặt trời, nhưng chất lượng của những cái gương đồng mà người Ai Cập cổ đã dùng không thể dùng cho việc này được. Trong ngôi đền cổ Hathor tại Dendera, vài chục km về phía Bắc Luxor, Ai Cập một vài chuyên gia đã tìm thấy câu trả lời. Một kỹ sư điện người Na Uy đã thông cáo rằng một mẫu vật có thể làm được chức năng này. Một đồng nghiệp người Áo đã có thể làm ra một mẫu, và 2 tác gia nổi tiếng tại AAS, Peter Krassa và Rainer Habeck, có thể còn xây dựng nên một thuyết thực sự dựa trên nó. Cái mà chúng ta nhìn thấy không cần hỏi nhiều đó chính là một loại bóng đèn, với 2 cánh tay ở một đầu to của bóng, và một loại dây cáp ở đầu bên kia, từ đó một sợi dây tóc kéo dài chạm vào mấy cánh tay ở đầu kia. Toàn bộ Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 3
- Chân – Thiện – Nhẫn thực tế trông thấy là một bóng đèn. Bóng đèn điện thời tiền sử So sánh các ống lót Hình ảnh trụ đỡ rất giống như loại chân sứ của các thiết bị điện ngày nay Một hình chạm khác Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 4
- Chân – Thiện – Nhẫn Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 5
- Chân – Thiện – Nhẫn Một loại bóng đèn khác? Xem thêm hình ảnh tại đây Bằng chứng thứ 2: Kiến thức Toán học và Thiên văn siêu đẳng Lịch pháp Maya Người Maya không có các phương tiện kỹ thuật khoa học hiện đại như chúng ta, nhưng họ tinh thông Một người đàn ông đối với thiên văn lẫn toán học khiến chúng ta vô cùng Maya trong tư thế thán phục và kinh ngạc. Ngoài ra, nền văn minh của thiền định họ ẩn chứa rất nhiều điều bí mật. Họ có những con đường phát triển, nhưng lại không sử dụng bánh xe trong các phương tiện đi lại, nhưng họ lại biết đến bánh xe, vì người đời sau phát hiện những đồ chơi cho trẻ em của họ có hiện diện bánh xe! Họ đem bản đồ mặt sau của mặt trăng khắc trên cửa miếu Thần mặt trăng để trang trí, khiến các nhà khoa học ban đầu không đoán được đó là hình vẽ gì, đến khi chứng thực được đó là hình vẽ mô tả phía sau mặt trăng thì thực sự sốc: Làm thế nào họ có thể thấy được như vậy? Mặt trăng luôn hướng về địa cầu chỉ một mặt không thay đổi theo thời gian. Qua rất nhiều những dữ liệu có được về họ cho đến nay, rất có thể khoa học trong nền văn minh của họ đi theo một hướng khác, không giống như loại khoa học thực chứng dựa chỉ trên 5 giác quan hạn hẹp của chúng ta đương đại. Vào năm 1521, người Tây Ban Nha xâm lăng vùng đất của người Maya, nhưng thành phố hoang vắng không một bóng người, người Mayan đã bỏ lại thành phố đi đâu không ai biết từ thế kỷ 9 và 10. Người Tây Ban Nha đã hủy hoại đại đa số văn tự ghi chép của người Mayan để lại, chỉ còn lại ba cuốn sách khiến người đời sau khó lòng hiểu rõ về văn hoá của họ. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 6
- Chân – Thiện – Nhẫn Nền văn minh Mayan tuy đã biến mất, nhưng họ để lại lịch Pháp của họ, mà còn đo tính được mấy ngàn năm sau điểm chung kết của văn minh kỳ này - ngày 21 tháng 12 năm 2012. Họ đã cố tình để lại cho ai xem vậy? Chichen Itza do nền văn minh Maya xây dựng, nằm ở trung tâm phía bắc Bán đảo Yucatan, Mexico ngày nay, vừa là đàn tế thần, vừa là đài quan sát thiên văn. Đài thiên văn ở Chichén Itzá là đài thiên văn số Một do người Maya xây dựng nên cũng là đài thiên văn cổ nhất. Đỉnh chóp của đài thiên văn này cao trội hẳn lên trên các ngọn cây trong rừng rậm, bên trong có một cầu thang tròn lên tận đỉnh chóp của đài quan sát. Trong đỉnh chóp có các cửa sổ để quan trắc các tinh tú. Bên ngoài vách đá của tháp có trang trí hình khắc thần mưa, còn có cả hình khắc phù điêu hình người vươn cánh tay bay vào Vũ trụ Căn cứ vào lịch Pháp dài của người Mayan, ngày 21 tháng 12 năm 2012 là cái Baktun thứ mười ba của ngày cuối cùng, người Mayan đã ghi 13.0.0.0.0. Trưóc hết chúng ta nên học tập một ít về phương pháp ghi số của người Mayan: Số ngày / Thuật ngữ 1 / Kin (ngày) 20 / Unial (con số then chốt quan trọng của lịch Pháp Mayan là 20) 360 / Tun 7200 / Katun 144000 / Baktun Thí dụ; 6.19.19.0.0 tương đương 6 cái Baktun, 19 cái Katun, 19 cái Tun, 0 cái Unial, 0 cái Kin, tính toán ra là bằng 6 x 144000 + 19 x 7200 + 19 x 360 = 1007640 ngày. 13.0.0.0.0 = 13 x 144000 = 1872000 ngày, tính ra là 5125.26 năm. Căn cứ vào sự tính toán của Eric S.Thomson, 0.0.0.0.0. của người Mayan tương đương với thứ 584283 Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 7
- Chân – Thiện – Nhẫn ngày của Julian, tức là ngày 11 tháng 8 năm 3114 trước Công nguyên. 13.0.0.0.0 thì là cái ngày sau 5125 năm, tức là Công nguyên ngày 21 tháng 12 năm 2012. Vì người Mayan là những chuyên gia quan sát bầu trời (Skywatchers), những học giả nghiên cứu văn hóa Maya đã kỹ lưỡng nghiên cứu thiên tượng sẽ xuất hiện vào ngày 21 tháng 12 năm 2012, đã hiểu rõ ràng tại sao người Mayan đã đem ngày này đặt là ngày chung kết của nền văn minh kỳ này. Ngày này là ngày Đông chí (Winter Solstice). Đây là ngày mặt trời sẽ hoàn toàn trùng hợp với giao điểm hình thành bởi Hoàng Đạo (Ecliptic) và Xích Đạo (Equator) của Hệ Ngân Hà chúng ta. Căn cứ vào lịch Pháp Mayan. Năm 1992 là năm thứ nhất của cái 20 năm cuối cùng (20 năm là một cái unial, lịch pháp Mayan gọi 20 năm cuối cùng này là “Thời kỳ canh tân địa cầu”) của cái Baktun cuối cùng (cái thứ 13). Công nguyên năm 755, dự ngôn của một vị tăng Mayan: Sau năm 1991, nhân loại phải xảy ra hai sự việc trọng đại - Sự tỉnh giác ý thức về vũ trụ của nhân loại và sự tịnh hóa và tái sinh của Địa cầu. Trên thực tế, người Mayan đã đem hai mươi năm cuối cùng của cái Baktun thứ mười ba (cuối cùng nhất của cái Unial, tức là năm 1992 đến năm 2012) gọi là Địa Cầu tái sinh hoặc Thời kỳ làm sạch Địa Cầu (Earth Regeneration or Earth Purification Period). Thật ra, trong sinh hoạt hằng ngày chúng ta thường xuyên có thể thấy được sự nhắc nhở đối với tương lai, chỉ bất quá con người không quan tâm đến. Chúng ta sử dụng mỗi ngày tờ giấy bạc một đô la ở mặt sau cũng có một dự ngôn giống nhau, mời tham khảo: Trong đó có một ấn chương (seal) là hình Kim Tự Tháp, Kim tự Tháp này có 13 tầng, trên ngọn cuối của tầng 13 Kim Tự Tháp có một con mắt tỏa ra ánh sáng rực rỡ, ở đây đã dự báo sự tỉnh giác của nhân loại sau khi đi hết 13 cái Baktun. Nghĩa của Annuite Coeptis là : Thần đang quan tâm đến những gì chúng ta đã làm; Novus Ordo Seclorum có nghĩa là: Thứ tự mới của Tân Thế Kỷ. Hiện giờ chúng ta sinh hoạt ở thời đại tôn sùng vật chất, người thời nay chủ yếu quan tâm là tiền bạc, người đẹp, dục vọng, hưởng lạc, thành tựu, quyền lực và địa vị. Những người không có hứng thú đối với những thứ đó cũng đành phải vẫy vùng khổ cực trong đời sống ô trọc này. Do vậy mà dẫn đến sự băng hoại của thế giới tinh thần, làm cho con người càng ngày càng trở nên tầm thường, đứng trước tà ác, tàn bạo, chiến tranh, thiên tai, ôn dịch, nghèo đói, chủ nghĩa khủng bố và sự điên cuồng của hiện tượng hỗn loạn xã hội người ta cũng dần dần tê liệt, không còn ý muốn đối kháng, thuận theo dòng chảy và thoái hóa theo. Rất ít người có thể ý thức được nhân loại xã hội đã đang đi hướng tới con đường tự hủy diệt. Với xã hội ham muốn thể xác lẫn vật chất như vậy, lực lượng nào có thể tịnh hóa địa cầu được? Khẳng định không phải nhờ vào sự cưỡng ép quản chế của luật pháp, vì luật pháp do con người đặt ra, là có sơ hở, những kẻ làm trái pháp luật có thể nhờ vào địa vị, quan hệ và tiền bạc mà lẩn trốn sự trừng phạt, thậm chí lợi dụng quyền lực của luật lệ để thỏa mãn các dục vọng cá nhân. Ngoài ra, Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 8
- Chân – Thiện – Nhẫn luật pháp chỉ có thể chế tài hành vi trông thấy được của con người, nhưng không thể nào ràng buộc nội tâm không thấy được của con người. Đương nhiên càng không thể nào nhờ vào cái gọi là đột phá của khoa học, tại vì chính nền khoa học thực chứng dựa trên cơ sở 5 giác quan cảm thụ khiến nhân loại và cả nền khoa học thực chứng này càng ngày càng theo đuổi mục đích hưởng thụ vật chất cá nhân, xa rời lương tâm đạo đức. Không có sự ước chế của tiêu chuẩn đạo đức cao, các thành tựu khoa học thậm chí còn gây nhiều tổn thất lớn hơn cho nhân loại, điển hình là Hiroshima và Nagasaki. Theo một số nhà thiên văn học của nền văn minh hiện đại chúng ta, thì cũng vào ngày này hệ Mặt Trời của chúng ta sẽ đi qua mặt phẳng xích đạo của thiên hà, một điều chỉ xảy ra theo mỗi chu kì 26.000 năm. Lịch của người Mayan bắt đầu từ năm 3114 trước công nguyên, tức là họ chưa hề có cơ hội kiểm chứng điều nêu trên. Người Mayan gọi sự kiện này là cái cây thánh, nó sắp xếp sự thẳng hàng của Hệ Mặt Trời với trung tâm thiên hà theo mặt phẳng chính, điều đó có nghĩa là hấp dẫn tác động lên Hệ Mặt Trời khi đó sẽ là cực đại. Nhưng làm thế nào người Maya có thể biết trước được, tính toán được chính xác tất cả những điều phức tạp đó trước đây hàng ngàn năm? Theo những thông tin về động đất tại cục địa lý Hoa Kì, các trận động đất của chúng ta ngày càng lớn hơn do hậu quả của những chuỗi chấn động trong những năm 1890 đến 1899 và từ 2000 đến 2004, độ lớn của những trận động đất này đang tiếp tục tăng lên khi chúng ta tiến đến gần mặt phẳng chính của thiên hà. NASA dự đoán rằng một trận bão Mặt Trời vào năm 2012 sẽ gây ra những chấn động lên Trái Đất lớn gấp 30 đến 50 phần trăm so với bất cứ sự tác động nào trước đây ta đã biết. Yulish tin rằng việc này sẽ làm nóng hành tinh của chúng ta và nó có liên quan trực tiếp đến sự xuất hiện của các vết đen Mặt Trời, Mặt Trời sẽ nóng hơn và sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới Trái Đất. Một vụ nổ bất chợt trên Mặt Trời vào thời điểm 2012 đó có thể phóng 1 khối lượng lớn đến va chạm với Trái Đất giống như việc chúng ta va chạm với một tiểu hành tinh hay sao chổi. Khi việc đó xảy ra, có thể một lần nữa trục của Trái Đất sẽ thay đổi và hiển nhiên sẽ ảnh hưởng đến sự quay của Trái Đất. Nếu như điều đó sẽ xảy ra vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 sắp tới, đó sẽ là một ngày rất đáng nhớ, với tất cả chúng ta! Toán học và thiên văn học trình độ cao của người Maya Người Maya sáng tạo được một nền toán học phát triển vượt bậc, để có thể ghi chép các sự kiện theo năm tháng nhằm quyết định thời gian gieo trồng và thu hoạch, tính toán một cách chính xác thời tiết và những ngày mưa nhiều nhất trong năm. Kỹ thuật toán học của họ trong các dân tộc thời cổ đại nguyên thủy khiến các nhà khảo cổ không khỏi kinh ngạc, nhất là việc họ rất thành thạo khái niệm về số "0". So với các nhà buôn Ả Rập vượt sa mạc đưa khái niệm số "0" truyền từ Ấn Độ sang châu Âu thì người Maya sớm hơn 1000 năm. Người Maya tính ra mỗi tháng có 20 ngày, mỗi năm có 18 tháng cộng thêm mỗi năm có 5 ngày kiêng kỵ không đưa vào tháng nào. Nhờ vậy số ngày thực chất trong một năm là 365 ngày. Số đó vừa vặn trùng hợp với nhận thức quay về thời gian Trái đất tự quay và quay quanh Mặt trời hết một chu trình. Người Maya ngoài sự hiểu biết về lịch Trái đất chuẩn xác, họ còn rất am hiểu về lịch năm của sao Kim. Một năm của sao Kim, tức là thời gian để sao Kim quay quanh Mặt trời hết một chu trình, người Maya tính ra một năm sao Kim dài 584 ngày. Còn ngày nay tính ra một năm sao Kim dài 583,92 ngày. Đó là một con số chuẩn xác đến kinh ngạc mà người Maya đã có phương pháp tính lịch từ mấy ngàn năm trước. Trong thực tiễn xã hội và sản xuất, phần đông các dân tộc căn cứ vào con số ngón tay để sáng tạo ra phép đếm cơ số 10. Còn người Maya lại căn cứ vào số ngón tay và ngón chân cộng lại để sáng tạo ra phép đếm cơ số 20. Ngoài ra họ còn sử dụng thêm cả phép đếm cơ số 18, phép đếm này gợi ý về cái gì? Lấy cái gì làm căn cứ? Người Maya còn là dân tộc đầu tiên trên thế giới nắm vững khái niệm cơ số "0", nhận thức và vận dụng số "0" trong toán học đánh dấu trình độ nhận thức của một dân tộc. Về vấn đề này, người Maya so với người Trung Quốc và người châu Âu đã sớm hơn được 3800 năm và 1000 năm. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 9
