Bài giảng Côn trùng học

doc 83 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Côn trùng học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docbai_giang_con_trung_hoc.doc

Nội dung text: Bài giảng Côn trùng học

  1. Bài giảng Côn trùng học 1
  2. MỤC LỤC PHẦN I. CÔN TRÙNG ĐẠI CƯƠNG 4 CHƯƠNG I. HÌNH THÁI HỌC CÔN TRÙNG (2 tiết) 4 PHẦN 2. CÔN TRÙNG CHUYÊN KHOA 50 BÀI MỞ ĐẦU (0.5 tiết) 1. KHÁI NIỆM - Côn trùng học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về côn trùng - Côn trùng là những động vật thuộc ngành chân đốt hay còn gọi là tiết túc (Athropoda) với những đặc điểm sau: + Cơ thể chia ra 3 phần: đầu, ngực, bụng; giữa đầu và ngực nối với nhau bằng 1 màng mỏng gọi là cổ. Toàn bộ cơ thể được bao bọc bởi 1 lớp da cứng có tác dụng như "bộ xương ngoài" của côn trùng. + Đầu có 1 đôi râu đầu, miệng, 1 đôi mắt kép, 2-3 mắt đơn (1 số loài không có như loài bọ xít mù xanh). + Ngực chia 3 đốt, mỗi đốt mang 1 đôi chân. Trưởng thành mang 1 - 2 đôi cánh ở đốt giữa và đốt sau, có loài thoái hóa hoàn toàn. Muỗi có 1 đôi, cào cào có 2 đôi cánh, chấy không có cánh. + Hô hấp bằng hệ thống khí quản và lỗ thở. + Lỗ sinh dục và hậu môn ở phía cuối bụng, hệ tuần hoàn hở 2
  3. + Trong quá trình sinh trưởng có biến thái bên trong và biến thái bên ngoài - Nguồn gốc của côn trùng: Đọc tài liệu 2. Một số đặc điểm của lớp côn trùng - Gồm nhiều loài: Số loài côn trùng đã biết chiếm 2/3-3/4 tổng số loài của giới động vật trên trái đất. Hiện đã xác định được 900 nghìn loài côn trùng trong tổng số 1 triệu 150 nghìn loài động vật. - Đông về số lượng cá thể. 1 tổ kiến Atlas có đến 50 vạn con 1 tổ ong lớn có 6-8 vạn con - Phân bố ở khắp mọi nơi do: +Kích thước côn trùng nhỏ nên dễ thỏa mãn nhu cầu thức ăn, dễ tìm kiếm nơi ẩn náu để trốn tránh kẻ thù. +Là lớp duy nhất của ngành động vật không xương sống có cánh nên tiện lợi cho việc mở rộng phạm vi phân bố, tìm kiếm thức ăn, giao phối và trốn tránh kẻ thù. + Có khả năng sinh sản nhanh, mạnh, hoàn thành một thế hệ tương đối ngắn. Vì vậy côn trùng có số lượng loài và cá thể nhiều, đồng thời phân bố rộng. + Côn trùng thuộc động vật máu lạnh, nhiệt độ cơ thể biến đổi theo nhiệt độ môi trường, do đó có thể sống sót trong điều kiện khí hậu bất lợi. Mặc dù số lượng côn trùng nhiều, nhưng thực ra số loài sâu hại chỉ chiếm 10% tổng số các loài côn trùng, sâu hại nghiêm trọng chiếm không quá 1%. 3
  4. 3. VAI TRÒ CỦA CÔN TRÙNG ĐỐI VỚI CÂY TRỒNG, CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI (Đọc sgk) 3.1. Tác hại của côn trùng 3.2. Lợi ích của côn trùng PHẦN I. CÔN TRÙNG ĐẠI CƯƠNG CHƯƠNG I. HÌNH THÁI HỌC CÔN TRÙNG (2 tiết) 1. KHÁI NIỆM VÀ NHIỆM VỤ - Hình thái học côn trùng là môn khoa học nghiên cứu cấu tạo bên ngoài cơ thể côn trùng. - Nhiệm vụ: + Không chỉ nghiên cứu đơn thuần cấu tạo của cơ thể côn trùng mà đồng thời phải nghiên cứu nguồn gốc, nguyên nhân hình thành các cấu tạo ấy + Nghiên cứu mối tương quan giữa các cấu tạo với nhau + Nghiên cứu mối tương quan giữa các cấu tạo ấy với hoạt động của cơ quan bên trong cơ thể côn trùng. 4
