Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Cần Thơ

pdf 11 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Cần Thơ", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pdfbien_phap_giao_duc_ky_nang_song_cho_sinh_vien_noi_tru_truong.pdf

Nội dung text: Biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Cần Thơ

  1. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN NỘI TRÚ TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẦN THƠ Lê Thủy Tiên1 TÓM TẮT Giáo dục kỹ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục toàn diện sinh viên. Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú qua 8 kỹ năng cốt lõi, cần thiết với lứa tuổi sinh viên. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú tại trường Cao đẳng Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu đề xuất 03 biện pháp: (1) Tăng cường các loại hình hoạt động ngoại khóa cho sinh viên nội trú; (2) Tăng cường lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên qua giờ dạy trên lớp; (3) Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức Đoàn thể, chuyên môn, Ban quản lý ký túc xá thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú nhằm góp phần nâng cao hoạt động kỹ năng sống và chất lượng sống cho sinh viên. Từ khóa: giáo dục, kỹ năng sống, sinh viên nội trú, Cao đẳng, Cần Thơ 1. Đặt vấn đề Trong xã hội hiện nay luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và bất định đối với con người. Giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên (HSSV) là một lĩnh vực quan trọng trong hình thành nhân cách, phát triển con người trong nhà trường. Ðiều đó đặt ra việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống (KNS) để có những ứng xử, hành động, việc làm đúng đắn trong học tập, đời sống. Hiện nay HSSV đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc lựa chọn những giá trị phù hợp truyền thống của dân tộc, vừa đáp ứng xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lựa chọn lối sống, hành vi ứng xử trong cuộc sống, học tập, công tác và các mối quan hệ xã hội. Trong những năm gần đây, nhóm tội phạm liên quan đến trẻ vị thành niên ngày một tăng, cách thức và mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng. Điều này đã và đang dấy lên sự lo ngại về tình trạng gia tăng bạo lực trong giới trẻ.Tại trường Cao đẳng Cần Thơ (CĐCT) hiện nay đa số các sinh viên (SV)ở nội trú chưa hiểu đúng thế nào là KNS và chưa có khả năng giải quyết những vấn đề của bản thân phù hợp với từng tình huống xảy ra trong cuộc sống. Các em sống xa gia đình, thiếu sự hỗ trợ và giúp đỡ kịp thời của người thân và thiếu KNS cần thiết để vượt qua khó khăn trong cuộc đời sinh viên. Nhiều em lơ là học tập vì buồn chuyện gia đình, tình cảm hay mê game, mạng xã hội, Kỹ năng hòa nhập và sống với người khác mình, cũng như cách giải tỏa căng thẳng của các em còn rất còn hạn chế. Vấn đề đặt ra là việc“Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường Cao đẳng Cần Thơ”là rất cần thiết tại KTX trường CĐCT trong giai đoạn hiện nay. 2. Nội dung 2.1. Cơ sở lý luận Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kỹ năng thích hợp với môi trường sống [3]. Giáo dục KNS hết sức quan trọng, đòi hỏi sự tham gia của gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên trong chương trình đào tạo Cao đẳng, việc giáo dục và rèn luyện 1 Trường Cao đẳng Cần Thơ 25