- Chân – Thiện – Nhẫn Một “Tinh quan Maya” ("Maya Stargate") ở Chicanna tại bán đảo Yucatan với nhiều nét hoa mỹ kỳ lạ Nền văn minh Maya có một kiến thức không thể tin được về thiên văn. “Bản chép tay Dresden” là một trong số vài sách chép tay còn sót lại trước sức tàn phá của những kẻ xâm lược Tây Ban Nha. Những bản chép tay này mô tả chính xác các dữ liệu quỹ đạo của tất cả các hành tinh trong Thái Dương Hệ chúng ta trong mối quan hệ tham chiếu lẫn nhau. Điều này chỉ được chứng minh bằng các kỹ thuật khoa học tối tân của chúng ta hiện nay! (Trích trong bảng Venus – Sao Kim) Một chứng minh khác về hiểu biết cổ đại về các ngôi sao của họ là tri thức của họ về sự dịch chuyển của trục trái đất lặp lại theo chu kỳ cứ mỗi 25920 năm một lần, và vì vậy kéo theo sự dịch chuyển hằng năm của các chòm sao khoảng 14/1000 độ. Điều này nghĩa là mỗi năm các ngôi sao mọc sớm hơn 3,4 giây so với cùng thời điểm đó của năm trước. Những truyền thuyết cổ xưa kể lại rằng những kiến thức này được trao cho họ từ các “taskmasters" – “người giao việc” đến từ các ngôi sao khác! Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 10
- Chân – Thiện – Nhẫn Dải Ngân Hà (mà người Maya gọi là “zac beh” nghĩa là “Con đường trắng”) được họ tôn thờ vì họ cho rằng nơi đó là quê hương các vị Thần của họ Kim tự tháp mà người Maya căn cứ vào lịch pháp của mình để xây dựng nên, thực chất là một đàn cúng tế thần linh kiêm đài quan trắc thiên văn. Cửa sổ đài thiên văn Chichén Itzá của họ không phải hướng về những vì sao sáng nhất mà họ hướng về nơi màn đêm trầm lặng bên ngoài dải Ngân Hà. Còn lịch pháp của họ thì có thể duy trì được đến 400 triệu năm sau, nó được dùng để làm gì? Ngoài ra họ tiếp thu kiến thức từ đâu mà tính ra được năm Mặt trời và năm sao Kim với độ chính xác chỉ sai ở những con số sau dấu phẩy? Rất hiển nhiên, tất cả những kiến thức đó đã vượt ra ngoài nhu cầu thực tế của người Maya (theo như hiểu biết hạn chế của chúng ta về họ) đang sống trong thời kỳ xã hội nông nghiệp và khiến cho các nhà khảo cổ chưa thể giải thích được. Bằng chứng thứ 3: Trình độ kiến trúc và xây dựng siêu đẳng, vượt trội nền văn minh hiện đại của nhân loại Từ những công trình cổ xưa mà hiện nay vẫn còn nằm trên mặt đất Trong đống đổ nát của Puma Puncu tại Nam Mỹ andesit có những khối nằm rải rác, được chế tạo giống như hệ thống khối xây dựng. Các nhà khảo cổ liên hệ thành phố này với người thổ dân Anh Điêng Aymara bản địa. Tuy nhiên không có văn bản chứng minh nào nói đến điều này và cũng chẳng có kim loại ở đây để chế tác những chi tiết xây dựng chính xác đến như thế. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 11
- Chân – Thiện – Nhẫn Kim tự tháp Mặt trời tại Teotihuacan , Mexico. Đây là Kim tự tháp lớn nhất thế giới.Những chấm trắng nhỏ xíu trên đỉnh của nó là các khách du lịch tham quan. Không ai biết những người đã xây dựng công trình vĩ đại này là ai? Ngay cả những người Aztec cổ xưa đã phát hiện ra những công trình này cũng không biết gì về nguồn gốc của chúng. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 12
- Chân – Thiện – Nhẫn Kim tự tháp Mặt trăng, nhìn từ đỉnh của Kim tự tháp Mặt trời, nằm trong tổ hợp các đền thờ và kim tự tháp tại Teotihuacan, Mexico Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 13
- Chân – Thiện – Nhẫn Kim tự tháp Euseigne, Pháp. Là một kỳ quan đáng chú ý nhất trên dãy Alps. Trông tựa như là do tự nhiên tạo ra, nhưng hình dạng của chúng thật kỳ lạ. Chưa kể trên chóp của 2 ngọn tháp là 2 tảng đá khổng lồ nằm thăng bằng bất kể thời gian. Rốt cuộc, nó là tự nhiên hay nhân tạo ? Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 14
- Chân – Thiện – Nhẫn Kim tự tháp Kukulkan tại Chichen Itza, Pêru Ở đây trên đỉnh của một ngôi đền ta nhìn bao quát xung quanh Những kiến trúc lớn tại đây cao đến 70 m lên trên những ngọn cây . Ngay cả đến ngày hôm nay, chỉ có một phần nhỏ trong khu vực rộng lớn ở Tikal được khám phá và nghiên cứu vì lý do kinh phí. Chúng ta vẫn đang ở điểm xuất phát trong công cuộc khám phá những nền văn minh đầu tiên của khu vực Nam Mỹ. Ngay cả những văn bản hiếm hoi của người Maya còn lưu lại vẫn chưa được giải mã hoàn toàn, trái ngược với suy nghĩ của một số chuyên gia! Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 15
- Chân – Thiện – Nhẫn Tại địa điểm chính, nơi mà những kiến trúc vĩ đại tập trung lại với nhau là nơi tiến hành những nghi lễ của người Maya. Tại sao người ta lại xây dựng một thành phố khổng lồ như thế? Những bể chứa nước lớn cung cấp cho dân chúng, chỉ cách hồ Peten Itza có 40 km. Tikal được xây dựng như là chốn thiên đường cho những người thời đó. Người ta tìm thấy dòng chữ sau được khắc trên một bia đá: “Tại đây những vị Thần đã từ những vì sao xuống Trái Đất!” (“Here came the gods from the stars down to the earth!”) Một góc trong tổ hợp các công trình cổ đại tại Totonaco, Mexico Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 16
- Chân – Thiện – Nhẫn Kim tự tháp Lớn – Kim tự tháp Giza Kỳ quan của thế giới mọi thời đại, Kim tự tháp Giza là một ví dụ đặc biệt điển hình rằng lịch sử của loài người cho đến nay được biết và được học đã sai lầm trầm trọng. Một số chuyên gia đã tránh đề cập đến thuyết “Hitat” từ một nhà sử học A Rập tên là Ahmed Al Makrizi (1364- 1442). Trong cuốn sách “Capital of the Pyramids” – “Thủ đô của các Kim tự tháp”, Al Makrizi đã đưa ra các hiểu biết và các tài liệu về thời của ông vào trong tác phẩm. Kim tự tháp đã được xây dựng sau thời của vị vua Saurid. Thần đã cho Saurid “hiểu biết của các vì sao” và cho ông biết về thảm họa sẽ xảy ra trên toàn Trái đất. Vì thế, Saurid, còn được biết đến dưới cái tên Hermes hay là Idris, đã xây dựng nên Kim tự tháp: “Có những người đã nói: Hermes (thần Thoth của người Ai Cập), là một nhà tiên tri, một vị vua, một nhà hiền triết, người đã Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 17
- Chân – Thiện – Nhẫn đọc các vì sao rằng một Thiên Cơ sẽ đến. Ông xây dựng kim tự tháp và cứu thoát tất cả những gì ông muốn khỏi bị đắm, những thứ lẽ ra phải bị mất đi”. Nhà sử học A Rập Abd Al-Hakam đã viết: “Tôi tin rằng những kim tự tháp đã được xây dựng trước khi được biết đến bởi người Ai Cập sau này; nếu chúng được xây dựng sau, hẳn mọi người đều đã biết về nó rồi”. Một số nhà khoa học xác định niên đại của Kim tự tháp này vào khoảng 12000 năm. Tức là sớm trước các Kim tự tháp khác nhiều ngàn năm. Kim tự tháp lớn nhất lại được xây dựng sớm hơn các Kim tự tháp nhỏ những vài ngàn năm, tại sao lại như thế ? Tại LiBăng, tại 1150 m so với mực nước biển, tọa lạc những đống đổ nát những ngôi đền lớn nhất của thế giới. Baalbek là thành phố của thần Mặt trời Baal hay còn được biết đến là Heliopolis, vị thần Hy Lạp Helios. Tổ hợp này bao gồm các ngôi đền còn sót lại, ví dụ, đền Bacchus Temple, có tỉ lệ lớn hơn nhiều so với đền thờ Acropolis ở Athens, Hy Lạp Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 18
- Chân – Thiện – Nhẫn 6 cột trụ còn lại của ngôi đền lân cận Jupiter Temple và nền móng của nó có các kích thước bên ngoài lớn như thể nó được xây dựng cho những “Người khổng lồ”. Nó nhắc ta nhớ lại một đoạn trích trong Genesis : On some days these giants were on earth, and even later, after the sons of the gods! mated with the daughters of men! and these gave birth to children. These are the heroes of the eons, the famous men.(Genesis Chap. 6 Old Testament) Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 19
- Chân – Thiện – Nhẫn Ở đây chúng ta có thể nhận thấy các kích thước to lớn khác thường của nền móng mà Đền thờ Jupiter Temple đang tọa lạc. Cho đến bây giờ không ai có thể hiểu được làm thế nào những tảng đá nặng hàng ngàn tấn mà ngay cả các cần trục khỏe nhất của người hiện đại chúng ta cũng không nhấc nổi này, lại có thể được tách ra, đẽo gọt vuông vắn và vận chuyển từ khu mỏ cách đó nhiều km, rồi được xây dựng vào vị trí chính xác của chúng, tại công trường có độ cao 1150m như thế này. Ngay cả với công nghệ hiện đại ngày nay đây cũng là một bài toán hết sức nan giải, gần như không thể thực hiện được. Không thể hiểu người xưa đã dùng các công cụ thiết bị cũng như các phương tiện vận chuyển gì để dựng nên bí ẩn vĩ đại này? "Hòn đá phương Nam" tại Baalbek (Li Băng) nặng 1300 tấn! Không có chiếc cần trục nào có thể nhấc nổi nó. Thành phố của thần mặt trời Baal ở Li Băng, mọi thứ đều có kích thước to lớn khác thường. Vào những ngày đó những người khổng lồ đã ở trên mặt đất, và về sau, sau khi những con trai của các vị thần lấy những con gái của con người và sinh con đẻ cháu. Đó là những người anh hùng của các thời đại, những người nổi tiếng. (On some days these giants were on earth, and even later, after the sons of the gods! mated with the daughters of men! and these gave birth to children. These are the heroes of the eons, the famous men) (Genesis, Chương 6, Cựu Ước) Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 20
- Chân – Thiện – Nhẫn Tảng đá to nhất (tảng khối xây dựng lớn nhất hành tinh) có kích thước 21,36m chiều dài, cao 4,33m, rộng 4,6m và cân nặng khoảng từ 1200 tấn đến 2000 tấn. Nó được vận chuyển đến nền đất cao của Baalbek và có cái tên là “Hajar el Gouble”- “Tảng đá phương Nam” hay là “Hajar el Hibla” – “Tảng đá người thai phụ”. Tảng đá này cùng với các tảng khối khác đã đem lại cho các nhà khảo cổ, các nhà khoa học và các kỹ sư nhiều bí ẩn to lớn. Địa hình Baalbek dốc, mấp mô và lởm chởm đá, hoàn toàn bất lợi cho việc xây dựng. Không thể chứng minh rằng vùng đất này xưa kia bằng phẳng trong thời tiền sử lúc nó được xây dựng. Hơn nữa, các tảng đá nặng 1000 tấn phải được nhấc bổng lên và đặt chồng lên nhau làm nền móng. Có giả thuyết cho rằng các mặt phẳng nghiêng, ròng rọc và hệ thống giàn đã được sử dụng, cùng với hàng ngàn công nhân và sức thú. Đài kỷ niệm Ai Cập phía trước Hoàng Cung của St. Peter ở La Mã làm một ví dụ. Kiến trúc sư Domenico Fontana đã xây dựng tảng đá 327 tấn ở thời kỳ Phục Hưng với sự giúp sức của 40 ròng rọc lớn, 800 công nhân, 140 con ngựa. Tuy nhiên ông ta có một khoảng đất bằng phẳng trống trải. Những thuận lợi này không thể tìm thấy tại Baalbek. Có thể thấy rõ rằng Baalbek không phải được dựng nên vào thời kỳ của đế quốc La Mã. Cũng không có nguồn thông tin nào của La Mã đề cập đến các phương pháp xây dựng, hoặc các dữ liệu và tên gọi của những người chủ, các kỹ sư, các kiến trúc sư và các công nhân của công trình này. Tảng ghép Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 21
- Chân – Thiện – Nhẫn nguyên khối của 3 khối mỗi khối hơn 1000 tấn, ghép nối với 6 tảng khác tại phía Tây của công trường không có nét kiến trúc hay họa tiết điêu khắc mỹ thuật nào tương tự với những công trình trong thời đại La Mã. Những khối đá vôi có các dấu vết rõ ràng của sự xói mòn cát cho thấy đây là một công trình đã được xây dựng sớm hơn thời đó. Tiahuanaco, Bolivia là một huyền thoại bởi tuổi của nó được ước tính lên tới 17000 năm, cùng với kỹ thuật chế tác đá kỳ lạ không tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 22
- Chân – Thiện – Nhẫn Kiến trúc ấn tượng trên hình là của một ngôi nhà hầm khoảng 4000 đến hơn 6000 tuổi, tìm thấy trong lòng đất của một ngôi đền cổ ở Malta. Để cố gắng bắt nó nằm trong khuôn khổ, có những nhà khoa học đã nhận chắc rằng những người xây dựng nên công trình này là người đồ đá, sử dụng các công cụ như là những cái cuốc bằng gạc hươu và những cái vồ bằng đá để đục đẽo và tạc nên công trình tuyệt đẹp này, trong lòng đá vài ngàn năm trước (!). Ngay cả ở thời nay muốn xây một căn nhà trong lòng đá granite dưới lòng đất như vậy đã là một chuyện rất khó. Công nghệ dùng ở công trình này có trình độ ngang ngửa với kỹ thuật của công trình Kim tự tháp Lớn của Ai Cập. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 23