  5. + Nghiên cứu mối tương quan của các cấu tạo ấy với hoàn cảnh sống và đặc tính sinh vật học của từng loài. Từ những hiểu biết về đặc điểm chung, riêng của cấu tạo hình thái côn trùng là cơ sở cho công tác phân loại, nhận biết côn trùng có ích và phòng trừ côn trùng gây hại. 2. CẤU TẠO CHI TIẾT TỪNG PHẦN CƠ THỂ CÔN TRÙNG 2.1. Đầu và các phần phụ của đầu. 2.1.1. Cấu tạo của đầu côn trùng - Đầu là phần thứ nhất của cơ thể côn trùng, trên đó mang 1 đôi râu đầu, 1 đôi mắt kép, 2-3 mắt đơn và bộ phận miệng. - Đầu là trung tâm của cảm giác và lấy thức ăn. Cơ quan cảm giác có đôi râu đầu, có mắt kép và mắt đơn. Cơ quan lấy thức ăn chủ yếu là miệng. - Đầu côn trùng được phân chia thành các khu vực và các mảnh nhờ có đường ngấn lột xác hình chữ Y và các ngấn khác như ngấn trán chân môi, ngấn má, ngấn ót. Giai đoạn trưởng thàng ngấn lột xác không nhìn thấy hoặc thấy rất mờ. + Khu trán - chân môi: Là khu được tạo bởi mặt trước vỏ đầu và được chia làm 2 phần: phía trên là trán, phía dưới là chân môi. Giữa 2 bộ phận này là ngấn trán - chân môi (còn gọi là ngấn trên miệng). Trên trán có mắt đơn, thường là 3 chiếc xếp hình tam giác đảo ngược. + Khu cạnh - đỉnh đầu: Khu này được tạo thành bởi mặt bên của vỏ đầu và đỉnh đầu, giới hạn ra phía sau của khu này là ngấn ót. Mắt kép nằm trong khu này, phía dưới là phần má. + Khu gáy và gáy sau: Khu này là mặt sau của đầu, được tạo thành bởi 2 phiến cứng hình vòng cung vây quanh lỗ sọ, nơi nối tiếp giữa phần 5
  6. đầu và ngực. Phiến gần lỗ sọ gọi là gáy sau (ót sau), phiến ngoài tạo nên gáy côn trùng. + Khu dưới má: Đây là phần tiếp theo về phía dưới 2 má, được phân định bởi ngấn dưới má. Mép dưới khu dưới má là nơi có mấu nối với hàm trên và hàm dưới của côn trùng. + Môi trên: Là một phiến hình nắp cử động được, đính lên mép dưới của khu chân môi, mặt ngoài môi trên cứng, mặt trong mềm 2.1.2. Các kiểu đầu của côn trùng Dựa vào vị trí của miệng côn trùng ta có thể chia ra 3 kiểu đầu như sau: + Đầu miệng dưới: Là kiểu đầu phổ biến nhất với miệng nằm phía dưới đầu, trục dọc của đầu (mắt-miệng) gần như vuông góc với trục dọc cơ thể. Kiểu này thường gặp ở côn trùng miệng gặm nhai như châu chấu, dế mèn, xén tóc (Hình 1B). + Đầu miệng trước: Miệng nhô ra phía trước, trục dọc của đầu cùng thẳng hàng hoặc song song trên mặt phẳng nằm ngang với trục dọc của mình sâu. Kiểu này thường gặp ở một số loài côn trùng như họ vòi voi (Curculionidae), mối lính (bộ Isoptera) (Hình 1 A). + Đầu miệng sau: Miệng kéo dài ra về phía mặt bụng, trục dọc của đầu với trục dọc của mình sâu tạo thành một góc nhọn, thường gặp ở ve sầu (họ Cicadidae), bọ xít (họ Pentatomidae), bọ rầy (họ Jassidae), rệp muội (họ Aphididae). (Hình 1C). 6
