Bài giảng Dấu chân sinh thái - Nguyễn Thị Minh Nguyệt

ppt 36 trang phuongnguyen 90
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Dấu chân sinh thái - Nguyễn Thị Minh Nguyệt", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • pptbai_giang_dau_chan_sinh_thai_nguyen_thi_minh_nguyet.ppt

Nội dung text: Bài giảng Dấu chân sinh thái - Nguyễn Thị Minh Nguyệt

  1. DẤU CHÂN SINH THÁI Giảng viên:Nguyễn Thị Minh Nguyệt
  2. Nhóm 7: ◼ Vũ Hùng Anh ◼ Trần Văn Bé Ba ◼ Phạm Thị Phương Châu ◼ Nguyễn Văn Tự
  3. I khái niệm ◼ Dấu chân sinh thái (Ecological Footprint, EF) là một thước đo nhu cầu về các diện tích đất, nước có khả năng cho năng suất sinh học cần thiết để cung cấp thực phẩm, gỗ cho con người, bề mặt xây dựng cơ sở hạ tầng, diện tích hấp thụ CO2, khả năng chứa đựng và đồng hóa chất thải ◼ Mặc dù việc phân tích EF mới chỉ bắt đầu vào năm 1995, nhưng nó đã nhanh chóng được sử dụng ở rất nhiều quốc gia và lãnh thổ như: Úc, Canada, Đức, Hà Lan, Italy
  4. Các khái niệm thường gặp trong EF ◼ 1. Sức tải sinh học: ◼ 2. Đơn vị gha: ◼ 3. Diện tích đất và nước có khả năng cho năng suất sinh học: ◼ 4. Tiêu thụ: ◼ 5. Dấu chân tiêu thụ: ◼ 6. Dấu chân diện tích canh tác: ◼ 7. Dấu chân diện tích đồng cỏ chăn nuôi: ◼ 8. Dấu chân diện tích rừng: ◼ 9. Dấu chân diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: ◼ 10. Dấu chân diện tích xây dựng: ◼ 11. Dấu chân diện tích năng lượng: ◼ 12. Dấu chân CO2:
  5. 1. Sức tải sinh học: Biocapacity (BC) ◼ BC là khả năng của hệ sinh thái tạo ra vật chất sinh học hữu dụng và hấp thụ chất thải do con người tạo ra. Sức tải sinh học của một vùng được tính bằng đợn vị gha. ◼ Nếu BC thể hiện khả năng cung cấp các dạng tài nguyên cho con người thì EF lại thể hiện nhu cầu về các dạng tài nguyên của con người. Do đó, ngoài việc tính toán EF ta cần phải tính BC như một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên của con người. ◼ Năm 2003, Thế giới có 11,2 tỷ ha đất và nước có khả năng cho năng suất sinh học, và tính ra, Sức tải sinh học theo đầu người là 1,8 gha (với dân số Toàn cầu là 6,3 tỷ người).
  6. 2. Đơn vị gha: ◼ Để thuận lợi cho việc so sánh khả năng cho năng suất sinh học giữa các nước, các vùng, dấu chân sinh thái đã đưa ra Đơn vị global ha (gha), là một dạng đơn vị diện tích chuyển đổi:1gha = 1ha khoảng không gian cho năng suất sinh học bằng mức trung bình thế giới. ◼ Do mỗi dạng đất có năng suất khác nhau, nên 1 gha sẽ tương đương với số ha khác nhau, ví dụ, 1 ha đất canh tác sẽ chiếm một diện tích chuyển đổi nhỏ hơn so với 1 ha đất đồng cỏ - có năng suất sinh học thấp hơn, hay nói cách khác, cần nhiều diện tích đồng cỏ hơn để tạo ra được một trữ lượng sinh học bằng trữ lượng sinh học của 1 ha đất trồng trọt tạo ra.