- Chân – Thiện – Nhẫn Các khối đá hình thù khác biệt được ghép nối chặt chẽ, hài hòa và cực kỳ bền vững. Các tảng khối đôi khi rất lớn, nhưng các mối nối luôn rất chính xác. Cách xử lý đá như thế này được tìm thấy tại nhiều công trình cổ xưa khác nhau rải rác khắp thế giới Khu vực xung quanh Nazca được bao phủ bởi những con kênh ngầm nhân tạo dẫn nước, mà niên đại và những người xây dựng nên chúng đến nay vẫn không ai biết! Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 24
- Chân – Thiện – Nhẫn Đến những công trình tiền sử hiện nay đang nằm dưới đáy biển sâu gây nên bởi một số biến cố bí ẩn làm các mảng lục địa trồi lên hoặc chìm xuống Cấu trúc Kim tự tháp Yogaguni đang nằm dưới đáy biển Nhật Bản Yogaguni là một hòn đảo nhỏ nằm về phía Tây Nam của đảo Okinawa thuộc quần đảo Nhật Bản. Năm 1988, những thợ lặn dẫn đầu bởi Kihachiro Aratake đã khám phá ra một cấu trúc đá khổng lồ dưới đáy biển tại đây. Cấu trúc này nằm ở độ sâu 75 bộ dưới mặt nước biển. Nghiên cứu cho thấy nó dài 600 bộ, cao 450 bộ, và cao 90 bộ. Ban đầu các chức trách địa phương cho rằng đó là một kiến tạo tự nhiên. Nhưng 10 năm sau, các chuyên gia không còn chắc mẩm như thế nữa. Nhà địa chất học nghiên cứu cấu trúc này là Giáo sư Masaki Kimura của trường Đại học Ryuku ở Okinawa. Vào tháng 4 năm 1998 ông khám phá ra một cấu trúc bị chia thành 5 tầng riêng biệt và từ đó khẳng định cấu trúc này dứt khoát là nhân tạo. Ngày nay các bức ảnh và phim quay được đã cho thấy một cấu trúc chia bậc, gần giống cấu trúc đền thờ Ziggurat của người Sumer vùng Lưỡng Hà xưa kia, nhưng có kích thước lớn khác thường. Mỗi bậc cao khoảng 3 bộ với các góc cạnh sắc nét. Các nghiên cứu xa hơn đã phát hiện ra nhiều Ziggurat vệ tinh nhỏ nằm gần công trình chính. Chúng có kích thước khoảng 30 bộ rộng và 6 bộ cao. Chúng có vẻ được xây dựng bằng các phiến đá mỏng. Các thợ lặn còn phát hiện cái trông như là một con đường chạy xung quanh công trình chính. Sau đó, họ còn phát hiện ra những con đường dài, những đại lộ lớn, những cấu trúc cầu thang lớn, những cấu trúc cổng tò vò, Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 25
- Chân – Thiện – Nhẫn các khối đá khổng lồ được đẽo gọt chính xác và tỉ mỉ, tất cả hài hòa trong một chỉnh thể kiến trúc đồng nhất mà họ chưa từng thấy bao giờ. Chúng có vẻ như là phần còn lại tương đối nguyên vẹn của một thành phố tiền sử. Đoàn thám hiểm Team Atlantis đã lặn xuống quay bộ phim tài liệu về công trình này khẳng định đây là một công trình nhân tạo. Không có bằng chứng nào cho thấy những cư dân của nền văn hóa Nhật Bản cổ đại có thể xây dựng nên chúng. Nói cách khác, những ai đó thuộc về những thời kỳ tiền sử xa xôi đã xây dựng lên nó, trước khi một biến cố địa chất nào đó đã làm cho cả một mảng khối lục địa to lớn chìm xuống, kéo theo cả công trình dang dở vĩ đại này. Các giám định niên đại cho thấy cấu trúc này có thể ra đời vào khoảng 8000 đến 10000 năm trước công nguyên. Đến nay, sau 20 năm khám phá ra công trình này, nguồn gốc của nó vẫn là một câu đố không có lời giải. Hình ảnh "khuôn mặt" tại công trình Yonaguni công khai đăng trên tờ báo Ancient American Yonaguni Bằng chứng về một thành phố cổ đại tìm thấy tại Cuba By Michael Posner. The Globe and Mail. Montreal, Canada. December 7, 2001. Một nhóm các nhà nghiên cứu Canada và Cuba đã khám phá ra phần còn lại của cái có thể là một thành phố cổ 6000 năm tuổi đang chìm dưới đáy biển sâu ở bờ tây của biển Cuba. Sử dụng các thiết bị dò tìm siêu âm và máy quay phức tạp, kỹ sư Paulina Zelitsky, cùng chồng cô, Paul Weinzweig, và con trai, Ernesto Tapanes đã khám phá ra những tảng đá lớn “của cùng một loại mà chúng ta phát hiện thấy tại Stonehenge hay đảo Easter”. “Một vài cấu trúc phức tạp có thể có chiều rộng khoảng 400 m và cao khoảng 40 m”, Paul Weinzweig nói. “Một số đang nằm trên đỉnh của những cái khác. Chúng cho thấy những góc cạnh sắc nét và tính đối xứng các dấu hiệu của loại công trình nhân tạo. Chúng tôi đã chỉ cho các nhà khoa học Cuba, Hoa Kỳ và bất cứ ai, và không ai cho rằng đó là một công trình của thiên nhiên”. Atlantis Site.com Hơn nữa, một nhà nhân loại học Liên kết với Cơ quan khoa học Cu Ba đã nói rằng những hình ảnh trích dẫn từ những cuộn phim video đã chỉ rõ “các biểu tượng và câu khắc trên đá”, và đến giờ không ai biết nó viết bằng thứ ngôn ngữ nào. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 26
- Chân – Thiện – Nhẫn Những bức ảnh chụp bằng các thiết bị dò vẽ địa hình bằng âm thanh, cho thấy những sự giống nhau rất đáng lưu ý đến các cấu trúc dạng kim tự tháp Maya và các đền thờ của người Aztec tại Mexico. Ông Weinzweig cho rằng còn quá sớm để đưa ra kết luận từ những bằng chứng thu thập được cho đến nay. Đội nghiên cứu đã lên kế hoạch tiến vào khu vực vào tháng 1 năm 2002. Vào mùa hè 2002, họ hy vọng sẽ quay trở lại với các thiết bị khai quật dưới nước tối tân, được trang bị các chức năng cần thiết cho việc thẩm định khảo cổ học, và cả khả năng thổi cát bám khỏi các tảng đá. Xem thêm hình ảnh tại đây Các cấu trúc nằm trong một khoảng đất nền bằng phẳng khoảng 700 m dưới mực nước biển. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 27
- Chân – Thiện – Nhẫn Các nhà địa chất từng cho rằng có một dải đất nối liền Cuba và bán đảo Yucatan của Mexico. Và một số phần của đảo Cuba thì tin rằng đã từng chìm ngập trong nước biển vào 3 thời kỳ khác nhau trong quá khứ xa xôi. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 28
- Chân – Thiện – Nhẫn Ông Weinzweig chỉ nói rằng cần nhiều thông tin hơn nữa. “Chúng ta tốt nhất là hãy tránh xa chủ đề về Atlantic. Đây là một trong những mối quan tâm khoa học vĩ đại, nhưng nó phải bao hàm cả những tài liệu thực sự đáng tin cậy khác về các nền văn minh tiền sử”. ("We'd prefer to stay away from that subject. This is something of great potential scientific interest, but it must involve serious authorities on ancient civilizations") Niên đại chính xác của công trình dưới đáy biển này vẫn chưa được biết, tuy nhiên các nhà khảo cổ đã khai quật vào năm 1966 một cấu trúc đá đồ sộ trên nền đất bằng tại bờ biển phía Tây, gần khu vực khám phá mới này, và chúng được định niên là năm 4000 trước công nguyên. “Dựa trên khám phá đó và những thông tin khảo cổ khác, chúng tôi khẳng định rằng chúng khoảng 6000 năm tuổi”, ông giải thích. “Chưa thể biết chính xác, nhưng chúng thật sự rất cổ xưa”. Nếu điều này được chứng minh là chính xác, thì có nghĩa là một nền văn minh tiền sử đã thiết kế và xây dựng nên những cấu trúc đá khổng lồ này tại Châu Mỹ chỉ 500 năm sau khi sự định cư của con người lần đầu tiên được tổ chức thành các thành phố và thành bang. Chúng đã được xây dựng từ lâu trước khi bánh xe được phát minh tại Sumeria (3500 năm trước công nguyên, nền văn minh cổ xưa nhất mà loài người hiện đại biết được từng tồn tại), hay là đồng hồ mặt trời tại Ai Cập cổ đại (3000 năm trước công nguyên). 3 Kim tự tháp trên vùng nền của kim tự tháp Giza được ước định là được xây dựng khoảng giữa 2900 và 2200 năm trước công nguyên. Công ty Advanced Digital Communications của cặp vợ chồng có trụ sở tại Havana, đã khám phá ra công trình vào 7/2000, dùng thiết bị quét dò siêu âm để xem xét những gì của một thành phố dưới nước, hoàn chỉnh với các con đường, các tòa nhà và các kim tự tháp. Họ cũng từng trở lại mang theo một thiết bị không người lái điều khiển từ xa nặng khoảng 1,3 tấn, điều khiển từ tàu mẹ thông qua cáp quang. Camera của nó đã khẳng định những phát hiện đầu tiên, chỉ ra những khối đá khổng lồ giống granite, khoảng 2 đến 5 m chiều dài, được cắt gọt theo các thiết kế vuông góc hoặc tròn trịa. Tuy nhiên vấp phải những vấn đề kỹ thuật, ông Weinzweig nói, "chúng tôi chỉ mới quan sát được rất sơ bộ bên ngoài công trình mà thôi. Căn cứ trên những thăm dò ban đầu, chúng tôi nghĩ rằng nó thậm chí phải lớn hơn nhiều lần so với những gì các thiết bị dò dùng âm thanh cho thấy. Chúng có thể trải dài đến vài km”. Một tảng đá trắng lớn với những đường sọc kẻ chi tiết có thể nhìn thấy. Hình ảnh tạm dừng của một đoạn phim quay bởi ADC International, Inc năm 2002. “Tảng đá mà chúng tôi khám phá ra dưới đáy biển là một tảng granite láng bóng. Tất cả các bán đảo phía Tây Bắc Cuba, cả bán đảo này toàn là đá vôi, những tảng đá vôi rạn nứt nhiều. Vì thế, về mặt địa chất, nó hoàn toàn không thuộc Cuba. Nhưng nó cũng không hề được biết đến tại Yucatan, Mexico bởi Yucatan cũng toàn là đá vôi, không có đá granite ”. Thành phố 9500 năm tuổi được tìm thấy dưới đáy biển Ấn Độ Discovery in Bay of Cambay Will Force Western Archaeologists to Rewrite History Hôm nay, một nền văn minh cổ đã được tìm thấy cũng cổ xưa như những chủ nhân của các Kim tự tháp Ai Cập. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 29
- Chân – Thiện – Nhẫn Theo các nhà khoa học hàng hải Ấn Độ, các phần còn lại của thành phố này được khám phá ra tại độ sâu 36 m dưới mực nước biển tại vịnh Cambay ở vùng biển phía Tây Ấn Độ. Và các giám định niên đại bằng C14 cho thấy nó khoảng 9500 năm tuổi. Thông tin này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của hầu hết các nhà sử học và khảo cổ học Châu Âu vốn luôn phủ định, lờ đi, hoặc lấp liếm các bằng chứng (do nó không phù hợp với các học thuyết của họ) của một cái nhìn sâu hơn về sự tồn tại của con người trên hành tinh Trái Đất. Nền văn minh con người là cổ xưa hơn nhiều so với những gì mà nhiều người vẫn luôn suy nghĩ. Theo BBC's Tom Housden, tường trình trên sự kiện khám phá Cambay: Thành phố rộng lớn – khoảng 5 dặm chiều dài và 2 dặm chiều rộng – tin rằng sẽ đẩy lui niên đại của các tàn tích đã biết tại tiểu lục địa Ấn Độ thêm hơn 5000 ngàn năm nữa. Công trình đã được khám phá một cách tình cờ bởi các nhà hải dương học từ Học viện công nghệ đại dương quốc gia Ấn Độ, trong khi đang chỉ đạo các nghiên cứu về tình trạng ô nhiễm môi trường. Dùng máy quét sonar, họ đã xác định được các cấu trúc hình học tại độ sâu 120 bộ. Các mảnh vụn được khám phá từ công trình – gồm các vật liệu xây dựng, đồ gốm, các dãy tường, các đường gân nổi hình chuỗi hạt, các trang trí điêu khắc, và xương cùng với răng người – đã được xác định niên đại bằng phương pháp C14 và chứng tỏ chúng khoảng 9500 tuổi. Hình chụp sonar cho thấy các cấu trúc dưới đáy biển không phải là kiến tạo tự nhiên The vast city — which is five miles long and two miles wide — is believed to predate the oldest known remains in the subcontinent by more than 5,000 years. The site was discovered by chance last year by oceanographers from India's National Institute of Ocean Technology, who were conducting a survey of pollution. Using sidescan sonar, which sends a beam of sound waves down to the bottom of the ocean, they identified huge geometrical structures at a depth of 120 feet. Debris recovered from the site — including construction material, pottery, sections of walls, beads, sculpture, and human bones and teeth — has been carbon dated and found to be nearly 9,500 years old (BBC article). Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 30