  7. 2.1.3 Các phần phụ của đầu (Râu và miệng) 2.1.3.1 Râu đầu và các dạng râu: Hầu hết các loài đều có một số đôi râu đầu mọc giữa hai mắt kép thuộc khu trán., có thể cử động được. Râu đầu côn trùng có kích thươc, hình dạng rất khác nhau tuỳ loài, song về cơ bản đều có cấu tạo giống nhau. - Cấu tạo cơ bản của râu đầu: Chân râu, cuống râu và roi râu + Chân râu: là đốt gốc của râu, mọc từ ổ chân râu, có hình dạng to, thô và ngắn hơn các đốt khác, bên trong có cơ thịt điều khiển hoạt động. + Cuống râu: là đốt thứ 2 của râu, thường ngắn nhất và cũng có cơ điều khiển + Roi râu là phần tiếp sau cuống râu, được chia làm nhiều đốt nhỏ, hình dạng thay đổi tuỳ theo loài côn trùng, không có cơ điều khiển hoạt động. - Chức năng của râu đầu: Là cơ quan xúc giác, khứu giác và 1 số chức năng khác như là cơ quan thính giác làm nhiệm vụ tìm kiếm, báo hiệu cho nhau. Ví dụ: + Chức năng thính giác như muỗi đực + Chức năng khứu giác như râu đầu của ngài sâu róm chè, bọ hung, ruồi 7
  8. + Một số chức năng khác: Niềng niễng dùng râu để bắt mồi, ban miêu dùng râu quặp con cái khi giao phối, râu đầu có tác dụng cân bằng khi bơi của loại bọ bơi ngửa (Notonecta) - Các dạng râu đầu: (Nói qua) Hình dạng râu đầu của côn trùng khác nhau tuỳ theo loài côn trùng, giới tính. Có thể phân chia các dạng hình râu đầu chính như sau: + Râu sợi chỉ:Ví dụ: Râu đầu của châu chấu + Râu lông cứng: Ví dụ: Râu của chuồn chuồn, ve sầu, bộ rầy xanh + Râu chuỗi hạt: Ví dụ: Râu đầu mối thợ, họ chân dệt + Râu răng cưa: Râu ban miêu đực, đom đóm + Râu đầu gối: Râu của kiến, ong + Râu dùi đục: Râu đầu của bướm. + Râu hình lá lợp: bọ hung. + Râu lông nhỏ (Râu ruồi): Ruồi nhà. + Râu cầu lông: Râu đầu của muỗi đực + Râu răng lược kép: Râu của ngài đực sâu róm hại chè. + Râu hình chuỳ: Ví dụ: Râu đầu của ve sầu, bướm, muội nâu 2.1.3.2 Miệng  Cấu tạo của miệng: Căn cứ vào tính ăn của côn trùng chia ra 2 kiểu miệng chính: Miệng gặm nhai và miệng hút. Miệng gặm nhai là loại hình nguyên thuỷ và các loại miệng khác do miệng gặm nhai biến hoá thành. Miệng gặm nhai: là kiểu miệng ăn các thức ăn động, thực vật dạng thể rắn. Ví dụ: cào cào, chấu chấu, chuồn chuồn 8
  9. - Cấu tạo miệng nhai: Gồm 5 phần: Môi trên, đôi hàm trên, đôi hàm dưới, môi dưới và lưỡi. + Môi trên: là một mảnh cứng, cử động được để đậy kín mặt trước miệng côn trùng. + Hàm trên: là đôi xương cứng nằm ngay phía dưới môi trên và được chia làm hai phần: phía trước hàm là răng cắn, phía sau hàm là răng nhai. Răng nhai thô và to, dùng để nghiền nát thức ăn. + Hàm dưới: Là đôi xương cứng nằm phía dưới hàm trên. Hàm dưới gồm 5 phần: Đốt chân hàm, đốt thân hàm, lá trong hàm, lá ngoài hàm, râu hàm