  2. KNS chưa đáp ứng nhu cầu của SV. Bên cạnh đó, nhiều SV mang tâm lý chỉ chú trọng tới việc học các môn chuyên ngành mà lơ là việc rèn luyện KNS cho bản thân. Qua nghiên cứu thực tiễn SVNT trường CĐCT hiện nay thiếu những KNS cần thiết, các em chưa biết cách đương đầu khi gặp căng thẳng, cách giải quyết với những xung đột, mâu thuẫn trong môi trường nội trú và đặc biệt các em chưa có kỹ năng tự bảo vệ mình cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ cho bản thân khi gặp những vấn đề khó khăn. Giáo dục KNS giúp cho các em có khả năng để vượt qua những thử thách, cám dỗ và hình thành nhân cách để thành công trong học tập và cuộc sống tương lai sau này. Do đó, việc lựa chọn 8 nội dung KNS thiết yếu để giáo dục cho SVNT đó là: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng đương đầu với căng thẳng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng thể hiện sự cảm thông, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự bảo vệ và kỹ năng tìm kiếm sư hỗ trợ. - Kỹ năng tự nhận thức: là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu, của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng. Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác. Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể cớ những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội. Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác[1]. Để có kỹ năng tự nhận thức bản thân, các bạn cần biết rõ: mình là ai? mình tự nhận thấy bản thân mình ra sao? mình có những điểm mạnh, điểm yếu gì? Mình thường thành công trong lĩnh vực nào? Mục tiêu sống của mình là gì? Như vây, càng hiểu rõ về bản thân, cá nhân càng kiểm soát được hành vi, sự lựa chọn bản thân và điều chỉnh nhận thức hành vi theo hướng tích cực. Người có kỹ năng tự nhận thức vì thế là người có kỹ năng tự giáo dục và hoàn thiện mình. - Kỹ năng đương đầu với căng thẳng: là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng. Kỹ năng này rất quan trọng, giúp con người: Biết suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi căng thẳng; Duy trì được trạng thái cân bằng, không làm tổn hại sức khỏe thể chất và tinh thần của bản thân; Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh[5]. - Kỹ năng giao tiếp: là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết [5].Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiếm soát cảm xúc. Người có kỹ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác, có cách ứng xử khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng. 26
  3. - Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn:là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình.Yêu cầu trước hết của kỹ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất [5]. - Kỹ năng thể hiện sự cảm thông: là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ. Kỹ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ. - Kỹ năng hợp tác: là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiêu quả với những thành viên khác trong nhóm.Có kỹ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì: Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng. Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung;Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một cái chi tiết của một cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ; Kỹ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác. Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng [5]. - Kỹ năng tự bảo vệ: là biết cách tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của bản thân liên quan đến các vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, phòng bệnh Tự bảo vệ để tránh bị xâm hại tình dục, không bị lây nhiễm HIV, bạo lực học đường Rất nhiều HSSV thiếu hụt kỹ năng này dẫn đến hậu quả khó lường - Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ: giúp đỡ giúp chúng ta có thể nhận được những lời khuyên, sự can thiệp cần thiết để tháo gỡ, giải quyết những vấn đề khó khăn, giảm bớt được căng thẳng tâm lý do bị dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân không cảm thấy đơn độc, bi quan, và trong nhiều trường hợp, giúp chúng ta có cái nhìn mới