- Chân – Thiện – Nhẫn Hình chụp sonar cho thấy các cấu trúc đang bị chôn vùi dưới lớp cát biển Xem thêm hình ảnh tại đây Nhiều bản tường trình khác cũng khẳng định lại đánh giá này. Housden cũng nói: “Toàn bộ các mô hình về nguồn gốc của nền văn minh hiện đại sẽ phải được xây dựng lại từ đầu”. Tác gia đồng thời là nhà làm phim Graham Hancock, tác giả của các công trình điều tra nghiên cứu về các nền văn minh cổ xưa, đã báo cáo rằng bằng chứng này là rất thuyết phục. Ví dụ, ông nói các nhà hải dương học đã tìm thấy 2 tảng đá lớn lớn hơn bất kỳ thứ gì đã từng được khám phá. “Các thành phố theo quy mô này, là không được biết đến trong các ghi chép khảo cổ học cho đến khoảng 4500 năm trước khi các thành phố lớn đầu tiên bắt đầu xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà”. “Vào giữa tháng giêng năm 2002, các nhà khoa học hàng hải tại Ấn Độ đã tuyên bố rằng họ đã có các bức ảnh sonar (phương pháp phản xạ âm học để định vị, đo đạc các vật thể và các cấu trúc nằm sâu dưới nước) của các vật thể hình vuông và hình chữ nhật khoảng 130 m dưới mặt nước tại vùng bờ biển Tây Bắc Ấn Độ ở vịnh Cambay các vật thể có các góc vuông. Bộ trưởng bộ khoa học và kỹ thuật Ấn Độ đã ra lệnh khu vực sẽ được khoanh vùng bảo vệ. Những gì được khám phá đã làm ngạc nhiên các nhà khảo cổ học toàn cầu” (GrahamHancock.com/news). Linda Moulton Howe, nhà nghiên cứu các sự kiện kiểu này trên khắp thế giới, đã phỏng vấn Michael Cremo về khám phá mới này. Cremo là nhà nghiên cứu và là tác giả của cuốn sách Forbidden Archaeology, đã đến thăm Ấn Độ và dự hội thảo về công trình Cambay. “Trong vòng vài tháng trở lại đây, các kỹ sư đã bắt đầu tiến hành nạo vét tại đó và họ đã mang lên nhiều hóa thạch xương người, các hóa thạch của gỗ, các dụng cụ đá, các mảnh đồ gốm, và nhiều thứ khác Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 31
- Chân – Thiện – Nhẫn khẳng định rằng đó thực sự là một khu vực định cư của con người. Họ đã có thể tiến hành nhiều hơn các công việc sonar ở đó và đã có thể xác định được nhiều cấu trúc. Chúng có vẻ đã nằm trên bờ một con sông chảy qua từ tiểu lục địa Ấn Độ ra ngoài biển”. Theo Howe: “Ngay cả nếu chúng ta không biết kiến thức văn hóa của họ là gì, nếu đó là một thành phố cổ 9500 năm tuổi, thì nó đã cổ xưa hơn nền văn minh Sumeria tới vài ngàn năm. Nó cổ hơn Ai Cập, cổ hơn Trung Hoa. Vì thế nó sẽ triệt để thay đổi bức tranh toàn thể của sự phát triển của các nền văn minh thành thị trên hành tinh này. Giờ đây, nếu các nghiên cứu mở rộng có thể xác định được văn hóa của những người từng sống trong thành phố mà giờ đây đang nằm sâu dưới nước này – nếu đúng họ là những người Veda, thì tôi nghĩ hoàn toàn có khả năng xác định vị trí của nó tại vùng duyên hải Ấn Độ - Tôi nghĩ điều đó sẽ triệt để thay đổi bức tranh toàn cảnh của lịch sử Ấn Độ mà đã được viết ra bởi các nhà khảo cổ phương Tây trước đây”. Để đọc thêm thông tin và các khám phá cổ xưa nhất trước đây, tại Harappan, và quan hệ của nó với Truyền thuyết Veda, hãy tìm đọc bài báo của Linda Moulton Howe tại website của cô EarthFiles.com Tất cả những khám phá gần đây chỉ rõ rằng thực tế có nhiều nền văn minh phát triển cao hơn những gì hiện nay chúng ta tin tưởng, ngay cả trong thời kỳ Băng Hà. Bên cạnh đó, còn có nhiều các cấu trúc đền đài được tìm thấy trại nhiều vùng biển khác nhau trên thế giới. Từ Nhật Bản đến Cuba, những khám phá gần đây chứng tỏ rằng đã từng tồn tại những nền văn minh, những xã hội cao cấp hơn 10000 năm trước đây. Tuy nhiên, những khám phá này cũng chứng minh rằng sự kết thúc bất ngờ của những nền văn minh này có thể được lặp lại. Các khám phá tại Bimini, Bahamas Bimini Road và Proctor’s Road – “Con đường Bimini” và “Con đường của Proctor” được vẽ dưới sự trợ giúp của các máy dò sonar Bimini Video phần 1 Bimini Video phần 2 Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 32
- Chân – Thiện – Nhẫn Năm1968 Bimini Road được khám phá và công bố. Nó dài 1900 bộ hình chữ J làm bằng một loại đá nằm gần bờ biển thuộc khu vực Địa Trung Hải, gọi là beachrock. Bimini Road nằm tại vùng nước nông của Bimini. Các hình ảnh cho thấy đây là một con đường nhân tạo, được xây dựng vào một thời kỳ rất xa xưa. Bimini Road – Con đường Bimini là tàn tích của một bến cảng với các hòn đá được tạo hình để xây dựng trong một bến cảng và con đê chắn sóng. Người ta còn tìm thấy hàng tá các tảng đá dùng làm neo thuyền, với dấu vết các sợi dây xỏ qua lỗ đá. Điều này chứng tỏ đây đã từng là một bến cảng hoạt động. Vào năm 2006, một công trình bến cảng tương tự như thế được phát hiện cách vị trí của Con đường Bimini khoảng 1 dặm. Trước đó nó bị cát biển che phủ, và chỉ hiện ra sau một trận bão năm 2006 đổ bộ lên Bimini bóc trần lớp cát đi. Cuối năm 2006 và tháng 6/2007, hai đoàn thám hiểm đã được chỉ định đến Bimini nghiên cứu. Cả hai phương pháp quan trắc địa hình dưới đáy biển và phương pháp sonar được sử dụng tại vài địa điểm. Họ đã tìm thấy một dải các cấu trúc cách Bimini vài dặm về phía Tây tại độ sâu 100 bộ. Máy tính cùng với phương pháp sonar đã phát hiện vô số các mẫu vật hình chữ nhật dưới đáy biển. Họ cũng tìm thấy các cột trụ tròn bằng ximăng hoặc đá cẩm thạch làm liên tưởng đến các bến cảng Địa Trung Hải thời cổ đại. Tuy nhiên không thể khẳng định Bimini là một bến cảng La Mã, mà chỉ có thể khẳng định là công nghệ xây dựng tại Bimini thì giống với của La Mã cổ đại thôi. Thêm nữa, có dấu hiệu cho thấy các cột này dường như được dựng lên tại thời điểm sau này để thay thế cho phần đã bị hư hỏng từ trước. Xem thêm hình ảnh tại đây Tại sao công trình này lại nằm dưới đáy biển, điều gì đã xảy ra cho hải cảng tiền sử này? Tại sao lại có nhiều công trình cùng chung số phận với nó như vậy? Ai là chủ nhân đích thực của các công trình dưới đáy biển, khi giám định cho thấy chúng đã tồn tại trước vài ngàn năm so với những nền văn minh sớm nhất mà chúng ta đã biết? Nền văn minh Lưỡng Hà, nền văn minh cổ Trung Hoa, nền văn minh cổ Ai Cập và nền văn minh cổ Ấn Độ không phải là điểm bắt đầu của lịch sử nhân loại. Với những dữ liệu và bằng chứng khảo cổ thu thập được càng ngày càng nhiều hơn, đã đến lúc cần phải xem xét lại toàn bộ lịch sử loài người một cách nghiêm túc. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 33
- Chân – Thiện – Nhẫn Bằng chứng thứ 4: Kỹ thuật hàng không vũ trụ thời tiền sử Từ những tấm bản đồ cổ đại Bản đồ Piri Re’is Vào năm 1929, một nhóm các nhà sử học đã tìm thấy một bản đồ kì lạ được vẽ trên da linh dương gazel. Nghiên cứu cho thấy đó là một bản đồ thật được vẽ vào năm 1513 bởi Piri Re’is, một đô đốc hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ vào thế kỷ thứ 16. Niềm yêu thích của ông ta là nghệ thuật vẽ bản đồ. Địa vị cao trong hàng ngũ hải quân Thổ khiến ông được phép tiếp cận với Thư viện Hoàng gia Côngstantinốp. Ông khẳng định rằng bản đồ mà ông biên soạn là sao chép lại dữ liệu từ nhiều bản đồ khác nhau, một vài trong số đó có giám định niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Bản đồ thể hiện vùng bờ biển Tây Phi, bờ biển Nam Mỹ, và bờ Bắc của Nam Cực. Đường bờ biển Nam Cực được vẽ chi tiết đến hoàn hảo. Tuyến bờ biển dọc Nam Mỹ và Bắc Mỹ, thậm chí cả hình dáng của Cực Nam cũng đều được vẽ một cách tỷ mỷ trong bản đồ Re’is. Ở đó không chỉ thể hiện hình dáng của đại lục, vẽ tỷ mỷ sự phân bố địa hình trong đất liền mà còn chứa đựng những điểm cực kỳ chính xác, biểu thị đầy đủ núi, dãy núi, đảo, sông, suối và cao nguyên. Điều khiến người ta kinh ngạc là dãy núi ở cực Nam đến năm 1852 mới phát hiện ra, nhưng nó đã được vẽ đầy đủ trên bản đồ Re’is. Tuy nhiên câu hỏi làm sao Piri Re’is có thể vẽ một bản đồ chính xác đến thế của vùng Nam Cực đến 300 năm trước khi nó được khám phá không phải là câu hỏi lớn nhất, mà việc bản đồ thể hiện đường bờ biển Nam Cực nằm dưới lớp băng dày mới là bí ẩn khó giải thích nhất. Các bằng chứng địa chất khẳng định rằng thời điểm mà vùng đất Queen Maud Land của Nam Cực không có băng giá gần đây nhất là vào khoảng 4000 năm trước công nguyên. Vào ngày 6/7/1960 Không lực Hoa Kỳ đã trả lời giáo sư Charles H. Hapgood của trường đại học Keene College một cách chính xác các thỉnh cầu của ông về việc thẩm định giá trị của bản đồ tiền sử Piri Re’is. Nội dung bức thư như sau: 6, July, 1960 Subject: Admiral Piri Reis Map TO: Prof. Charles H. Hapgood Keene College Keene, New Hampshire Dear Professor Hapgood, Your request of evaluation of certain unusual features of the Piri Reis map of 1513 by this organization has been reviewed. The claim that the lower part of the map portrays the Princess Martha Coast of Queen Maud Land, Antarctic, and the Palmer Peninsular, is reasonable. We find that this is the most logical and in all probability the correct interpretation of the map. The geographical detail shown in the lower part of the map agrees very remarkably with the results of the seismic profile made across the top of the ice-cap by the Swedish-British Antarctic Expedition of 1949. This indicates the coastline had been mapped before it was covered by the ice-cap. The ice-cap in this region is now about a mile thick. We have no idea how the data on this map can be reconciled with the supposed state of geographical knowledge in 1513. Harold Z. Ohlmeyer Lt. Colonel, USAF Commander. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 34
- Chân – Thiện – Nhẫn Giáo sư Hapgood thân mến, Thỉnh cầu thẩm định các đặc điểm bất thường của bản đồ Piri Re’is được vẽ năm 1513 tới chúng tôi đã được xem xét. Lời khẳng định rằng phần dưới của bản đồ biểu thị bờ biển Princess Martha của Queen Maud Land Nam Cực và Bán đảo Palmer là hợp lý. Chúng tôi thấy rằng đây là một kết luận hợp lôgic nhất và có khả năng đúng nhất. Các chi tiết địa lý thể hiện trong phần dưới của bản đồ cực kỳ giống với các kết quả của phương pháp đo đạc dùng sóng địa chấn xuyên qua đỉnh của chỏm băng bởi các nhà thám hiểm Thụy Điển – Anh vào năm 1949. Điều này cho thấy đường bờ biển đã được vẽ trước khi nó bị băng bao phủ. Chỏm băng trong khu vực hiện nay dày khoảng 1 dặm. Chúng tôi không thể hiểu nổi làm thế nào dữ liệu trên tấm bản đồ này có thể được biết đến với tình trạng kiến thức địa chất vào năm 1513. Khoa học chính thống khẳng định rằng chỏm băng bao phủ Nam Cực là hàng triệu tuổi. Bản đồ Piri Re’is cho thấy vùng phía Bắc của lục địa Nam Cực đã được vẽ trước khi nó bị băng bao phủ. Điều này không khỏi khiến ta nghĩ rằng nó đã được vẽ ra hàng triệu năm trước, nhưng điều đó là không thể bởi con người theo thuyết tiến hóa* chưa tồn tại vào thời điểm đó. Và các nghiên cứu xa hơn và chính xác hơn đã chứng minh thời kỳ Không Băng gần đây nhất kết thúc vào khoảng 6000 năm trước đây. Vẫn có những nghi ngờ về thời điểm bắt đầu của thời kỳ Không Băng này, được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau dao động vào khoảng từ 13 đến 9 ngàn năm trước công nguyên. Câu hỏi đặt ra là: Ai đã vẽ Queen Maud Land của 6000 trước. Nền văn minh chưa được biết đến nào có công nghệ cần thiết để làm được điều này? Ngày nay người ta cho rằng nền văn minh sớm nhất của loài người, theo lịch sử truyền thống được dạy trong trường, đã phát triển tại Trung Đông vào khoảng năm 3000 trước công nguyên, không lâu sau là nền văn minh thung lũng Indus Ấn Độ, nền văn minh cổ Ai Cập và nền văn minh Hoàng Hà TQ. Vì thế, không có nền văn minh đã biết nào có thể làm công việc này. Ai đã ở đây 4000 năm TCN, để có thể làm những việc mà chúng ta đến tận bây giờ mới làm được với các công nghệ tối tân? Vào thời Trung Cổ đã tồn tại một số bản đồ hàng hải được gọi là "portolani", là thứ bản đồ chính xác của các con đường biển, các đường bờ biển đã biết, các bến cảng, các eo biển, các vịnh thông thường nhất. Phần lớn những bản đồ này tập trung tại vùng Địa Trung Hải và các biển Aegean, và những con đường được biết khác, như là quyển sách hàng hải mà chính Piri Re’is đã viết. Nhưng một vài báo cáo của những vùng đất vẫn chưa được biết đến, và lưu thông trong một số rất ít thủy thủ có vẻ đã cố gắng giữ kín những kiến thức của họ về những tấm bản đồ đặc biệt đó càng bí mật càng tốt. Piri Re’is có thể đã được tiếp cận với một số bản đồ như thế khi đến Thư viện của Alexandria, thư viện quan trọng nhất nổi tiếng trong thời kỳ cổ đại. Chiểu theo suy luận của Hapgood, những bản copy của những tài liệu này và một số trong những bản đồ gốc đã lưu chuyển đến những trung tâm nghiên cứu khác, và mang chúng tới Côngstantinốp. Thế là vào năm 1204, năm của lần Thập tự chinh thứ tư, khi những người Venetian xâm nhập Côngstantinốp, những bản đồ này bắt đầu quay vòng trong những thủy thủ Châu Âu. Để vẽ tấm bản đồ của mình, Piri Re’is đã dùng nhiều nguồn khác nhau, thu thập đây đó trong suốt những chuyến đi của mình. Chính ông đã ghi chú lại nhiều trên tấm bản đồ này nhờ đó chúng ta có thể hình dung được công việc ông đã làm với tấm bản đồ này. Ông bảo ông không chịu trách nhiệm về các nguồn dùng để vẽ nên bản đồ này. Vai trò của ông đơn thuần là của một người soạn thảo dùng một số lớn các nguồn bản đồ gốc khác nhau. Ông cũng nói rằng một vài trong những bản đồ gốc đã được vẽ bởi một số thủy thủ đương thời, trong khi một số khác là từ các bản đồ rất cổ, có niên đại từ khoảng thế kỷ 4 TCN trở về trước. Sự chính xác tuyệt đối của các bản đồ gốc mà Piri Re’is dựa vào có thể nhận thấy trên tấm bản đồ của ông. Những điểm không chính xác hiếm hoi của bản đồ Piri Re’is là các lỗi của chính Piri Re’is tự gây ra trong quá trình tổng hợp từ các bản đồ tiền sử, mà chủ yếu là : tổng hợp các bản đồ gốc không cùng một tỉ lệ, tổng hợp sai phương vị theo một góc quay lệch. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 35