dưới. Râu hàm dưới có 1-5 đốt dùng để nếm hoặc ngửi thức ăn + Môi dưới: chia làm 5 phần: cằm sau, cằm trước, lá giữa môi, lá cạnh môi và đôi râu môi dưới. + Lưỡi: là phần u lồi nằm giữa hàm trên và hàm dưới. Lưỡi không phải là phần phụ của đầu nhưng cũng tham gia cấu tạo miệng. Miệng hút: Là kiểu miệng ăn các thức ăn động, thực vật ở thể lỏng Đặc điểm chung là các chi phụ đều kéo dài thành dạng ngòi châm để lấy thức ăn ở dạng lỏng. Có nhiều kiểu miệng hút khác nhau: Kiểu miệng hút biến dạng thành miệng gặm hút ở ong, miệng chích hút ở rầy, bọ xít, miệng liếm hút ở ruồi, miệng hút ở các loài bướm, miệng giũa hút ở bọ trĩ, cứa liếm ở ruồi trâu. - Miệng gặm hút: như ở ong. Đặc điểm cơ bản của kiểu miệng này là hàm trên, môi trên còn giữ theo kiểu miệng nhai; hàm dưới, môi dưới kéo dài ra. 9
  10. - Miệng chích hút: Thường gặp ở côn trùng bộ cánh đều Homoptera như rầy, rệp muội; bộ cánh nửa như bọ xít hoặc bộ hai cánh như các loài muỗi. - Miệng giũa hút: Bọ trĩ - Miệng liếm hút: Ruồi nhà. - Miệng cứa liếm: Ruồi trâu  Ý nghĩa của việc n.cứu miệng côn trùng trong công tác phòng trừ sâu hại Từ triệu chứng hại ta có thể loại chọn các loại thuốc như; + Với sâu miệng nhai dùng thuốc có tác dụng tiếp xúc, xông hơi, nội hấp, vị độc. + Với sâu miệng chích hút dùng thuốc nội hấp là có tác dụng nhất và có thể dùng kết hợp các loại thuốc trên. Ví dụ dùng thuốc Bi58 trừ rầy xanh hại chè. 2.2. Ngực và các phần phụ của ngực 2.2.1 Cấu tạo của ngực Ngực côn trùng là trung tâm của sự vận động. Ngực chia làm 3 đốt: Đốt ngực trước, đốt ngực giữa và đốt ngực sau, mỗi đốt mang một đôi chân. Hai bên về phía lưng của đốt ngực giữa và ngực sau còn có hai đôi cánh. Đôi cánh ở ngực giữa gọi là cánh trước, đôi cánh ở ngực sau gọi là cánh sau Mỗi đốt ngực được cấu tạo bởi 4 mảnh: 1 mảnh lưng, 2 mảnh bên và 1mảnh bụng. 2.2.2. Phần phụ của ngực (Chân và cánh) 2.2.2.1. Chân ngực 10
  11.  Cấu tạo: Chân ngực gồm 6 đốt gồm: Đốt chậu, đốt chuyển, đốt đùi, đốt chày (đốt ống), đốt bàn chân và đốt cuối bàn (còn gọi là móng hoặc vuốt). Các đốt được nối với nhau bởi các phần bằng chất màng (Hình 2). + Đốt chậu: Thường to, thô, ngắn hơn đốt khác, có hình trụ hoặc hình chóp đảo ngược. + Đốt chuyển: Thường ngắn, hẹp (một số loài như chuồn chuồn đốt chuyển gồm 2 đốt gắn chặt vào nhau). + Đốt đùi: To và mập hơn các đốt khác. Đốt này có nhiều bắp thịt. + Đốt chày (đốt ống) : Thường dài, mảnh, hai bên có hàng gai, cuối đốt có khi có cựa cử động được. + Đốt bàn chân: gồm 2-5 đốt nhỏ, giữa các đốt nối với nhau bằng màng mỏng, mặt bụng đốt bàn chân có thể có đệm mịn. + Đốt cuối bàn thường có 2 móng (hoặc vuốt) cử động được. Hình 3: Các kiểu chân A - Chân bò ; B - Chân nhẩy ; C - Chân bắt mồi ; D - Chân đào bới ; E - Chân bơi; F - Chân kẹp leo; G - Chân bám hút ; H - Chân lấy phấn Chân ngực của côn trùng phần lớn dùng để đậu, bám hoặc đi lại nhưng do hoàn cảnh sinh sống khác nhau (trong nước, đất ) hoặc do 11