và hướng đi mới. Kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, giúp đỡ rất cần thiết để giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn và ứng phó với căng thẳng. Đồng thời để phát huy hiệu quả của kỹ năng này, cần kỹ năng lắng nghe, khả năng phân tích thấu đáo ý kiến tư vấn, kỹ năng ra quyết định lựa chọn cách giải quyết tối ưu sau khi được tư vấn. 2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên nội trú Giai đoạn sinh viên – đây là bước ngoặc đánh dấu sự thay đổi rất lớn, khẳng định sự trưởng thành, độc lập của các em. Các em không còn là học sinh cấp 3, lứa tuổi chịu sự quản thúc, giám sát chặt chẽ của gia đình, nhà trường. Tuy nhiên khi học Cao đẳng, Đại học các em sẽ được chủ động, tự chủ nhiều hơn. Qua tìm hiểu, cho thấy SVNT là đối tượng ở các tỉnh vùng xa, sống xa gia đình, ở nội trú trong nhà trường để tiện việc học hành và đỡ chi phí tốn kém so với ở ngoại trú bên ngoài. SVNT được nhà 27
  4. trường bố trí sắp xếp ở trong phòng chung (từ 2 đến 6 SV). Trong mỗi phòng chung có thể là SV cùng lớp, cùng khóa, cùng khoa hoặc khác lớp, khác khóa, khác khoa; Có thể cùng hoặc khác chuyên ngành được đào tạo; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi, khác nhau về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức và quan niệm sống Song họ có chung một mục đích là học tập để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo. Sinh viên sống và hoạt động theo nội qui KTX và qui chế HSSV nội trú; các em sống và học trong môi trường tập thể vì vậy SV bắt buộc phải có mối quan hệ đoàn kết, chan hòa, yêu thương nhau. Nhân cách của SVNT được hình thành, chịu tác động, ảnh hưởng một phần của nhiều yếu tố trong môi trường sống nội trú. Đó là những người sống xung quanh: thầy cô giáo, cán bộ nhân viên, bạn bè xung quanh khu nội trú Như vậy SVNT sống và hoạt động đều trong môi trường tập thể chịu sự kiểm soát của nhà trường. Đây là đặc điểm nổi bật của SVNT và cũng là đặc điểm để phân biệt SVNT với sinh viên ngoại trú. 2.3. Những đặc điểm sinh hoạt của sinh viên nội trú Ký túc xá là nơi ở của SV, được xem như một xã hội thu nhỏ. Cư dân của xã hội đó là thanh niên của vùng nông thôn là chủ yếu. Nghề nghiệp của SV là lao động trí óc, công việc chính là học tập. Mặc dầu có đội ngũ cán bộ quản lí, song SV tự quản là chính, giờ giấc làm việc và sinh hoạt không chặt chẽ. Tuy quản lí hành chính và nội qui KTX có phần khắt khe, tương đối khác biệt với môi trường quanh đó, nhưng thực tế các điều kiện sinh hoạt bên trong không đáp ứng được nhu cầu của SV nên không duy trì được đúng các chế độ. Cho nên khu nội trú luôn có tính chất nửa vời, vừa nghiêm vừa không nghiêm. Trang thiết bị phục vụ cuộc sống và học tập tuy có nhưng không đủ. Chế độ giường tầng là muôn thuở, cơm ăn, nước uống cạnh vỉa hè. Xét về phạm vi thì mọi ký túc xá đều được quy hoạch tương đối độc lập nhưng mọi quan hệ xã hội hàng ngày, hàng giờ xâm nhập vào đời sống sinh viên, trong đó có cả tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè Đôi khi nội qui ký túc xá có những điều chưa hợp lý nên xảy ra những vi phạm không đáng có. Sự khép kín nửa chừng của cuộc sống nội trú hiện đang gây khó khăn nhiều hơn là thuận lợi cho SV. Những em muốn ở nội trú hầu hết là vì lí do kinh tế, không có cách nào khác để tìm chỗ ở. Sinh hoạt ở khu nội trú khá phức tạp và dễ xảy ra những tệ nạn xã hội khó kiểm soát và ngăn ngừa. Phần lớn tệ nạn xảy ra rồi nhà trường mới biết và giải quyết hậu quả. Những hiện tượng tiêu cực trong sinh hoạt nội trú rất nhiều vẻ, từ quan hệ nam nữ thiếu lành mạnh cho đến đánh nhau, cãi nhau, trộm cắp tài sản, bỏ bê học hành, bê tha trong ăn uống và vui chơi Chỗ mạnh căn bản nhất của đời sống nội trú là ảnh hưởng chung của tập thể, của cộng đồng. Bất kỳ hành vi sinh hoạt cá nhân nào của SV như tắm giặt, ăn uống, kết bạn, giờ giấc, trang phục, trang điểm, tiêu xài cũng gắn bó mật thiết với cộng đồng gần gũi nên dễ dàng trở nên công khai. Dư luận xã hội trong khu nội trú có tác dụng điều chỉnh cá nhân rất nhiều và đó là sức mạnh giáo dục mà nhà trường rất cần quan tâm trong giáo dục KNS cho SV [2]. 