- Chân – Thiện – Nhẫn Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 36
- Chân – Thiện – Nhẫn Vào năm 1953, một sỹ quan hải quân gửi tấm bản đồ Piri Re’is đến Thủy Cục Hải Quân Hoa Kỳ. Để giám định nó M.I. Walters, Kỹ sư trưởng của Cục, đã tham vấn Arlington H. Mallery, một chuyên gia lớn về các bản đồ cổ, người đã từng làm việc với ông ta. Sau một nghiên cứu dài hơi, Mallery đã khám phá ra phép chiếu đã được sử dụng trong bản đồ. Để kiểm tra mức độ chính xác của bản đồ, ông đã tạo ra một hệ lưới ô và dịch chuyển bản đồ của Piri Re’is vào quả cầu: bản đồ hoàn toàn chính xác. Ông phát biểu rằng cách duy nhất để vẽ nên một tấm bản đồ chính xác đến thế chỉ có thể là ở góc nhìn từ trên cao, nhưng ai, 6000 năm trước, có thể có máy bay để mà vẽ bản đồ Trái Đất ?? Thủy Cục Hải quân không thể tin nổi vào mắt mình: họ đã, thậm chí có thể sửa lại những lỗi sai trong cái bản đồ hiện đại mà họ đang dùng lúc đó !! Độ chính xác dựa trên sự kiểm tra tọa độ kinh độ, mặt khác, cho thấy để vẽ được bản đồ cần thiết phải dùng phương pháp Lượng giác hình Cầu, một thành tựu chưa được phát minh cho đến giữa thế kỷ 18. Hapgood đã chứng minh rằng bản đồ Piri Re’is là được vẽ trong hình học phẳng, chứa các kinh và vĩ độ vuông góc trong một “lưới ô” truyền thống; bởi thế nó đã được sao lại từ một bản đồ trước mà đã được chiếu ra sử dụng phép lượng giác hình cầu! Không chỉ rằng những người làm ra cái bản đồ gốc đó biết rằng quả đất hình cầu, mà họ còn có kiến thức về chu vi Trái Đất với sai số nhỏ hơn 50 dặm! Hapgood đã gửi bộ sưu tập những bản đồ cổ (chúng ta có thể thấy bản đồ Piri Re’is không phải là bản đồ duy nhất như thế ) đến Richard Strachan, tại Học viện Công nghệ Massachusetts. Ông muốn biết chính xác cấp độ toán học cần thiết để vẽ nên các bản đồ gốc cao đến đâu. Strachan đã trả lời năm 1965 rằng, cấp độ đó phải rất cao. Thực tế Strachan đã nói để vẽ những tấm bản đồ như thế, các phương pháp hình chiếu, kiến thức cần thiết là của một cấp độ cực cao. Xem bản đồ Piri Re’is với các kinh và vĩ độ được chiếu ra: Bản đồ thứ 1 Bản đồ thứ 2 Cái cách mà bản đồ Piri Re’is thể hiện Queen Maud Land, các đường bờ biển của nó, các con sông, dãy núi, các sa mạc, các vịnh, có thể được xác nhận bởi một nhóm thám hiểm Anh – Thụy Điển đến Nam Cực (như đã nói bởi Olhmeyer trong thư gửi Hapgood); những nhà nghiên cứu, dùng các thiết bị sonar và sóng địa chấn, đã khẳng định những vịnh và sông, vv là đang nằm dưới chỏm băng dày khoảng 1 dặm. Charles Hapgood, vào năm 1953, đã viết một cuốn sách tựa đề "Earth's shifting crust: a key to some basic problems of earth science" – “Sự dịch chuyển vỏ Trái Đất: chìa khóa cho những vấn đề cơ bản của khoa học về Trái Đất”, ở đây ông đã xây dựng một thuyết để giải thích làm thế nào lục địa Nam Cực có thể Không Băng cho đến 4000 năm TCN. Bạn đọc quan tâm đến nội dung của thuyết này có thể xem thêm tại đây. Thuyết này có các luận điểm chính như sau: 1. Nguyên nhân Nam Cực không có băng phủ, và vì thế ấm hơn nhiều, là vào một thời kỳ quá khứ xa xôi, địa điểm của nó không phải nằm ở vị trí hiện nay trên vỏ Trái Đất. Nó ngày xưa nằm tại vị trí khoảng 2000 dặm về phía Bắc so với hiện tại. Hapgood nói rằng “có thể đặt nó ra ngoài vòng Nam Cực trong một khí hậu ôn hòa hoặc tương đối lạnh”. Đọc thêm về thuyết Trái Đất đổi trục tại đây. 2. Nguyên nhân lục địa này di chuyển xuống đến địa điểm như ngày nay có thể được tìm thấy trong một cơ chế gọi là “sự trượt vỏ Trái Đất”. Cơ chế này, không nên nhầm lẫn với thuyết về kiến tạo mảng hoặc là sự trượt lục địa, là một thứ nhờ đó mà quyển đá, toàn thể vỏ ngoài của trái đất “có thể dịch chuyển theo thời kỳ, dịch chuyển trượt qua phần dẻo hơn bên trong, giống như là da của một trái cam, nếu nó lỏng lẻo, có thể dịch chuyển trên phần bên trong của quả cam toàn thể đồng thời”. (Charles Hapgood, trích dẫn trong sách "Maps of the ancient sea-kings", Bạn có thể vào đây để tìm thêm thông tin). Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 37
- Chân – Thiện – Nhẫn Thuyết này đã được gửi cho Albert Einstein, và ông rất hứng thú nhiệt tình trả lời một cách nhanh chóng. Mặc dù các nhà địa chất dường như không chấp nhận thuyết của Hapgood, Einstein có vẻ còn cởi mở phóng khoáng hơn cả Hapgood khi phát biểu: “Trong một vùng địa cực có một sự tan rã dần dần của băng tuyết, không được phân phối đồng đều xung quanh cực. Sự xoay chuyển của Trái Đất dựa trên những khối lượng bất đối xứng, và gây ra một xung lượng ly tâm truyền đến lớp vỏ cứng của Trái Đất. Sự tăng dần đều của xung lượng bất đối xứng được sản sinh ra khi đến một điểm giới hạn nào đó, sẽ gây ra một chuyển động của lớp vỏ cứng Trái Đất phía trên phần bên trong của nó”. Lời dẫn của Einstein cho cuốn sách “Sự dịch chuyển lớp vỏ cứng của Trái Đất”, trang 1 "In a polar region there is a continual deposition of ice, which is not symmetrically distributed about the pole. The earth's rotation acts on these unsymmetrically deposited masses, and produces a centrifugal momentum that is transmitted to the rigid crust of the earth. The constantly increasing centrifugal momentum produced in this way will, when it has reached a certain point, produce a movement of the earth's crust over the rest of the earth's body " (Einstein's foreword to "Earth's shifting crust" p.1) Dù sao, dẫu Hapgood đúng, bí ẩn vẫn nhiều. Bản đồ Piri Re’is là một thứ gì đó có vẻ hoang đường. Dường như không có cách nào mà một người ở trong thời đại xa xưa có thể vẽ một tấm bản đồ chính xác như thế; thực tế các tọa độ kinh độ là hoàn toàn chính xác. Và đó là thể hiện của một trình độ kỹ thuật công nghệ không tin nổi: phương tiện tính toán vĩ độ chính xác tương đối đầu tiên mới chỉ được phát minh vào năm 1761 bởi một người Anh tên là John Harrison, tức là sau Piri Re’is 248 năm. Và trước đó không có cách nào có thể tính toán vĩ kinh độ chính xác đến mức có thể chấp nhận được: phải có những lỗi đến hàng trăm km. Và tấm bản đồ Piri Re’is chỉ là một trong nhiều bản đồ thể hiện những vùng đất chưa được biết đến, những kiến thức không thể tin nổi, với độ chính xác mà ngày nay chúng ta cũng phải kinh ngạc. Thực tế Piri Re’is bản thân cũng khẳng định ông đã lấy những bản đồ cổ hơn làm nguồn; và những bản đồ này đã được dùng như là nguồn gốc cho những người đã vẽ những tấm bản đồ khác nhau mà cho đến lúc đó vẫn ở độ chính xác tuyệt vời. Ấn tượng là “Dulcert's Portolano” “Bản đồ của Dulcert” năm 1339, vĩ độ của Châu Âu và Bắc Phi là hoàn hảo, và tọa độ kinh độ của Địa Trung Hải và Biển Đen là chính xác đến từng nửa độ. Và đáng kinh ngạc hơn là “Zeno's chart”, “Bản đồ của Zeno”, vẽ năm 1380. Nó cho thấy một vùng rộng lớn ở phía Bắc, chạy dọc đến Greenland; độ chính xác của nó gây sửng sốt. Một bản đồ gây sửng sốt nữa được vẽ bởi Hadji Ahmed người Thổ Nhĩ Kỳ, vào năm 1559, trong đó ông thể hiện một dải đất liền khoảng 1600km chiều rộng, nối liền Alaska và Siberia. Giống như một cây cầu tự nhiên từng tồn tại, đã bị bao phủ bởi nước vào cuối kỷ Băng Hà vừa rồi khi mực nước biển tăng lên. Oronteus Fineus là một người khác đã vẽ một tấm bản đồ chính xác khó tin khác. Ông đã vẽ Nam Cực không có băng, vào năm 1532. Có những tấm bản đồ thể hiện Greenland làm 2 phần tách biệt, đúng như sự khẳng định của đội thám hiểm địa cực người Pháp đã khám phá ra có một tảng băng rất dày nối liền 2 hòn đảo tách biệt để tạo thành Greenland. Như ta đã thấy, nhiều bản đồ là thuộc về những thời kỳ rất cổ xưa, và ta có thể nói rằng toàn thể hành tinh đều đã được vẽ trên bản đồ vào thời đó. Chúng dường như là những mảnh nhỏ của một tấm bản đồ thế giới cổ đại, được vẽ bởi những người bí ẩn sở hữu những công nghệ rất cao ngay cả so với ngày nay. Khi toàn thể loài người có lẽ còn sống trong thời kỳ hoang sơ thì ai đó đã “vẽ ra giấy” toàn bộ bề mặt địa lý của hành tinh. Và nó là một kiến thức phổ biến, bằng một cách nào đó bị chia cắt thành nhiều mẩu nhỏ để Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 38
- Chân – Thiện – Nhẫn rồi lại được tập hợp đây đó bởi một vài người, và họ chỉ sao chép những gì họ có thể tìm thấy trong các thư viện, các khu chợ Đông Phương và bất cứ nơi nào họ tìm thấy chúng. Hapgood đã vạch rõ những điều kinh ngạc hơn nữa: Ông đã tìm thấy một tài liệu bản đồ được sao chép bởi một nguồn cổ hơn được vẽ trên một cột đá, ở TQ, vào năm 1137. Nó thể hiện cũng một trình độ kỹ thuật công nghệ cao như thế, với cùng một phương pháp lưới ô, với cùng sự sử dụng phương pháp lượng giác hình cầu như vậy. Nó có quá nhiều điểm chung với những bản đồ Châu Âu khác, khiến ta phải nghĩ rằng phải có một nguồn gốc chung: có thể nó thuộc về một nền văn minh đã diệt vong nhiều ngàn năm trước? Như chúng ta có thể thấy bên dưới, một phép chiếu góc cực (nhìn Địa Cầu từ một điểm trên cao), từ một điểm bên trên Cairo, Ai Cập thuộc châu Phi cho thấy tấm bản đồ của Piri Re’is Ta dễ dàng nhận thấy những điểm tương đồng ngoạn mục giữa bản đồ vệ tinh hiện đại với tấm bản đồ của Piri Re’is Tham khảo thêm tại đây: Bibliography More Related Links Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 39
- Chân – Thiện – Nhẫn Đến những mô hình máy bay phi công và tàu vũ trụ Những hình chạm khắc tại Ai Cập 3000 năm trước Vào năm 1848, một đoàn nghiên cứu khảo cổ làm việc tại Ai Cập đã khám phá ra những ký hiệu bí mật kỳ lạ trên một đoạn rầm trên trần tại một ngôi đền cổ tại Abydos, vài trăm dặm về phía Nam Cairo. Những ký hiệu này đã được sao chép cẩn thận và gửi về Châu Âu. Bí ẩn của những hình vẽ này đã gây tranh cãi nóng bỏng trong những nhà Ai Cập học lúc bấy giờ, tuy nhiên dần dần, do không thể hiểu các hình vẽ đó nói về điều gì, họ đã gạt nó sang một bên như là những vật thể kỳ dị mà không ai có một giải thích thỏa đáng nào, rồi rơi vào quên lãng. Hình chạm thể hiện một chiếc trực thăng, tìm thấy tại đền thờ ở Abydos, Ai Cập Vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ trước, những bức ảnh và phim video, được chụp đầu tiên bởi những du khách viếng thăm Abydos, bắt đầu xuất hiện trên internet. Chúng mô tả “những ký hiệu tượng hình về những cỗ máy kỳ lạ” vốn đã được khám phá vào thế kỷ 19. Ngôi đền mà người ta tìm thấy những ký hiệu tượng hình này được xây dựng vào thời Pharaong Seti I khoảng 3000 năm trước. Đối với những người quan sát hiện đại chúng rõ ràng đó là những cỗ máy kỳ lạ, nhưng lại hết sức bí ẩn đối với những người thuộc thời của nữ hoàng Victoria. Thực tế chúng là nhiều chủng loại khác nhau của các thiết bị bay cùng với một chiếc xe tăng, và trong số những thiết bị bay là một chiếc máy bay trực thăng! Đó là một trong những khám phá gây sửng sốt nhất được tìm thấy tại Ai Cập. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 40