  12. tập quán sống khác nhau (bắt mồi, lấy phấn ) mà hình dáng, kích thước của chân ngực có những biến dạng cho phù hợp. Chân ngực sâu non nói chung cũng có cấu tạo tương tự chân ngực sâu trưởng thành, chỉ khác là đốt bàn chân thường có 1 đốt, đốt cuối bàn có 1 móng, màng nối giữa các đốt chân tương đối rõ ràng hơn.  Các dạng chân ngực: (Đọc sgk) 2.2.2.2. Cánh côn trùng Cánh được hình thành do da 2 bên của mảnh lưng ngực phát triển kéo dài ra Cánh có cấu tạo bằng da dẹp, mỏng hình tam giác. Trên cánh có nhiều mạch cánh (còn gọi là gân cánh) có tác dụng làm giá chống đỡ, trong gân có mạch máu, dây thần kinh và khí quản. Gân cánh có gân dọc và gân ngang, gân dọc là gân chạy từ gốc cánh theo chiều dọc của cánh ra mép cánh. Gân ngang là gân ngắn nối liền giữa hai gân dọc. Cánh côn trùng có các nếp gấp để chia cánh ra làm 4 khu và 3 góc (hình 4) + Khu chính cánh + Góc vai + Khu nách + Góc đỉnh + Khu mông + Góc mông + Khu đuôi Hình 4: Sơ đồ cấu tạo cánh côn trùng 1. Mép trước, 2. Mép ngoài, 3. Mép sau, 4. Góc vai, 5. Góc đỉnh, 6. Góc mông, 7. Nếp gấp mông, 8. Nếp gấp đuôi, 9. Nếp gấp gốc, 10. Nếp gấp nách, 12
  13. 11. Khu chính cánh, 12. Khu mông, 13. Khu nách, 14. Khu đuôi Cánh côn trùng khi không hoạt động thì xếp bằng hay chếch trên lưng hoặc xếp dựng đứng. Khi bay thì cánh côn trùng dao động từ phía trên xuống dưới và từ phía trước về phía sau. Để thích nghi với phương thức sinh sống khác nhau và mức độ phát triển mà chất cánh có nhiều thay đổi, đây cũng là cơ sở để phân loại côn trùng. + Cánh cứng: cánh trước cứng như sừng, luôn che phủ bảo vệ cánh sau như cánh trước của bọ hung, bọ rùa thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera). + Cánh màng: của chuồn chuồn, ong và phần lớn cánh sau của côn trùng bằng chất màng mỏng, trong suốt hoặc mờ gọi là cánh màng + Cánh da: Thường là cánh trước, cánh này trở lên dày hơn bằng chất sừng gần giống da. Cánh trước của châu chấu, gián. + Cánh nửa cứng: Nửa phía gốc của cặp cánh trước dày, cứng, nửa sau của cánh là phần cánh màng, mềm như cánh trước bọ xít thuộc bộ cánh nửa (Hemiptera). + Cánh vảy: Cấu tạo bằng chất màng mỏng phủ đầy vảy. Cánh của các loài ngài, bướm. 2.3. Bụng và phần phụ của bụng 2.3.1 Cấu tạo Bụng là trung tâm của qúa trình trao đổi chất và sinh dục gồm 5-12 đốt hợp lại, côn trùng cấp cao không vượt quá 10 đốt. Các đốt bụng nối với nhau bằng 1 lớp màng mỏng, đầu của đốt sau lồng vào dưới mép sau 13