2.4 . Thực trạng nhận thức về KNS và GDKNS cho SVNT trường Cao đẳng Cần Thơ 2.4.1. Thực trạng nhận thức về KNS và tầm quan trọng giáo dục KNS cho SV nội trú Kết quả khảo sát (Bảng 2.3) cho thấy mức độ nhận biết về KNS của SVNT tại trường CĐCT còn rất thấp đa số là SV chỉ biết một ít về KNS (67%) đáng lo lắng là có 22% SV chưa biết gì về KNS trong khi SV biết nhiều và hiểu về KNS chỉ chiếm 11%. Kết hợp với phương pháp trò chuyện với sinh viên N.T.H.S K41 ngành Sư phạm Anh văn, cho biết: “Em có nghe nói về KNS qua báo đài và Internet, em chỉ biết là nó rất 28
  5. quan trọng và cần thiết, đặc biệt là với SV như chúng em, nhưng cụ thể là gì và chúng em phải làm như thế nào thì em không được biết, không ai nói với em về vấn đề này” Bảng 2.1: Nhận biết của CBGV và SVNT về KNS Ý kiến TT Nội dung Cán bộ, giảng viên (m=39) Sinh viên (m=200) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 1 Không biết 5 12,8 44 22,0 2 Biết một ít 29 74,3 134 67,0 4 Biết nhiều 2 5,2 18 9,0 5 Biết rất nhiều 3 7,7 4 2,0 Kết quả nhận định từ CBGV nhà trường về thực trạng hiểu biết về KNS của SVNT tại KTX trường (Bảng 2.1) cũng tương đồng với kết quả tự nhận định về KNS của bản thân SV, phần lớn (87,1%) CBGV nhận xét các em SVNT chỉ biết một ít hoặc chưa biết về KNS trong môi trường KTX hiện nay. Qua quan sát khi trò chuyện với các em trong môi trường nội trú, nhận thấy các em rất bỡ ngỡ và thấy rất lạ khi hỏi về khái niệm KNS hoặc gợi ý giả định cho các em một số tình huống có thể xảy ra để hỏi các em sẽ xử lý như thế nào thì phần lớn các em rất lung túng không trả lời hoặc trả lời theo suy nghĩ của bản thân nghĩ ra là vậy nhưng không biết đúng hay sai, còn khái niệm KNS thì hầu như rất xa lạ với các em sinh viên này. Qua kết quả điều tra cho thấy, mức độ hiểu biết của SVNT về KNS còn rất hạn chế. Hầu hết các em đều không biết làm thế nào và dựa vào ai để có KNS. 2.4.2. Thực trạng giáo dục KNS cho SV nội trú Qua số liệu thống kê Bảng 2.2 cho thấy có 94,8% ý kiến KNS là quan trọng và rất quan trọng với SVNT, trong đó nhấn mạnh rất quan trọng là 41%. Tuy nhiên vẫn còn một số ít CBGV cho rằng KNS không quan trọng đối với SVNT chiếm 5,2 %. Đối với SVNT hầu hết đều cho rằng KNS có vai trò quan trọng và rất quan trọng đối với mình, chiếm 89%, trong đó nhấn mạnh rất quan trọng là 32,5%. Đặc biệt là không có SVNT nào cho rằng KNS là hoàn toàn không quan trọng đối với mình. Như vậy, kết quả khảo sát thấy mối tương quan giữa việc nhận thức về vai trò của KNS đối với SVNT ý kiến từ CBGV và SVNT là tỷ lệ thuận với nhau. Các em ý thức được vai trò và tầm quan trọng của KNS đối với đời sống của bản thân. Chỉ có một số ít SV nhận định rằng KNS là hoàn toàn không quan trọng với bản thân chiếm tỷ lệ là 11%. Bảng 2.2: Ý kiến của CBGV và SVNT về vai trò của KNS đối với SVNT T Cán bộ, giảng viên (m=200) SVNT (m=200) T Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 1 Hoàn toàn không quan trọng 0 0 0 0 2 Không quan trọng 2 5,2 22 11,0 3 Quan trọng 21 53,8 113 56,5 4 Rất quan trọng 16 41,0 65 32,5 Qua trao đổi được biết các em rất tâm đắc với việc được giáo dục KNS, các em cho rằng KNS rất cần thiết đối với SV, đặc biệt là SVNT, vì khi mình trang bị được những KNS cần thiết thì mình có thể thích nghi và sống tốt, học tập tốt cũng như thuận lợi trong công việc sau này. Đi sâu vào tìm hiểu nhận thức vai trò KNS của CBGV và SVNT cho thấy, cán bộ quản lý KTX và giảng viên rất quan tâm đến vai trò KNS. Ý kiến cô P.T.Đ.N - Giảng viên tổ Tâm lý giáo dục cho biết sinh viên vào trường khi 29