  7. 3. Diện tích đất và nước có khả năng cho năng suất sinh học: ◼ Là diện tích cung cấp hoạt động quang hợp và tích lũy sinh khối đáng kể cho con người sử dụng.Do đó, những vùng đất có thảm thực vật nghèo nàn hay nơi có sinh khối nhưng con người không sử dụng được thì không được tính vào diện tích này. ◼ Theo số liệu của FAO năm 2003, tổng diện tích này của Thế giới là 11,2 tỷ ha
  8. 4. Tiêu thụ: ◼ Là hoạt động sử dụng hàng hóa và dịch vụ. Nó bao gồm cả việc sử dụng bản thân hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cả các nguồn tài nguyên, năng lượng cần thiết để đưa sản đó đến tay người tiêu dùng. ◼ Chẳng hạn, việc tiêu thụ thức ăn không chỉ bao gồm lượng thực vật hay động vật mà con người trực tiếp sử dụng mà còn cả lượng rác thải ra, mất mát trong quy trình chế biến hay thu hoạch, cũng như năng lượng cần thiết để sinh vật phát triển, để con người thu hoạch, chế biến và vận chuyển chúng. ◼ Lượng tiêu thụ của 1 quốc gia = sản xuất + nhập khẩu –xuất khẩu.
  9. 5. Dấu chân tiêu thụ: ◼ Là dạng thông thường, phổ biến nhất của thống kê Dấu chân sinh thái. Nó là diện tích cần để cung ứng cho việc tiêu thụ của con người, bao gồm cả diện tích cần để sản xuất ra vật chất và đồng hóa lượng rác thải.
  10. 6. Dấu chân diện tích canh tác: ◼ Diện tích canh tác được sử dụng để phát triển mùa màng. Đây là loại diện tích cho năng suất sinh học cao nhất. ◼ Dấu chân diện tích canh tác tính cho một cá nhân là diện tích cần thiết để tạo ra toàn bộ sản phẩm mùa màng mà cá nhân đó tiêu thụ. ◼ Theo ước tính của FAO, năm 2003 có khoảng 1,5 tỷ ha đất canh tác.
  11. 7. Dấu chân diện tích đồng cỏ chăn nuôi: ◼ Dấu chân đất đồng cỏ và chăn nuôi là diện tích đủ để cung cấp thịt, các sản phẩm bơ sữa, da và lông, nhưng các vật nuôi này không tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp mà cư trú lâu dài trên các đồng cỏ. ◼ Dấu chân này bao gồm chủ yếu là sự tiêu thụ các sản phẩm từ gia súc, cừu và dê, ngoài ra còn có ngựa, lừa, và lạc đà, đối với trung bình chung thì có thể chúng không đáng kể nhưng đối với một số vùng thì các sản phẩm này rất quan trọng. ◼ Theo số liệu 2003 của tổ chức FAO, có khoảng xấp xỉ 3,5 tỷ ha đồng cỏ tự nhiên và bán tự nhiên trên Thế giới.
  12. 8. Dấu chân diện tích rừng: ◼ Dấu chân đất rừng của một cá nhân là diện tích cần thiết để tạo ra các sản phẩm gỗ mà người đó tiêu thụ. ◼ Nó bao gồm gỗ củi, than củi, gỗ nguyên liệu (kể cả dạng gỗ xẻ, gỗ ván, và vật liệu cách nhiệt), giấy và bìa các tông. ◼ Năm 2003, Thế giới có khoảng 3,9 tỷ ha đất rừng, theo như số liệu điều tra của FAO.
  13. 9. Dấu chân diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: ◼ Dấu chân này tính cho một cá nhân là diện tích cần thiết để tạo ra được các sản phẩm cá và thủy hải sản khác mà người đó tiêu thụ. ◼ Diện tích này cung cấp toàn bộ lượng cá biển, giáp xác, thân mềm, cũng như các sản phẩm thịt cá làm thức ăn cho động vật.Số liệu của FAO cho thấy năm 2003, toàn Thế giới có khoảng 1,9 tỷ ha, trong đó, diện tích nước lục địa chiếm khoảng 0,4 tỷ ha.
  14. 10. Dấu chân diện tích xây dựng: ◼ Dấu chân đất xây dựng tính cho một cá nhân cụ thể là diện tích cần để cá nhân đó xây dựng nhà ở, khu vui chơi, công sở, cần thiết phục vụ đời sống. ◼ Cũng theo số liệu của FAO năm 2003, diện tích này hiện nay trên Thế giới vào khoảng gần 0,2 tỷ ha
  15. 11. Dấu chân diện tích năng lượng: ◼ Dấu chân năng lượng của một cá nhân là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu về năng lượng của cá nhân đó. ◼ Bao gồm 4 dạng : năng lượng hóa thạch (than, dầu, và khí thiên nhiên), năng lượng sinh khối (gỗ nhiên liệu và than củi), năng lượng hạt nhân và năng lượng nước. ◼ Dấu chân của việc đốt cháy năng lượng hóa thạch được tính là diện tích rừng cần thiết để hấp thụ lượng CO2 thải ra, không tính lượng đã bị hấp thụ bởi biển và đại dương.