  14. của đốt trước. Nhờ đó mà bụng côn trùng có thể kéo dài ra hoặc co ngắn lại khi côn trùng vận động. Hơn nữa, ở mỗi đốt chỉ có mảnh lưng và mảnh bụng hoá cứng, còn 2 mảnh bên là da mềm. Vì vậy bụng côn trùng có thể phồng lên hay xẹp xuống khi hô hấp. 2.3.2 Phần phụ của bụng (Lông đuôi và bộ phận sinh dục ngoài)  Lông đuôi: Là phần phụ của đốt bụng thứ 11 được mọc từ mảnh trên hoặc mảnh bên hậu môn. Lông đuôi nói chung chia đốt, dài, mảnh. Có loài lông đuôi biến thành dạng gọng kìm. Lông đuôi của côn trùng là cơ quan cảm giác.  Bộ phận sinh dục ngoài: Lỗ sinh dục của côn trùng giống cái phần nhiều ở đốt thứ 8 hay thứ 9 của bụng, lỗ sinh dục của giống đực phần nhiều ở giữa đốt thứ 9 và thứ 10 của bụng. Vì vậy chi phụ trên đốt thứ 8 - 9 của bụng côn trùng biến hoá thành bộ phận sinh dục ngoài. * Bộ phận sinh dục ngoài của giống đực: Gồm dương cụ và bộ phận quặp âm cụ con cái (ở 1 số loài côn trùng). + Dương cụ: Có cấu tạo hình ống trong có ống phóng tinh. Dương cụ là bộ phận để đưa tinh trùng vào con cái. + Bộ phận quặp âm cụ: có tác dụng giữ chặt bộ phận sinh dục của con cái khi giao phối. * Bộ phận sinh dục ngoài của giống cái: Là bộ phận đẻ trứng. Đa số côn trùng có 3 đôi phiến đẻ trứng gồm: + 1 đôi phiến đẻ trứng dưới (van đẻ trứng 1) do chi phụ đốt bụng thứ 8 hình thành. 14
  15. + 1 đôi phiến đẻ trứng giữa (van đẻ trứng 2) do chi phụ đốt bụng thứ 9 hình thành. + 1 đôi phiến đẻ trứng trên (van đẻ trứng 3) do chi phụ đốt bụng thứ 9 hình thành. Bộ phận đẻ trứng thường do 2 trong 3 đôi phiến đẻ trứng cấu tạo thành (gọi là ống đẻ trứng). Côn trùng khác nhau có số đôi val đẻ trứng khác nhau. Ví dụ: Chấu chấu có phiến đẻ trứng dưới và trên. Ve sầu, phiến đẻ trứng dưới và đôi phiến đẻ trứng giữa. Đối với các loài ong như ong mật, ong vàng thì nọc độc cuối bụng cũng chính là phiến đẻ trứng dưới và giữa biến hoá thành. Tuy nhiên, cũng không phải tất cả các loài côn trùng đều có ống đẻ trứng như bộ cánh cứng, bộ cánh vảy, bộ hai cánh như bướm, ruồi. Phần phụ của bụng ở giai đoạn sâu non. Điển hình là chân bụng của sâu non bộ cánh vảy và họ ong lá (Tenthredinidae) thuộc bộ cánh màng. Đại bộ phận trên các đốt bụng 3 đến 6 của sâu non bộ cánh vảy đều có 1 đôi chân bụng, trên đốt bụng thứ 10 có 1 đôi chân mông. Chân bụng của sâu non bộ cánh vảy có các đốt: đốt chậu, đốt chậu phụ, đốt bàn và đốt cuối bàn. Trên đốt cuối bàn có những dãy móc câu gọi là móc móng. 2.4. Da và vật phụ của da 2.4.1 Cấu tạo da Lớp men Biểu bì trên Lớp sáp Biểu bì Biểu bì ngoài Lớp Poliphenol Da côn trùng: TB nội bì Biểu bì trong 15
  16. Màng đáy Sơ đồ cấu trúc da côn trùng 2.4.1.1. Lớp biểu bì : Là lớp ngoài cùng của cơ thể côn trùng, không có cấu tạo tế bào, được hình thành bởi các chất tiết ra của tế bào nội bì. - Biểu bì da côn trùng lại được chia làm 3 lớp nhỏ: * Biểu bì trên: Là lớp ngoài cùng, mỏng nhất, chỉ chiếm 1-7 % độ dày da. Gồm 3 lớp là lớp men, lớp sáp và lớp Poliphenol. Thành phần hoá học của biểu bì trên chủ yếu là Lipoprotein nên lớp này có chức năng là ngăn ngừa nước và chất hoà tan từ ngoài