  6. mới vừa tốt nghiệp THPT, đây là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có những chuyển biến tâm lý hết sức phức tạp, điều đặc biệt là các em chuyển từ môi trường sống với cha mẹ đến môi trường học tập và sinh hoạt ở KTX. Mọi thứ xung quanh các em đều rất mới mẻ, lạ lẫm, nếu không được sự quan tâm tư vấn giúp đỡ các em về KNS của đội ngũ cán bộ quản lý KTX, của thầy cô giáo thì các em khó có thể hòa nhập với môi trường và thích nghi tốt nhất với điều kiện ở KTX. Kết hợp với tìm hiểu trò chuyện, thầy P.N.M- Trưởng ban Quản lý KTX cho rằng KNS đối với các em SVNT là rất quan trọng, nó giúp cho các em có thể thích nghi tốt trong môi trường KTX, và quan trọng là các em có thể sống tự lập khi không có gia đình và người thân bên cạnh, sẽ giúp các em trưởng thành hơn và thành công hơn trong học tập cũng như trong công việc tương lai sau này. Đối với các tổ chức Đoàn TN, thầy N.T.T- Bí thư Đoàn trường chia sẻ: "KNS đối với sinh viên nói chung và SVNT nói riêng là rất quan trọng không chỉ giúp cho các em trải qua những năm tháng sinh viên thành công mà còn giúp cho các em vững bước trên con đường tương lai của các em sau này. Do đó, BCH Đoàn trường sẽ lưu ý để lồng ghép giáo dục KNS cho SV trong thời gian sắp tới, tranh thủ sự ủng hộ của Đoàn cấp trên để đưa cán bộ Đoàn được đi tập huấn về KNS giáo dục KNS cho SV nhà trường". Qua số liệu phân tích, có thể thấy rằng đa số CB- GV nhà trường rất quan tâm đến giáo dục KNS cho sinh viên nói chung và SVNT nói riêng, chỉ có một số ít (chiếm 5,2%) là không ủng hộ việc này, cho rằng chỉ cần trang bị vững vàng kiến thức và năng lực hoạt động chuyên môn cho các em là đủ, tuy nhiên con số này là rất ít, nên không đáng ngại. 30
  7. 2.4.3. Đánh giá chung về kết quả, hạn chế và nguyên nhân - Qua kết quả khảo sát cho thấy phần lớn cán bộ, giảng viên, nhân viên và SVNT đều nhận định KNS và giáo dục KNS cho SVNT là rất cần thiết, góp phần quan trọng để các em có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh không chỉ trong thời gian học tập, sinh hoạt nội trú mà còn giúp các em vững vàng trên con đường tương lai sau này. Tuy nhiên, thực trạng nhận thức về KNS của SVNT còn ở mức thấp, đa phần các em biết rất ít về các KNS cần thiết cho mình trong môi trường nội trú. - Nguyên nhân: SVNT chỉ thỉnh thoảng được giảng viên lồng ghép giáo dục KNS trong bài dạy ở một số học phần và cũng không được giáo dục thường xuyên. Các con đường giáo dục KNS cho SVNT thì: Nhà trường chưa quan tâm, chỉ đạo Ban Quản lý KTX, phòng CTHSSV, tổ chức Đoàn giáo dục KNS cho SVNT cũng như chỉ đạo lãnh đạo các Khoa tổ chức, triển khai, cho giảng viên lồng ghép giáo dục KNS trong chương trình giảng dạy; Nhà trường chưa có trung tâm nào chuyên phụ trách việc tham vấn cho SV nhà trường nói chung và SVNT nói riêng. Do đó, các em không biết hỏi ai hoặc dựa vào ai để rèn luyện KNS; SVNT không có được tổ chức các hoạt động tập thể, VHVN, TDTT, các hoạt động xã hội, trong môi trường nội trú. Như vậy để khắc phục những hạn chế trên đòi hỏi cần có những kiến nghị giải pháp phù hợp dựa trên kết quả khảo sát thực trạng và phát huy đồng bộ các yếu tố ảnh hưởng nhằm hình thành và phát triển KNS cho SVNT. 2.5. Một số biện pháp giáo dục KNS cho SVNT trường Cao đẳng Cần Thơ 2.5.1. Tăng cường các loại hình hoạt động ngoại khóa cho sinh viên nội trú - Mục tiêu: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là tạo cho sinh viên có cách học dựa trên tự khám phá của bản thân và tự lĩnh hội, đó chính là học qua sự trải nghiệm, quá đó giúp SV thay đổi căn bản cách ứng