  16. 11. Dấu chân diện tích năng lượng: ◼ Dấu chân của năng lượng sinh khối là diện tích rừng cần để tạo ra được sinh khối đó. ◼ Dấu chân của năng lượng hạt nhân là dấu chân tính cho điện năng sản xuất từ năng lượng hạt nhân đó. ◼ Dấu chân của thủy năng là diện tích mà trên đó người ta xây các con đập và các hồ chứa nước phục vụ cho các công trình thủy điện.
  17. 12. Dấu chân CO2: ◼ Dấu chân CO2 của một cá nhân là diện tích cần để hấp thụ toàn bộ lượng CO2 phát thải từ các hoạt động tiêu thụ năng lượng của người đó. ◼ Dấu chân CO2 bao gồm việc sử dụng trực tiếp than, dầu, khí đốt trong gia đình hay giao thông cá nhân, và gián tiếp là tiêu thụ điện, giao thông công cộng, tiêu thụ các hàng hóa được sản xuất, và một số dịch vụ khác.
  18. 12. Dấu chân CO2: ◼ Người ta ước tính rằng có khoảng 1,8 Giga tấn C được hấp thu vào đại dương mỗi năm (IPCC 2001), nhưng các tác động tiêu cực của nó lên sức tải sinh học của các thủy vực lại không được tính đến. Do vậy khi tính dấu chân CO2 cần phải trừ đi lượng CO2 được hấp thu vào đại dương (thường là 30%).
  19. II Phương pháp tính Dấu chân sinh thái. ◼ Phương pháp Dấu chân xác định hai phần: trữ lượng sinh thái (diện tích cho năng suất sinh học) và nhu cầu con người. Theo đó, trữ lượng sinh thái được tính cho sáu kiểu diện tích:
  20. ◼ - Đất trồng trọt (Cropland): là diện tích được sử dụng cho canh tác để thu lương thực, thức ăn gia súc và sợi bông, gồm 70 loại diện tích sơ cấp và 15 loại diện tích thứ cấp. ◼ - Đất chăn nuôi (Grazing land): là diện tích được dùng để chăn nuôi động vật để lấy thịt, da, len và sữa, gồm đồng cỏ tự nhiên và bán tự nhiên. ◼ - Rừng: gồm rừng tự nhiên và rừng trồng để thu gỗ nhiên liệu, gỗ tròn.
  21. ◼ - Mặt nước thủy sản: là diện tích cung cấp thủy sản nước ngọt và nước biển, bao gồm 8 loại cá, động vật thủy sinh và 1 loại thực vật thủy sinh. ◼ - Đất xây dựng: là diện tích được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà ở, khu công nghiệp, nhà máy điện, ◼ - Đất năng lượng hay “đất cacbon”: là diện tích đất hoặc đại dương cần để hấp thu phát thải CO2 từ quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch.
  22. ◼ Và nhu cầu con người sẽ là tổng các sản phẩm mà 6 kiểu diện tích trên cung cấp thỏa mãn. Năm 2003, Dấu chân sinh thái toàn cầu là 14,1 tỷ gha, tương đương với 2,2 gha/người, trong khi đó, Sức tải sinh học là 1,8gha/người.
  23. ◼ Dấu chân sinh thái được tính cho hơn 150 quốc gia trên thế giới, trong đó, tiêu thụ của mỗi quốc gia được tính bằng lượng sản phẩm sản xuất cộng với (+) lượng sản phẩm nhập khẩu, sau đó trừ đi (–) lượng sản phẩm xuất khẩu. Một quốc gia sẽ có “dự trữ sinh thái” nếu Dấu chân sinh thái nhỏ hơn Sức tải sinh học, ngược lại, nó sẽ ở trong tình trạng “thâm hụt sinh thái”. ◼ Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều đang ở trong tình trạng thâm hụt sinh thái.