- Chân – Thiện – Nhẫn Gần đây, tờ báo uy tín của A Rập “Al-Sharq Al-Awsat” đã phát hành nhiều ảnh được chụp tại một ngôi đền Ai Cập khác, đền thờ Amon Ra tại Karnak. Các bức ảnh là những chạm khắc khoảng 3000 năm trước đây. Chúng tỏ ra rất giống với những hình chạm khắc tìm thấy tại Abydos. Đó là một máy bay trực thăng chiến đấu với một động cơ và một bộ đuôi, và gần đó, một thiết bị bay hiện đại. Thế là, trong thực tế thì không phải 1, mà có đến 2 bộ hình chạm như thế tại Karnak and Abydos. Vậy nếu những người Ai Cập cổ không có công nghệ để chế tạo các trực thăng hay các thiết bị bay khác, thì những hình ảnh về các cỗ máy bay đó nguồn gốc từ đâu? Cái lịch sử loài người mà ta được học hiện nay lại một lần nữa bất lực. Có nhiều thư viện huyền thoại cổ xưa, như là Thư viện Alexandria và những thư viện cổ Trung Hoa đã bị tiêu hủy. Nhiều trong số các bằng chứng vô giá về quá khứ xa xăm đã bị xóa sạch. May thay, những văn bản cổ đại vẫn còn được lưu giữ, một phần tại Ấn Độ. Vô cùng kinh ngạc khi biết rằng một vài trong những ghi chép tiền sử ấy kể về những thiết bị bay tinh xảo cao cấp. Gần đây, có một báo cáo TQ vừa khám phá những văn bản tiếng Phạn thượng cổ tại Tây Tạng và đã gửi chúng về trường đại học Chandrigarh ở Ấn Độ để dịch. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy những tài liệu này chứa những chỉ dẫn chế tạo các phi thuyền vũ trụ. Những bằng chứng thêm nữa cho thấy thứ được gọi là “Đế chế Rama” miền Bắc Ấn và Pakistan là cổ xưa hơn nhiều so với những gì họ từng nghĩ trước đây. Tàn dư của những thành phố tân kỳ vẫn được tìm thấy trong sa mạc Pakistan, và tại Bắc và Tây Ấn Độ. Theo những văn bản Ấn Độ cổ, Đế chế Rama có những thiết bị bay được gọi là “Vimana”. Có vô số văn bản về Vimana được miêu tả hết sức chi tiết. Những người Ấn Độ tiền sử đã viết toàn bộ các chỉ dẫn sổ tay và sách học về cách điều khiển nhiều loại Vimana khác nhau, nhiều sách trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; một số đã được dịch sang Anh ngữ. Những loại Vimana khác nhau được miêu tả, một số thì hình đĩa, số khác thì hình điếu xì gà. Vimana có vẻ được cung cấp năng lượng bởi vài loại thiết bị phản trọng lực, khiến nó có thể cất cánh theo chiều thẳng đứng và bay lượn trong không gian. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 41
- Chân – Thiện – Nhẫn Hình chạm này thể hiện cái gì, nếu không phải là một cái xe tăng? Các chuyên gia Ai Cập học đều biết nhiều bí ẩn của Ai Cập thời thượng cổ là không thể giải thích được nếu sử dụng cái khung hạn hẹp của cách nghĩ truyền thống. Ví dụ họ hoàn toàn không thể giải thích thấu đáo làm thế nào các kim tự tháp được xây dựng nên, và làm thế nào nền văn minh Ai Cập thượng cổ xuất hiện một cách đột ngột với trình độ rất cao ngay từ thủa khai sinh? Nguyên nhân nào Kim tự tháp lớn Giza lại được xây dựng với công nghệ cao hơn nhiều so với các kim tự tháp nhỏ được xây dựng sau nó? Có rất nhiều mẫu vật đáng tin cậy như những gì chúng ta đã thấy từ đầu thường không được một số “khoa học gia” và các “chuyên gia” để ý một cách đúng mực, họ cũng không khách quan nghiên cứu và tìm hiểu nghiêm túc, chính là bởi vì : nó quá trực quan, đối nghịch với thành kiến của họ, và nó không nằm lọt thỏm trong cái khung hạn hẹp của những “hiểu biết” mà họ được những đàn anh bơm vào não từ khi còn là học sinh tiểu học. Họ nghi ngờ và loại bỏ tất cả những gì không nằm trong cái khung ấy, cũng như cố gắng bằng mọi giá uốn ép những bằng chứng khách quan cho vừa vặn lọt vào cái khung, chứ không muốn cải biến chính cách tư duy sao cho toàn diện và khoa học hơn, cho phù hợp với thời đại và thực tiễn khách quan. Hầu như tất cả chúng ta đều khẳng định 100% những hình chạm khắc trên thể hiện những chiếc trực thăng và những thiết bị bay công nghệ cao – nếu họ chưa biết chúng được tìm thấy ở đâu. Thú vị hơn nữa, là hình chạm khắc thượng cổ đó lại thể hiện như một chiếc trực thăng chiến đấu, một phương tiện chiến tranh. Xem thêm thông tin tại đây hoặc Laura Lee. Những chiếc máy bay bằng vàng cổ đại Chúng là những mẩu châu báu không nên tồn tại bởi vì chúng không phù hợp với cái thế giới quan của khảo cổ học truyền thống. Các máy bay trước thời đại của chúng ta là những điều cấm kỵ cho những “nhà khoa học”. Các bộ phận khác nhau được họ giải thích như là những thực thể hỗn tạp linh tinh(!). Những mô hình máy bay bằng vàng ròng này có tuổi hàng nhiều thế kỷ, được khám phá trong những mộ cổ tại Muisca, Calima, Tairona và Tolima Indians ở Columbia ngày nay. Xem thêm thông tin tại đây Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 42
- Chân – Thiện – Nhẫn Từ “Thunderbird” - “Chim sấm” là một giải thích có lý đối với những người thời cổ đại khi cố gắng giải thích máy bay bằng các kinh nghiệm sống và vốn từ vựng nguyên sơ của họ! Không có từ ngữ nào biểu đạt khái niệm “máy bay”, thì những thuộc tính liên hệ có thể được ghép nối với nhau để biểu thị cái khái niệm của họ. Đó là cách mà những thực thể huyền thoại đáng sợ được tạo ra từ những cỗ máy đó, nhưng chúng thể hiện không có gì nhiều hơn là những công nghệ kỹ thuật cao không được thấu hiểu. Thunderbird là một thực thể huyền thoại trong truyền thuyết cổ Ấn Độ. Nó được gọi là Wakinyan trong ngôn ngữ Lakota, có nghĩa là "holy swinging" – “cánh thiên thần”. Những chiếc cánh của nó dang rộng và cuốn những đám mây lại với nhau. Những người Canada bản xứ kể lại rất chi tiết những câu chuyện về những “thunderbirth”, mà những sinh vật có liên quan đến chúng có thể chuyển hóa thành người, khi cái vòi trên đầu trở thành một chiếc mặt nạ và họ tháo bộ cánh trên người ra. Cũng có những câu chuyện mà chi tiết những con chim lửa dưới hình dạng con người đã kết duyên với những gia đình và việc các gia đình đó có thể tiếp nối dòng dõi thần thánh được mô tả như là một sự kiện. Những thị tộc của thunderbird trong hình dạng con người đã chung sống với họ ở cực Bắc vùng Vancouver. Câu chuyện mau chóng bị quên lãng, và khi một bộ lạc cố gắng bắt họ làm nô lệ, những thunderbird đã trả thù. Câu chuyện của Phaeton: Phaeton, con của thần mặt trời Helios, được cha ban cho một điều ước. Phaeton ước được lái chiếc xe của cha. Helios không đồng ý vì cỗ xe thiên đường chỉ có thể được điều khiển bởi Thần mặt trời. Nó quá mạnh và quá nhanh không thể điều khiển nổi bởi bất kỳ ai khác. Helios đã lo lắng điều không hay sẽ xảy ra và đề nghị con trai, “con không bao giờ lái nổi nó đâu”, nhưng Phaeton không nghe. Nỗi lo sợ đã trở thành hiện thực, cỗ xe đã bay quá nhanh về phía thiên đường và nát tan tành. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 43
- Chân – Thiện – Nhẫn Các vật thể tương tự có thể tìm thấy cả ở Ecuador, Costa Rica, Jordan và ở Sakkara, Ai Cập. Các thợ vàng cổ đại đã sáng tạo ra mô hình của chúng theo những gì họ nhìn thấy hay chính họ đồng thời là chủ nhân của chúng nhiều ngàn năm trước? Trong khi khai quật một ngôi mộ cổ Ai Cập, gần Saqqara vào năm 1891, các nhà điều tra nghiên cứu đã tìm thấy một đồ vật làm bằng gỗ cây sung dâu, và cũng giống như những thứ còn lại trong ngôi mộ, nó được giám định niên đại vào khoảng năm 200 TCN. Cần suy nghĩ thêm một chút là, cái mô hình máy bay này được tìm thấy trước khi anh em nhà Wright bay thử thành công trên chiếc máy bay đầu tiên của loài người đến vài chục năm. Thậm chí có chuyên gia NASA cho rằng nó rất giống với một loại máy bay mà cơ quan này từng thử nghiệm trước đây. "Ai là những người đã bay vào những đám mây như những chú bồ câu?" (Quyển sách của Isaiah Chương 60 phần 8) Mô hình tàu vũ trụ phản lực được tìm thấy tại Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ Một trong những tác gia và nhà nghiên cứu hàng đầu của Astro Archaeology đã du lịch khắp thế giới nhiều lần để tìm kiếm các mẫu vật siêu tự nhiên. Ông khám phá ra một mẫu vật trong viện bảo tàng khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ một di vật chạm khắc đá kỳ lạ, miêu tả tỉ mỉ một phi thuyền vũ trụ công nghệ cao hình con nhộng. Thiết bị đáng kinh ngạc này thể hiện nhiều tính năng của một tàu vũ trụ hiện đại, ống thải động cơ phản lực phía sau đuôi, và một buồng lái với phi công đang ngồi và mặc một bộ đồ du hành đang điều khiển con tàu. “Những quái vật khạc ra lửa trên mặt đất, có thể bay như một con chim với tiếng động điếc tai, ồn ào như một cơn bão, nhanh như một con cá trong nước và đáng sợ như một con cá sấu”. (Fire-spitting earth monster that could fly like a bird with ear-deafening noise like a storm, fast like a fish in the water and so terrifying like a crocodile?) “Điều khiển một thiết bị bay là một đặc quyền. Các kiến thức về bay lượn là một phần trong những của cải thừa kế cổ xưa nhất của chúng ta, một món quà từ “ai đó từ phía bên trên”. Chúng ta nhận nó như là một công cụ để cứu sống nhiều sinh mạng ” [Trích trong Hakahta, The Babylonian Laws] (“It is a privilige to control a flying machine. The knowledge of flying is part of our oldest heritage, a present from 'someone from above'. We received it as a tool to save many lives”). Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 44
- Chân – Thiện – Nhẫn Làm thế nào những cư dân đầu tiên của Bắc Mỹ kinh nghiệm và miêu tả những gì họ nhìn thấy với hiểu biết và vốn từ của họ. Đó là cách mà những từ ngữ như "thunderbird", "steel steed", "firewater", vv được thêm vào trong ngôn ngữ của họ. Những mô hình thiết bị bay khác cũng được tìm thấy trong các ngôi mộ cổ Tại viện bảo tàng vàng ở Bogota, New York, Berlin, và Bremen, người ta có thể khâm phục những miếng vàng như thế này. Đáng buồn thay, những thứ như thế có nguồn gốc từ hàng tấn những di vật bằng vàng và những cuộn sách bằng vàng vô giá của những người Nam Mỹ bản xứ. Chúng đã bị đốt nóng chảy và phá hủy bởi những người xâm chiếm và những người truyền giáo, gọi là nhân danh Nhà thờ Thiên Chúa giáo. Vàng ngày nay tìm thấy ở các giáo đường tầm thường mà khoa trương trên khắp thế giới. Những việc làm phản nghịch ý Chúa như thế này là lý do vì sao chỉ có một số ít người được biết đến những nền văn minh tiền sử cao cấp ở Nam Mỹ và những kiến thức vô tiền khoáng hậu của họ, ví dụ, trong thiên văn học. Tìm hiểu thêm về Những kiến thức thần kỳ của người xưa. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 45
- Chân – Thiện – Nhẫn ”Đài thiên văn Maya”ở Chichen Itza (Mexico) Một bức tranh chạm khắc của người Maya. Thật khó hiểu tại sao người này lại mặc một cái mũ bảo hiểm với một cái giống với ống thở giống hệt một phi công vũ trụ đến như vậy?! Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 46
- Chân – Thiện – Nhẫn Một vị thần khác với ống thở cũng được thể hiện trong một bia đá kinh điển tại Tikal, Peru Mẫu vật phía trên bên phải tìm thấy ở Mexico, có niên đại vào khoảng 1150 TCN đến 100 năm TCN. Chiếc mũ bảo hiểm giống hệt như mũ phi hành gia vũ trụ, bộ quần áo bó sát, mang giày và đeo găng tay, chỉnh thể trông hệt nhà du hành vũ trụ. Các mẫu vật còn lại tìm thấy tại Ecuador, được cách điệu nhiều nhưng vẫn có thể nhận thấy rất nhiều điểm tương đồng. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 47
- Chân – Thiện – Nhẫn Những bức tượng cổ khác tìm thấy rải rác khắp nơi trên thế giới, có nhiều điểm tương đồng với các phi công vũ trụ hiện đại ngày nay trong bộ quần áo phi hành Vị thần thứ 4 tên là Penemue; ông giảng giải sự khác nhau giữa đắng cay và ngọt bùi cho trẻ nhỏ và dạy chúng tất cả những bí mật trong hiểu biết của mình. Ông dạy con người cách viết bằng bút và giấy, nhờ đó họ sống mãi cho đến ngày nay. (Quyển sách của Henoch) (The fourth angel is called Penemue; he explained the difference between bitter and sweet to children and gave them all the secrets of his knowledge. he taught man how to write with pen and paper, whereby they sinned themselves since eternity till eternity and up to that day). (Book of Henoch) Một bức tượng tìm thấy ở Nga, gần Kiev Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 48