xử, thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực và hiệu quả. - Nội dung: Thường xuyên tổ chức hoạt động ngoài giờ học đóng một vai trò quan trọng trong việc bổ trợ kiến thức, bổ sung các kỹ năng và kinh nghiệm sống, giúp SV trở thành những con người toàn diện, hoạt động ngoài giờ lên lớp được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức hoạt động đều mang ý nghĩa giáo dục và rèn luyện kỹ năng nhất định. Trong điều kiện hiện tại trường Cao đẳng Cần Thơ có thể tổ chức được các hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho SVNT như sau: Tổ chức những câu lạc bộ SVcùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu: Câu lạc bộ cầu lông, bóng bàn, bóng đá mini, võ thuật, bóng hơi, cờ vua, cờ tướng, thể dục nhịp điệu ; Tổ chức các hội thi: Hát với nhau, hát karaoke, các môn thể thao truyền thống hoặc các môn thi truyền thống khác ; Tổ chức các buổi đối thoại, diễn đàn: đối thoại hung biện, đối thoại theo chủ đề các ngày lễ lớn trong năm (9/01, 26/3, 30/4, 01/5, 19/5, ); Tổ chức các trò chơi truyền thống, dân gian; Tổ chức các chuyến tham quan, dã ngoại: tại ở khu sinh thái, điểm du lịch tại địa phương và một tỉnh/vùng/miền khác khi kết hợp với các chuyến thực tế, thực tập chuyên ngành; Tổ chức các hoạt động nhân đạo; Tổ chức các hoạt động tình nguyện: Hiến máu nhân đạo, mùa hè xanh - Điều kiện để thực hiện biện pháp:Biện pháp này đòi hỏi nhà trường phải được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đặc biệt là các phòng học bộ môn, các phòng chức năng. Mặt khác, để thực hiện tốt biện pháp này, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa giảng viên cố vấn học tập, giảng viên bộ môn và các bộ phận đoàn thể trong nhà trường. Ban quản lý KTX cũng cần có sự quan tâm tâm sâu, sát trong các hoạt động của các em SVNT. Mối quan hệ của nhà trường với cộng đồng và các đơn vị, cơ quan trên địa bàn trong và ngoài thành phố Cần Thơ cũng là yếu tố quan trọng góp phần 31
  8. thực hiện tốt biện pháp này. 2.5.2. Tăng cường lồng ghép giáo dục KNS cho sinh viên qua giờ dạy trên lớp - Mục tiêu: Thông qua giờ dạy trên lớp giảng viên phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của SV, qua đó bồi dưỡng cho các em năng lực tự học có ý chí vươn lên, khơi gợi năng lực tư duy, sáng tạo, kỹ năng vận dụng, làm việc theo nhóm, tự giải quyết vấn đề, tự tin báo cáo vấn đề nghiên cứu của cá nhân và tập thể nhóm trước lớp, giúp sinh viên phát triển toàn diện về nhân cách, từ đó hình thành KNS cho các em. - Nội dung: Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của giảng viên đến SV từ đó hình thành cho SVnhân cách cần thiết. Phương pháp giáo dục SVrất phong phú và đa dạng, do đó phải sử dụng phối hợp linh hoạt, mềm dẻo các phương pháp cho phù hợp với mục đích, đối tượng và tình huống cụ thể. Việc lồng ghép giáo KNS cho sinh viên thông qua giờ dạy có thể tiến hành ở hầu hết các học phần của tất cả các ngành, tuy nhiên không thể áp dụng được tất cả các bài dạy ở từng giờ học. Do đó giảng viên thực hiện phải nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, phải luôn liên hệ nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống và đặc biệt phải tận dụng sự đổi mới phương pháp giảng dạy. Rèn luyện KNS cho sinh viên thông qua giờ học là nội dung khó nhất, phụ thuộc nhiều vào nghệ thuật, kỹ năng tay nghề của giảng viên và nội dung bài học. Các phương pháp giáo dục giúp cho sinh viên hình thành KNS có thể là:Phương pháp kích não; Phương pháp nghiên cứu tình huống; Phương pháp trò chơi; Phương pháp thảo luận nhóm; Phương pháp sắm vai. - Điều kiện để thực hiện biện pháp:Giảng viên nắm được nội dung của các KNScơ bản cần giáo dục cho sinh viên; có kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục, thiết