thấm vào cơ thể, đồng thời hạn chế sự thoát hơi nước của cơ thể ra ngoài. * Biểu bì ngoài: Là lớp cứng nhất của da côn trùng do lớp này có chứa kitin kết hợp với loại protein hoá cứng (sclerotin) theo cấu trúc mạng lưới * Biểu bì trong: Là lớp dày nhất của biểu bì song không cứng như biểu bì ngoài, mà có tính dẻo và đàn hồi. 2.4.1.2. Lớp TB nội bì Là 1 lớp tế bào đơn thường có dạng hình trụ, giữa các tế bào có xen kẽ những tế bào hình thành lông và tế bào hình thành các tuyến. Nhiệm vụ của lớp nội bì: - Tiết ra vật chất để hình thành lớp biểu bì - Tiết ra dịch lột xác để phân huỷ lớp biểu bì trong trước khi côn trùng lột xác, đồng thời hấp thụ lại 1 số chất đã phân giải để tái tạo lớp biểu bì mới. - Sản sinh ra vật chất hàn gắn các vết thương trên da côn trùng 16
  17. - Một số tế bào phân hoá tạo thành các cơ quan cảm giác và các tuyến. 2.4.1.3 Lớp màng đáy Là lớp màng mỏng nằm sát ngay dưới đáy lớp tế bào nội bì và có cấu trúc không định hình. Vi khí quản và đầu mút các dây thần kinh cảm giác phân bố rất nhiều ở đây. 2.4.2. Vật phụ của da và các tuyến (Đọc sách) 2.4.3. Màu sắc da côn trùng - Màu sắc hoá học: Là do các sắc tố quyết định. Da côn trùng có các sắc tố có thể hấp phụ một loại ánh sáng nào đó nó phản xạ lại tạo thành màu sắc hoá học. - Màu sắc vật lý: Do trên da côn trùng có điểm, vết, vân lồi, lõm khi ánh sáng chiếu vào sẽ bị khúc xạ, phản xạ lại tạo ra màu sắc khác nhau. - Màu hỗn hợp. * Ý nghĩa của việc nghiên cứu da côn trùng trong công tác phòng trừ sâu hại (Đọc giáo trình) Da côn trùng có tác dụng bảo vệ rất lớn, nó có tác dụng chống đỡ rất tốt với thuốc hoá học. + Côn trùng có da mềm tiếp xúc với thuốc dễ chết hơn da cứng. Khi dùng thuốc cần hoà tan chất béo trong thuốc tiếp xúc để tăng thêm tính thẩm thấu của da, hoặc tăng thêm bột trơ để cọ xát biểu bì làm thuốc dễ xâm nhập vào cơ thể côn trùng. + Cùng một loài côn trùng, tuổi nhỏ da côn trùng dễ thẩm thấu hơn tuổi lớn nên dễ chết hơn. Do vậy khi phun thuốc trừ sâu khi côn trùng ở 17
  18. tuổi nhỏ sẽ hiệu quả hơn. Khi côn trùng lột xác tính thẩm thấu ở da lớn, nên dùng thuốc phòng trừ lúc này là hiệu quả nhất đặc biệt là thuốc tiếp xúc. * Ý nghĩa của mầu sắc da côn trùng đối với đời sống côn trùng. (Đọc giáo trình) CÂU HỎI ÔN TẬP: 1. Khái niệm về côn trùng học, côn trùng ? 2. Vai trò của côn trùng đối với đời sống cây trồng, con người và xã hội ? 3. Những đặc điểm nổi bật nhất của lớp côn trùng ? 4. Cấu tạo đầu và các chi phụ của đầu côn trùng ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu miệng trong công tác phòng trừ sâu hại ? 5. Cấu tạo ngực và các chi phụ của ngực ? 6. Cấu tạo bụng và các chi phụ của bụng ? 7. Đặc điểm cấu tạo da và chức năng sinh học của da côn trùng ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu da trong công tác phòng trừ sâu hại ? 8. Màu sắc da côn trùng ? Ý nghĩa màu sắc da đối với đời sống côn trùng ? CHƯƠNG II. SINH LÝ GIẢI PHẪU CÔN TRÙNG (2 tiết) Sinh lý giải phẫu là môn khoa học nghiên cứu về cấu tạo và hoạt động của các bộ máy bên trong của cơ thể côn trùng. 1. THỂ XOANG VÀ VỊ TRÍ CÁC BỘ MÁY BÊN TRONG (giới thiệu qua) 18