- Chân – Thiện – Nhẫn 2 công trình điêu khắc này tìm thấy tại Colombia. Tượng bên phải được cho là một phi công đang lái phi thuyền vũ trụ.Trung tâm lớn nhất của người Maya được tìm thấy cho đến nay, Tikal, được xây dựng như là một thành phố thần thánh. Thông điệp này đã được giải mã từ một tấm bia đá tìm thấy tại đây: “Nơi này các vị Thần có nguồn gốc từ các vì sao đã xuống Trái Đất” Phải chăng các hình ảnh khắp thế giới chứng tỏ rằng các sinh mệnh thần thánh đã đến từ các thiên đường, cùng với các thiết bị kỹ thuật cao mà người thời đó không hiểu được? Hay đó là những hậu duệ của một nền văn minh thượng cổ đã bị diệt vong, họ quay trở về tái thiết lại chu kỳ văn minh mới cho nhân loại thời kỳ mới? Ngay trong cả các chuyện kể sớm nhất của người Sumeria (3000 năm TCN) cũng đã ghi nhận về một vương quốc ở thiên đường đã xuống định cư tại thành phố Eridu. “Khi vương quốc thiên đường đến Trái Đất, nó đã trải rộng ra thành Eridu”. (Danh sách các vị vua Sumeria – Sumerian List of Kings) Các chuyện kể của người Sumeria Nếu thế thì phải có các đường băng cổ đại hay là cái gì đó tương tự? Những đường băng này nằm tại sa mạc Nazca, cách Peru 3000 km về phía Nam! Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 49
- Chân – Thiện – Nhẫn “Một giọng nói cất lên: Ngài đã chuẩn bị con đường trong sa mạc, Thượng Đế đã làm một con đường bằng phẳng từ thảo nguyên! Tất cả các thung lũng phải cao lên, và tất cả các ngọn núi phải thấp xuống, và cái mà không bằng phẳng, trở nên thẳng tắp, và cái mà nhiều đồi núi cao, trở nên bằng phẳng; bởi hào quang của Ngài phải được nhìn thấy! Cỏ héo, hoa tàn; bởi vì Ngài đến đó thình lình”. (Isaiah Chương 40 Phần 3/4/5/7, Cựu Ước) Trong các chuyện kể Ai Cập cổ đại có kể rằng Thần Seth đang chuẩn bị cắt các dãy núi và đang chuẩn bị bay trên các “con tàu mặt trời” cùng với những “đồng sự” của mình. Khu vực Palpa trong sa mạc Nazca cho thấy các kiến tạo núi mà bị các nhà khảo cổ học lờ đi không để mắt đến. Các chỏm núi bị san bằng trông như một sân bay vũ trụ. “Welcome” – “Chào mừng”. Trên một sườn núi, hình vẽ khổng lồ này thể hiện một người đang đứng trong tư thế giơ tay chào. Nó có một cái tên rất hợp do người bản xứ đặt cho, là “El Astronauta” Những hình vẽ nguệch ngoạc trong sa mạc phải được nhìn thấy từ không gian để có thể nhận ra chúng bởi chúng quá to lớn. Xem thêm các hình ảnh bí ẩn tại Sa mạc Nazca Peru tại đây. Những hình vẽ Stupas hàng ngàn tuổi bí ẩn này thể hiện điều gì? So sánh với con tàu vũ trụ từng đặt chân lên Mặt Trăng. Phải chăng trong quá khứ xa xôi, Trái Đất từng tồn tại một nền văn minh lớn có thể bay vào các không gian vũ trụ? Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 50
- Chân – Thiện – Nhẫn Quetzalkoatl là vị Thần mang văn hóa đến cho nền văn minh Maya và người Aztecs. Còn có tên là Kukulcan và Kukumaz. Theo truyền thuyết, Quetzalkoatl đến Inca từ thiên đường và sáng lập ra đế chế Inca. Xem xét kỹ, qua các nét cách điệu sâu sắc trên bức tượng ta vẫn nhận thấy được những dấu vết của bộ quần áo phi hành gia vũ trụ “Bhima bay trên chiếc Vimana của mình, trên một tia sáng ghê gớm có ánh sáng của mặt trời, âm thanh của nó nghe như tiếng sấm trong cơn bão Cỗ xe chiếu sáng như một ngọn lửa trên bầu trời đêm hè nó lướt qua một sao chổi trông như là 2 mặt trời đang chiếu sáng. Sau đó cỗ xe bay vọt lên và toàn thiên đường được chiếu sáng” (Trích trong cổ văn Mahabharata của Ấn Độ) "Bhima flew with his Vimana on a monstrous beam that had the glare of the Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 51
- Chân – Thiện – Nhẫn sun, its sound like the thunder of a storm The flying chariot shone like a flame in the night sky of summer it swept by like a comet It was as if two suns were shining. Then the chariot rose up and all the heaven brightened.” Làm thế nào người này có thể biết kể về việc lướt qua sao chổi rành mạch và thực đến thế, nếu như không có kinh nghiệm bay thực tế. Làm sao anh ta biết được hiện tượng bay lên rất cao ra ngoài khoảng không vũ trụ thì bóng đêm biến mất và bầu trời sáng lên vì nhìn thấy ánh mặt trời? Thêm nhiều mẫu vật tương tự tìm thấy tại nhiều địa điểm, nhiều nền văn hóa khắp thế giới. So sánh với một phi hành gia trong bộ áo du hành. Mẫu vật này tìm thấy trong một ngôi đền tại Yutacan, Peru. Nhiều nhà khảo cổ đưa ra những lời giải thích kỳ quái cho mẫu vật này, nhưng không có cái nào thỏa đáng. Erich von Däniken nhìn nhận đây là một người đàn ông ngồi trên một vật thể bay được khắc họa trên phiến đồng thau này, trông như đang khởi động một chiếc tàu con thoi! Xem thêm thông tin về mẫu vật kỳ lạ này tại đây. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 52
- Chân – Thiện – Nhẫn Thậm chí một số người còn giải thích xa hơn, như là “Thế giới của người Maya”, vv mà không thèm quan tâm đến tầm quan trọng của những khẳng định của họ. Ta chỉ có thể khẳng định cái mà người đàn ông đang ngồi lên và điều khiển thì có rất nhiều điểm tương tự như phi thuyền vũ trụ ngày nay. Sau đó những ký hiệu tượng hình tìm thấy đã được giải mã thành công một phần cho thấy những quan hệ mật thiết giữa các hành tinh và dải Ngân Hà (Zak Beh), ngôi nhà của các vị thần của người Maya. Đây đúng thật là cảnh mô tả một phi hành gia đang điều khiển một thiết bị bay thời thượng cổ! Các giám định niên đại cho thấy nó có tuổi đời cao nhất khoảng 3000 năm TCN. Nhiều phần trong những ký hiệu tượng hình tại biên của tấm đồng thau kể lại rằng nguyên nhân cái chết của Pacal là gây ra bởi “luồng hơi thở nóng” – “hot breath”. Một vật huyền bí khác được một số người cho là “vật thờ cúng” mà người Maya cổ đại để lại cho chúng ta, là một bằng chứng nữa của những chuyến du hành vũ trụ trước thời đại chúng ta! “Dưới lệnh của Shiva, người Maya xây dựng một thành phố bằng sắt như là một cỗ xe không gian lớn, gọi là Saubha"[Bhagavata-Purana] “Under Shiva's command, the Maya constructed a city of steel as a spacious space vehicle, called Saubha" “Anh ta bước đi trên lâu đài thần thánh yêu thích của Indra và thấy hàng ngàn các cỗ xe bay của các vị Thần, một số đang tắt, số khác đang di chuyển”. “Khi 3 thành phố gặp nhau trên bầu trời, anh ta lách qua chúng với tia sáng của ngọn lửa 3 chòm của anh ta”. “Và thành phố thiên đường của Indra, mà Arjuna đến, thật tráng lệ Arjuna nhìn thấy các cỗ xe thiên đường khác, hàng ngàn, tất cả chúng có sức mạnh đi đến bất kỳ đâu, kéo dài đến các nơi của họ Cái được nhìn thấy như là một ngôi sao từ Trái Đất, như những ngọn đèn bởi khoảng cách quá xa xôi, thực tế là rất lớn”. Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 53
- Chân – Thiện – Nhẫn Mahabharata, Ramayana: Các cổ văn Ấn Độ. Những đoạn trên nếu một người ở thế kỷ 19 trở về trước đọc sẽ chẳng có một chút ấn tượng hay ý tưởng nào. Nhưng ở thời đại chúng ta ngày nay với máy bay và tàu vũ trụ, đọc lại các cổ thi hàng ngàn năm này mới có thể hiểu chính xác những con người thời thượng cổ đó nói đến điều gì. Tải Mahabharata bản tiếng Anh tại đây. Tham chiếu về các Vimana trong Mahabharata và các cổ văn khác Mahabharata là một trong hai cuốn cổ văn tiếng Phạn (Sanskrit) Ấn Độ cổ, cuốn thứ hai là Ramayana. Mahabharata bao gồm hơn 74.000 câu thơ và những đoạn văn xuôi dài, tổng cộng khoảng 1,8 triệu từ, và là cuốn thiên sử dài nhất trên thế giới, gấp bảy lần tổng số câu thơ của hai bộ sử thi Hy Lạp cổ đại là Iliad và Odyssey cộng lại. Tác phẩm này được coi là "Đại Bách khoa toàn thư" của Ấn Độ cổ xưa. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Mahabharata ra đời khoảng thế kỷ 5 TCN và được sửa chữa dần, hoàn thiện khoảng thế kỷ 5 SCN. Theo nhiều nhà nghiên cứu hiện đại Mahabharata là Lịch Sử, hơn nữa là lịch sử của một thời kỳ rất cổ xưa, hơn rất nhiều so với những gì được biết. Mahabharata kể về cuộc chiến tranh của 2 dòng họ Kaurava và Pandava. Cuộc chiến dường như được xếp đặt của các vị Thần cổ xưa Ấn Độ với ý định giải quyết vấn đề dân số quá đông của thế giới (khoảng 14 tỉ người lúc đó, theo nội dung Mahabharata). “Một thiết bị mà có thể di chuyển về phía trước dựa trên sức mạnh của bản thân nó như một con chim: trên mặt đất, trên nước hoặc trên không, được gọi là “Vimana”, thứ mà có thể bay cao đến thiên đường: từ nơi này đến nơi khác, từ đất nước này đến đất nước khác, hoặc từ thế giới này đến thế giới khác, được gọi là “vimana”, từ các thầy tu của khoa học” (Trích vaimanika-sastra, Cổ văn Ấn Độ) "An apparatus that can move forward on its own power like a bird: on the ground, on water or in the air, known as "vimana", that can rise through the heaven: from place to place, country to country or from world to world, known as "vimana", from the priests of science". Một số trong những chiếc vimana dùng như những chiếc máy chiến tranh và những vũ khí phá hoại. Thực tế, nhiều cổ văn Ấn Độ đã mô tả chúng được dùng trong chiến tranh. Và trong cổ văn Rig Veda, mà nhiều người cho rằng là tài liệu cổ xưa nhất được biết đến, các cỗ xe bay được biết rất rõ và những chủng loại đặc biệt sau đây được mô tả cụ thể: Jalayan – cỗ xe được thiết kế để hoạt động trong nước và trong không khí (Rig Veda 6.58.3) Kaara- cỗ xe được thiết kế hoạt động trong nước và trên đất bằng (Rig Veda 9.14.1) Tritala- a vehicle consisting of three stories. (Rig Veda 3.14.1) Trichakra Ratha - cỗ xe 3 bánh được thiết kế để hoạt động trong không khí(Rig Veda 4.36.1) Vaayu Ratha- cỗ xe chạy bằng khí hoặc sức gió (Rig Veda 5.41.6) Vidyut Ratha- cỗ xe được thiết kế để vận hành bằng năng lượng (Rig Veda 3.14.1) 7 thành phố lớn nhất của Rama được biết trong các văn bản truyền thống của Ấn Độ là “The Seven Rishi Cities” “7 thành phố của người Rishi”. Theo những văn bản Ấn Độ cổ đại, những những thiết bị bay này được miêu tả gồm có 2 tầng, hình tròn với những lỗ cửa sổ ở thành tàu và một mái vòm, rất giống với cái mà ta gọi là đĩa bay. Nó bay với “tốc độ của gió”. Có ít nhất 4 loại hình dạng vimana. Một số hình đĩa, một số hình điếu xì gà. Những văn bản cổ xưa của Ấn Độ về vimana là vô số kể, có thể sưu tập đóng thành nhiều tập sách. Những người Ấn Độ cổ, những người đã làm ra những con tàu này, đã viết toàn bộ những hướng dẫn điều khiển bay của từng loại vimana, nhiều trong số chúng đến nay vẫn còn, và một số đã được thậm chí dịch sang tiếng Anh. Tài liệu này đã được dịch sang Anh ngữ và có thể tìm mua: VYMAANIDASHAASTRA AERONAUTICS dịch sang tiếng Anh và biên soạn bởi tác giả Maharishi Bharadwaaja, in ấn và phát hành bởi G.R. Josyer, Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 54