  24. Dấu chân sinh thái của Tương quan giữa Dấu các nước có thu nhập chân sinh thái và thấp, trung bình và cao Sức tải sinh học
  25. ◼ Ở Việt Nam, các số liệu tính Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh thái có từ năm 1961 đến 2003 trong các báo cáo thường niên của National Footprint Network và WWF. Ta có tương quan về Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học theo đầu người qua các năm như sau:
  26. Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học của Việt Nam
  27. ◼ Sơ đồ trên cho thấy sự thay đổi Dấu chân sinh thái và Sức tải sinh học của Việt Nam diễn biến theo xu thế chung của toàn cầu, Dấu chân sinh thái tăng dần. Như vậy, đến năm 2003, mặc dù so với toàn cầu Dấu chân sinh thái của Việt Nam vẫn ở mức chưa đáng lo ngại (0,9gha 0,8gha).
  28. Có thể nối, vấn đề năng lượng và phát thải CO2 ở nước ta hiện chưa phải quá trầm trọng nhưng trong tương lai, cùng với nhu cầu sử dụng năng lượng và đốt nhiên liệu hóa thạch gia tăng thì sức ép của nhu cầu lên thiên nhiên sẽ có biến động rõ rệt.
  29. Tốc độ tiêu thụ “nguồn vốn tự nhiên” quá mức đang đe dọa tương lai của thế giới.
  30. ◼ Không phải gia tăng dân số, mà chính tiêu dùng quá mức mới là vấn đề chính đe dọa môi trường hiện nay. Và thiểu số người giàu trên thế giới đang sử dụng hầu hết nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất và là chủ thể tạo ra khối lượng lớn hiệu ứng nhà kính.
  31. ◼ Lượng khí thải CO2 chính là thước đo tác động của con người lên khí hậu, đồng thời là bằng chứng cho mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch. Stephen Pacala, chủ tịch Viện Môi trường Princeton tính toán rằng nửa tỉ người giàu nhất thế giới, tương đương khoảng 7% dân số thế giới, đã gây ra 50% lượng khí thải CO2. Trong khi đó, 50% người nghèo nhất chỉ tạo ra vẻn vẹn 7%.
  32. ◼ Hoa Kì là nhà tiêu dùng lớn nhất thế giới với phần lớn mặt hàng chủ chốt như ngũ cốc, cà phê, đồng, chì, kẽm, nhôm, cao su, hạt dầu, dầu và khí tự nhiên. So với các nước khác, Hoa Kì luôn đứng đầu về lượng tiêu thụ bình quân đầu người. Ở mảnh đất “quá cỡ” này, trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ hơn 120 kg thịt mỗi năm, trong khi ở Ấn Độ con số này chỉ là 6kg.
  33. ◼ Không phủ nhận rằng dân số tăng nhanh có thể gây những khủng hoảng môi trường trầm trọng ở cấp khu vực do chăn thả quá mức, canh tác, đánh bắt cá bừa bãi và phá rừng, song lập luận ở đây cần được nhìn nhận trên phạm vi toàn cầu. Chính tình trạng tiêu dùng quá mức kéo dài trong ít nhất một thế kỉ qua đã tác động lên hệ thống hỗ trợ cuộc sống quan trọng của hành tinh này.
  34. Bên cạnh đó chỉ số Dấu chân Sinh thái giúp chúng ta bảo vệ tài nguyên sinh thái. Chỉ số này sẽ giúp con người giữ được cân bằng tài nguyên, để đảm bảo rằng lượng tài nguyên chúng ta sử dụng không vượt quá mức chúng ta có được từ trái đất.
  35. ◼ Dấu chân Sinh thái có thể được sử dụng một cách hữu ích trong việc giúp chúng ta giám sát xem liệu chúng ta có thực sự đang đi đúng hướng trong việc bảo vệ tài nguyên, bởi nhờ có nó chúng ta có thể phân tích và tổng kết mức độ khai thác tự nhiên trong một công thức tổng quát. Con người cũng cần phải nhìn vào Dấu chân Sinh thái để biết tình hình của hệ thống sinh thái đang trực tiếp phục vụ cho nền kinh tế. Điều may mắn là chúng ta có thể làm điều đó không chỉ cấp độ diện rộng như quốc tế hay quốc gia, mà còn có thể thực hiện ở cấp thành phố, thậm chí là ở từng cá nhân. Khi các thành phố bắt đầu việc đánh giá mức Dấu chân Sinh thái của mình, tức là họ đã có trong tay một công cụ toàn diện để tự mình nhận thấy họ có thực sự đang đi đúng hướng hay không.