kế dạy học theo quản điểm dạy học tích cực; Giảng viên phải nắm vững chương trình giảng dạy, từ đó lồng ghép giáo dục KNS cho SV vào bài dạy; Cơ sở vật chất của nhà trường đáp ứng yêu cầu tối thiểu về phương tiện phục vụ giảng dạy; Giảng viên phải có kỹ năng thiết kế tài liệu phát tay cho sinh viên 2.5.3 Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức Đoàn thể, chuyên môn, Ban quản lý KTX thực hiện giáo dục KNS cho sinh viên nội trú - Mục tiêu: Nhà trường cần tăng cường chủ động phối hợp với các tổ chức Đoàn thể, chuyên môn, Ban quản lý KTX trong hoạt động giáo dục KNS cho SVNT nhằm hướng tới xây dựng môi trường giáo dục KNS rộng, thống nhất có sự kết hợp giữa các lực lượng trong nhà trường. Từ đó, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong quá trình giáo dục KNS cho SVNT. - Nội dung thực hiện: + Đối với ban giám hiệu nhà trường: cần phải phát huy vai trò trung tâm, chỉ đạo, tổ chức phối hợp các đơn vị trực thuộc trường cùng với Đoàn thể và ban quản lý KTX lên kế hoạch thực hiện nội dung, phương pháp giáo dục KNS cho sinh viên nói chung và SVNT nói riêng. Phát huy vai trò Ban quản lý KTX là gia đình thứ hai của SVNT, thành lập trung tâm hoặc giao cho một đơn vị (có thể tổ chức Đoàn thanh niên hoặc phòng công tác học sinh sinh viên) trong nhà trường có nhiệm vụ tham vấn cho sinh viên về KNS, hướng dẫn giúp đỡ sinh viên gặp khó khăn trong quá trình học tập đồng thời tạo ra nhiều sân chơi bổ ích cho các em rèn luyện tốt kỹ năng sống của bản thân. + Đối với các bộ phận chuyên môn: Nghiên cứu đề xuất, tham mưu xây dựng và đưa môn học “kỹ năng sống” vào chương trình đào tạo chínhquy. Tổ chức tham mưu, chỉ đạo các tổ bộ môn, giảng viên, lồng ghép giáo dục KNS vào giảng dạy trên lớp. Tăng cường lồng ghép giáo dục KNS cho sinh viên trong các giờ học trên lớp: Thông 32
  9. qua giờ dạy trên lớp giảng viên phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HSSV, qua đó bồi dưỡng cho các em năng lực tự học có ý chí vươn lên, khơi gợi năng lực tư duy, sáng tạo, kỹ năng vận dụng, làm việc theo nhóm, tự giải quyết vấn đề, giúp học sinh phát triển toàn diện về nhân cách, từ đó hình thành KNS cho các em. Việc lồng ghép giáo dục KNS cho HSSV thông qua giờ dạy có thể tiến hành ở hầu hết các môn học/học phần của tất cả các ngành học phù hợp với từng bài dạy cụ thể để qua đó trang bị kiến thức về KNS cho HSSV nói chung và SVNT nói riêng. + Đối với các tổ chức Đoàn thể, ban quản lý KTX: Tổ chức rèn KNS cho HSSV qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp:Đưa các nội dung giáo dục văn hoá truyền thống, giáo dục thông qua di sản vào nhà trường. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, vui chơi, giải trí tích cực, các hoạt động văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian, dân ca, ngoại khoá phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và địa phương. Hướng dẫn HSSV tự quản, chủ động tự tổ chức, điều khiển các hoạt động tập thể và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Thường xuyên tổ chức các mô hình hoạt động sinh hoạt tập thể, văn hóa, văn nghệ tại khu KTX, qua đó giúp các em có sân chơi lành mạnh và rèn luyện KNS cho bản thân. Các giải pháp trên có mối quan hệ đan xen, mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau và chỉ đem lại hiệu quả khi được thực hiện đồng bộ, thống nhất và thường xuyên. 