- Chân – Thiện – Nhẫn Mysore, India, 1979. Ông Josyer là giám đốc của International Academy of Sanskrit Investigation có trụ sở tại Mysore. Có vẻ không nghi ngờ rằng Vimana được cung cấp năng lượng bởi một loại thiết bị “phản trọng lực”. Vimana cất cánh thẳng đứng, và có thể bay lượn trong không gian, như một trực thăng hoặc khí cầu. Bharadvajy đã dẫn ra không ít hơn 70 căn cứ và 10 chuyên gia khác nhau về du hành không gian thời cổ đại. Samara Sutradhara là một luận thuyết khoa học quan hệ với mỗi góc cạnh của du hành không gian trong 1 chiếc vimana. Có 230 đoạn liên quan với việc chế tạo, cất cánh, tuần tra hàng ngàn dặm, hạ cánh bình thường và khẩn cấp, và cả những va chạm với chim chóc. Vào năm 1875, Vaimanika Sastra, một văn bản có niên đại thế kỷ 4 trước công nguyên viết bởi Bharadvajy the Wise, dùng ngay cả những văn bản cổ xưa hơn cả nguồn của ông, được khám phá tại một ngôi đền ở Ấn Độ. Nó có liên hệ với cách vận hành của các vimana và gồm cả các thông tin về cách lái, khuyến cáo thận trọng trong những chuyến bay dài, bảo vệ tàu trước các cơn bão và sấm sét và làm thế nào để chuyển chế độ lái sang “năng lượng mặt trời” từ một nguồn năng lượng kiểu như thiết bị phản trọng lực. Vaimanika Sastra (Vymaanika-Shaastra) có 8 chương với các biểu đồ, mô tả 3 loại tàu, gồm cả các thiết bị không thể cháy vỡ. Nó còn đề cập đến 31 phần chủ chốt của những thiết bị này và 16 vật liệu chế tạo ra chúng, thứ mà hấp thụ ánh sáng và nhiệt; và lý do vì sao chúng được cho là thích hợp để chế tạo ra các vimana. Rõ ràng là những người Ấn Độ tiền sử đã bay trong những cỗ xe này, toàn bộ châu Á, Thái Bình Dương; và thậm chí, dường như, đến Nam Mỹ. Văn bản tìm thấy tại Mohenjodaro, Pakistan và vẫn chưa giải mã được, cũng được tìm thấy trên một nơi khác trên thế giới: đảo Easter, được gọi là bản viết tay Rongo-Rongo, cũng chưa giải mã được, và cũng kỳ lạ giống như bản tại Mohenjodaro. Có phải đảo Easter là một cơ sở không gian cho các vimana của đế chế Rama? Để hiểu rõ hơn về công nghệ, chúng ta phải đi xa hơn vào quá khứ. Cái gọi là “Đế chế Rama” của Bắc Ấn và Pakistan đã phát triển nhiều ngàn năm trước trên tiểu lục địa Ấn Độ và là một quốc gia của nhiều thành phố lớn tân kỳ, nhiều trong số đó có vẻ vẫn nằm đâu đó chờ được khám phá trong các hoang mạc và đáy biển. Rama đã tồn tại, song song với nền văn minh Atlantic. Chỉ vài năm trước, người TQ đã khám phá ra vài tài liệu tiếng Phạn cổ tại Lhasa, Tây Tạng và đã gửi chúng đến trường đại học Chandrigarh Ấn Độ để phiên dịch. Tiến sĩ Ruth Reyna của trường đại học Chandrigarh đã phát biểu gần đây rằng đó là những tài liệu hướng dẫn chế tạo các phi thuyền vũ trụ! Những phương pháp động lực học của chúng, cô nói, là “phản trọng lực” và được dựa trên những nguyên lý giống như là “laghima”. Theo các thiền sư Yogi của Ấn Độ, “laghima” là nguyên lý giúp con người có thể tự bay lên bằng phương pháp tập luyện bài bản. Tiến sĩ Reyna nói rằng trên khoang lái của những thiết bị bay này, thứ được gọi là “Astras”, những người Ấn Độ cổ xưa có thể gửi một nhóm người lên những hành tinh khác, theo như những gì nói trong tài liệu, mà có vẻ nhiều ngàn năm tuổi này. Bản viết tay này còn tiết lộ bí mật của “antima”-“phương pháp tàng hình” và “garima”- “làm thế nào để trở nên nặng như một ngọn núi chì”. Tất nhiên, những nhà khoa học Ấn Độ ban đầu không xem những văn bản này là nghiêm túc, nhưng đang dần nhận ra giá trị của chúng. Những bản viết tay này không nói thẳng về việc du hành giữa các vì sao nhưng có nhắc rõ ràng về một kế hoạch du hành Mặt trăng, mặc dù không ai biết là chuyến đi này đã thực sự được tiến hành hay không. Tuy nhiên, một trong những cổ văn vĩ đại nhất của Ấn Độ, Ramayana, có những chi tiết rõ ràng về một chuyến du hành lên mặt trăng sử dụng vimana (“Astra”), và thực tế còn thậm chí mô tả chi tiết một cuộc chiến với “Asvin”, một loại tàu của đế chế Atlan. Đây chỉ là một ít trong vô số những bằng chứng về phản trọng lực và công nghệ vũ trụ của người Ấn Độ tiền sử. Dưới đây là trích dẫn trong các bộ cổ văn Mahabharata và Ramayana, những đoạn nói về các thiết bị bay tiền sử, cũng như về các “Vũ khí tối hậu” (“Final Weapon” – dịch nguyên văn sát Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 55
- Chân – Thiện – Nhẫn nghĩa từ Mahabharata bản tiếng Ấn Độ không thêm bớt) mà những người thượng cổ đã dùng để kết thúc chiến tranh : Mahabharata Đoạn này kể về Krisna khi anh bay lên trời đuổi theo Salva: "His Saubha clung to the sky at a league's length He threw at me rockets, missiles, spears, spikes, battle-axes, three-bladed javelins, flame-throwers, without pausing The sky seemed to hold a hundred suns, a hundred moons and a hundred myriad stars. Neither day nor night could be made out, or the points of compass." “Chiếc Saubha của hắn đứng yên trong không gian ở một độ cao một lý (4km) Hắn bắn về phía ta các tên lửa, các mũi lao, những cây đinh, rìu chiến, lao 3 lưỡi, những cục lửa, không ngưng nghỉ Bầu trời dường như có hàng trăm mặt trời, hàng trăm mặt trăng và hàng trăm vạn ngôi sao. Không thể biết là ngày hay đêm, kim la bàn cũng không dùng được” Cảnh tượng nhiều vì sao, nhiều hành tinh lớn nhỏ xuất hiện như thế này chỉ xuất hiện khi phi thuyền tiến nhập vào không gian vũ trụ giữa các vì sao. Chúng ta ở thời đại kính viễn vọng Hubble, thám hiểm vũ trụ, các bộ phim khoa học viễn tưởng mới có thể hiểu được nó. Ngay cả hiện tượng không phân biệt ngày đêm và la bàn không hiệu lực họ cũng biết. Làm sao có thể tưởng tượng ra tất cả chừng đó thứ nếu họ chưa bao giờ thực tế bay vào vũ trụ? Mahabharata Sau đó khi Saubha chuyển sang chế độ tàng hình "I quickly laid on an arrow, which killed by seeking out sound, to kill them All the Danavas [troops in Salva's army] who had been screeching lay dead, killed by the blazing sunlike arrows that were triggered by sound." “Ta nhanh chóng lên một mũi tên, loại tên tầm giết kẻ thù bằng cách truy tìm theo tiếng động Tất cả bọn lính Danava đang kêu thất thanh nằm chết, bị giết bởi những mũi tên cháy sáng như ánh mặt trời” The Ramayana As Von Daniken recounts from the original text: When he begins his flight from the mountains, the tops of the cliffs break, the foundations of the mountains shake. Giant trees are stripped of their boughs and broken, a shower of wood and leaves falls to the ground. The mountain birds and animals flee to their hiding places. “Khi ông bắt đầu chuyến bay từ những rặng núi, những đỉnh của các vách đá nhô ra biển vỡ ra, dãy núi chấn động. Những cây cổ thụ gãy cành và đổ, một cơn mưa gỗ và lá cây đổ xuống mặt đất. Những con chim núi và thú vật chạy tìm nơi ẩn trốn” There is another account of such a weapon: - Mausola Purva "Cuka, flying on board a high-powered vimana, hurled on to the triple city a single projectile charged with all the power of the universe. An incandescent column of smoke and flame, as bright as ten thousand suns, rose in all the splendor When the vimana returned to Earth, it looked like a splendid block of antimony resting on the ground." “Cuka, bay trong một vimana rất mạnh, phóng về phía nhóm 3 thành phố một vật đã nạp đầy sức mạnh của vũ trụ. Một cột khói và lửa, sáng chói như 10 ngàn mặt trời Khi chiếc vimana trở về mặt Đất, nó trông như một khối antimon rực rỡ nằm trên mặt đất”. Đọc đoạn này mấy ai trong chúng ta không liên tưởng đến sự kiện đó? Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 56
- Chân – Thiện – Nhẫn Ramayana trích dẫn bởi N.Dutt (1891): “At Rama’s behest the magnificent chariot rose up to a mountain of cloud with a tremendous din ” “Dưới lệnh của Rama cỗ xe lộng lẫy bay thẳng lên một ngọn núi đầy mây cùng với một tiếng động đinh tai nhức óc ” Ramayana chương ‘Rama và Sita’ Phần chuyện về “Rama và Sita” trong Ramayana : Hearing about the kidnapping of his lovely wife, Sita, Rama cries : “ Fly out the aerial cars at once”. Khi nghe tin vợ, nàng Sita, bị bắt cóc, Rama hét lớn: “Các cỗ xe lên thẳng đồng loạt xuất phát ngay” Mahabharata "The cruel Salva had come mounted on the Saubha chariot that can go anywhere, and from it he killed many valiant Vrishni youths and evilly devastated all the city parks." “Salva độc ác lái cỗ xe Saubha có thể đi đến bất kỳ đâu, và từ trên nó hắn giết nhiều người Vrishi trẻ tuổi can đảm và tàn phá tất cả các công viên thành phố” Mahabharata Trong một chương khác vũ khí đáng sợ Agneya, “một loại tên lửa không có khói” được sử dụng bởi người anh hùng Adwattan. "Dense arrows of flame, like a great shower, issued forth upon creation, encompassing the enemy A thick gloom swiftly settled upon the Pandava hosts. All points of the compass were lost in darkness. Fierce winds began to blow. Clouds roared upward, showering dust and gravel. Birds croaked madly the very elements seemed disturbed. The sun seemed to waver in the heavens. The earth shook, scorched by the terrible violent heat of this weapon. Elephants burst into flame and ran to and fro in a frenzy over a vast area, other animals crumpled to the ground and died. From all points of the compass the arrows of flame rained continuously and fiercely." “Những loạt tên lửa dày đặc, như một cơn mưa lớn, bắn thẳng ra phía trước, bao vây lấy kẻ thù Một màn đêm dày đặc phủ xuống đoàn quân Pandava. Tất cả các kim la bàn mất phương hướng. Những trận gió hung dữ bắt đầu thổi. Những cuộn mây ầm ầm cuộn lên, bụi và sỏi trút xuống như mưa Những con chim kêu rền rĩ như điên dại Các nguyên tố căn bản (tứ đại: đất, nước, gió, lửa) dường như đảo lộn. Mặt trời dường như chập chờn rung rinh trên các thiên đường. Mặt đất rung lắc, bị thiêu cháy bởi sức nóng dữ dội của thứ vũ khí này. Những con voi bốc cháy và chạy loạn điên cuồng trên một vùng rộng lớn, những con thú khác ngã gục xuống mặt đất và chết. Từ mọi hướng những tia lửa bắn xuống liên tục và dữ dội” Mahabharata Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 57
- Chân – Thiện – Nhẫn "Gurkha, flying in his swift and powerful Vimana, hurled against the three cities of the Vrishnis and Andhakas a single projectile charged with all the power of the Universe. An incandescent column of smoke and flame as bright as the thousand suns rose in all its splendour it was an unknown weapon An iron thunderbolt, a gigantic messenger of death, which reduced to ashes the entire race of the Vrishnis and the Andhakas The corpses were so burned as to be unrecognizable. The hair and nails fell out; pottery broke without apparent cause, and the birds turned white After a few hours all foodstuffs were infected To escape from this fire, the soldiers threw themselves in streams to wash themselves and their equipment " “Gurkha, bay trong chiếc Vimana mạnh mẽ và tốc độ, phóng về phía 3 thành phố của người Vrishnis và Andhakas một vật đã nạp đầy sức mạnh của Vũ trụ. Một cột khói và lửa cháy nóng sáng chói như hàng ngàn mặt trời Đó là một thứ vũ khí chưa từng được biết đến Một tiếng sét, một sứ giả khổng lồ của cái chết, thứ mà biến toàn bộ 2 dân tộc Vrishnis và dân tộc Andhakas thành tro bụi Những thi hài bị cháy đến mức không thể nhận dạng được. Tóc và móng tay chân bong ra; đồ gốm vỡ tan không rõ nguyên nhân, những con chim biến thành màu trắng Sau vài giờ mọi thực phẩm đều bị nhiễm độc Để thoát khỏi lửa, những người lính thả mình vào những dòng nước để rửa bản thân và các thiết bị của mình ” Mahabharata, Book of Karnaparvan "We saw something in heaven that resembled a scarlet cloud, like the gruesome flames of a burning fire. A monstrous, black Vimana emerged, shooting gaudy lightened projectiles. The noise sounded like a thousand drums beating at the same time. The Vimana approached the ground with incomparable speed and shot thousands of golden projectiles, followed with huge explosions and hundreds of fiery wheels. A terrifying panic took over." “Chúng tôi nhìn thấy một cái gì đó trên thiên đường giống như một đám mây màu đỏ tươi, như một đám lửa cháy khủng khiếp. Một vimana khổng lồ màu đen hiện ra, bắn ra những vật sáng. Âm thanh nghe như một ngàn cái trống đánh lên cùng một lúc. Chiếc vimana bay lại gần mặt đất với một tốc độ không gì sánh nổi và bắn hàng ngàn viên đạn vàng, theo sau bởi những tiếng nổ lớn và hàng trăm bánh xe ngùn ngụt cháy. Nỗi kinh hoàng bao trùm khắp nơi”. Mahabharata Charles Berlitz (1972) trích dẫn "The sun looked as if it was turning in a cirle. Scorched with the blaze of the weapon, the Earth staggered from the heat. Elephants burned and ran all over The bluster of the fire destroyed the trees Horses and wagons burned, it looked like after a terrifying fire. Thousands of wagons Chuyển Pháp Luân www.chinhphap.com www.phapluan.org www.minhhue.net 58