6.6. Đánh giá các giải pháp qua ý kiến của chuyên gia Để khẳng định mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp trên, người nghiên cứu đã trưng cầu ý kiến của chuyên gia là lãnh đạo nhà trường; lãnh đạo phòng, khoa, ban Quản lý KTX; giảng viên giảng dạy lâu năm có nhiều kinh nghiệm giáo dục; cán bộ Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên. Kết quả khảo sát như bảng sau: Bảng 3.1: Kết quả khảo sát ý kiến chuyên gia Tính cần thiết (%) Tính khả thi (%) TT (m=12) (m=12) Nội dung giải pháp Rất Cần Không Rất Khả Không cần thiết cần khả thi khả thiết thiết thi thi Tăng cường các loại hình hoạt động ngoại 63,3 36,7 0 41,2 58,8 0 1 khóa cho sinh viên nội trú Tăng cường lồng ghép giáo dục KNS cho 2 70.5 25,5 0 40,5 59,5 0 sinh viên qua giờ dạy trên lớp Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức Đoàn 3 thể, chuyên môn, Ban quản lý KTX thực 80,6 19,4 0 54,6 45,4 0 hiện giáo dục KNS cho sinh viên nội trú Kết quả thống kê cho thấycán bộ giảng viên nhân viên trường CĐCT đều nhận định việc tăng cường giáo dục KNS cho sinh nói chung và SVNT trú nói riêng là rất thiết thực, trong điều kiện hiện tại của nhà trường cần phải tiến hành 03 biện pháp giáo dục KNS như đã đề xuất là rất phù hợp để giúp SV trường CĐCT có được những kỹ năng cần thiết nhất trong môi trường sống tại KTX hiện tại cũng như những kỹ năng sống cho tương lai của các em sau này. 3. Kết luận Kỹ năng sống là loại kỹ năng trực tiếp giúp cá nhân sống thành công, hiệu quả trong cuộc sống xã hội, và được phân chia thành các lĩnh vực tương ứng với thế giới tâm hồn của cá nhân, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, quan hệ công việc. Giáo dục hiện nay 33
  10. xem kỹ năng sống là cốt lõi của chất lượng giáo dục (1) Tăng cường các loại hình hoạt động ngoại khóa cho SVNTvới mục tiêu Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là tạo cho SV có cách học dựa trên tự khám phá của bản thân và tự lĩnh hội, đó chính là học qua sự trải nghiệm, quá đó giúp sinh viên thay đổi căn bản cách ứng xử, thay đổi hành vi của mình theo hướng tích cực và hiệu quả; (2) Tăng cường lồng ghép giáo dục KNS cho sinh viên qua giờ dạy trên lớp với mục tiêu thông qua giờ dạy trên lớp giảng viên phối hợp linh hoạt các phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của các em; (3) Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức Đoàn thể, chuyên môn, Ban quản lý KTX thực hiện giáo dục KNS cho SVNT với mục tiêu hướng tới xây dựng môi trường giáo dục KNS rộng rãi, thống nhất có sự kết hợp giữa các lực lượng trong nhà trường. Từ đó, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong quá trình giáo dục KNS cho SVNT. * Tài liệu tham khảo [1] Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên), Nguyễn Thị Kim Dung, Ngô Thu Dung, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thu Lạc, Nguyễn Thị Hằng (2005), Lý luận giáo dục học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội. [2] Nguyễn Thanh Bình (2006), Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Viện nghiên cứu giáo dục học. [3] Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống, Nxb ĐHSP Hà Nội. [4] Nguyễn Thanh Bình (2011),Giáo trình chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Nxb ĐHSP Hà Nội [5] Tập sách Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông, Nxb Giáo dục. (*) ĐC: Lê Thủy Tiên - Trường Cao đẳng Cần Thơ, ĐT: 0939 136903 – Email: thuytienle87@gmail.com 34
  11. BÀI BÁO KHOA HỌC THỰC HIỆN CÔNG BỐ THEO QUY CHẾ ĐÀO TẠO THẠC SỸ Bài báo khoa học của học viên có xác nhận và đề xuất cho đăng của Giảng viên hướng dẫn Bản tiếng Việt ©, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH và TÁC GIẢ Bản quyền tác phẩm đã được bảo hộ bởi Luật xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Nghiêm cấm mọi hình thức xuất bản, sao chụp, phát tán nội dung khi chưa có sự đồng ý của tác giả và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. ĐỂ CÓ BÀI BÁO KHOA HỌC TỐT, CẦN CHUNG TAY BẢO VỆ TÁC QUYỀN! Thực hiện theo MTCL & KHTHMTCL Năm học 2017-2018 của Thư viện Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp. Hồ Chí Minh.