  19. - Thể xoang là khoảng cách do vỏ cơ thể tạo thành và chứa các bộ máy bên trong. Trong xoang có 2 vách mỏng (màng ngăn) dọc cơ thể tạo thành ba phần xoang nhỏ là: Xoang máu lưng, xoang máu bụng và xoang máu quanh ruột (hình 5). Hình 5. Cấu tạo thể xoang (mặt cắt ngang phần bụng) 1. Đường tiêu hóa; 2. Xoang máu lưng; 3. Màng ngăn lưng; 4. Xoang ruột; 5. Màng ngăn bụng ; 6. Xoang máu bụng; 7. Chuỗi thần kinh; 8. Thể mỡ; 9. Tế bào quanh tim; 10. Tuần hoàn (Vẽ theo Snodgrass) - Trong xoang chứa đầy máu và các cơ quan. Bộ máy tuần hoàn là một mạch máu chính nằm ở xoang máu lưng. Bộ máy thần kinh nằm ở xoang máu bụng. Bộ máy tiêu hoá, bài tiết nằm ở giữa xoang ruột, bộ máy sinh dục phân bố ở phía dưới mặt lưng sau ống tiêu hoá. Ngoài ra trong xoang còn chứa thể mỡ là cơ quan dự trữ và bài tiết cùng hệ thống cơ làm cho côn trùng có thể vận động được. 2. CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA BỘ MÁY BÊN TRONG CƠ THỂ CÔN TRÙNG 2.1 Hệ cơ côn trùng 2.1.1. Cấu tạo Cơ phân bố chủ yếu ở: đầu, ngực, cánh và bụng côn trùng. Cơ côn trùng được phân thành 2 nhóm: nhóm cơ vỏ và cơ nội quan. 19
  20. - Cơ vỏ (cơ vách): Là nhóm cơ vận động, một đầu bám vào vách trong của vỏ cơ thể, 1đầu gắn với bộ phận vận động như chân, cánh, hàm, râu Hoặc cả 2 phía gắn với các bắp thịt ở ngực và bụng. Cơ vách chiếm tỷ lệ lớn trong cơ thể. - Cơ nội quan: Là nhóm cơ thuộc các bộ máy bên trong và màng ngăn cơ thể, chiếm tỷ lệ ít hơn cơ vỏ, phân bố dưới dạng các sợi cơ riêng lẻ hoặc thành mạng. Về cấu tạo, cơ gồm nhiều thớ sợi dọc gọi là thớ nguyên, bên trong của thớ nguyên có các phân tử protit sắp xếp không đồng đều hình thành nên khu sáng và tối xen kẽ. Tạo nên các vân ngang. 2.1.2 Đặc tính sinh lý của cơ - Cơ côn trùng có tính hưng phấn và co giãn: Tác động Cơ Hưng phấn TT đầy đủ Lan truyền Co giãn Thời gian tiềm phục Khi một điểm cơ bị tác động bởi 1 kích thích đơn giản, làm cho cơ hưng phấn. Khi hưng phấn đạt đến trạng thái đầy đủ nó được truyền đi khắp cơ thể, lúc đó xuất hiện hiện tượng co giãn cơ. Thời gian từ lúc bị kích thích đến khi có hành động co giãn gọi là thời gian tiềm phục. Nếu chỉ có 1 kích thích đơn giản thì sau khi cơ co vào thì lập tức lại giãn ra. Nếu trong thời gian tiềm phục lại có kích thích tiếp làm cho cường độ co giãn tăng lên thì xuất hiện hiện tượng co giãn phức hợp. 2.1.3. Những phản ứng hoá học xảy ra trong quá trình co giãn cơ thịt Khi cơ co giãn sẽ xảy ra 4 phản ứng như sau: 20
  21. 1. ATP  ADP + H3PO4 cao năng 2. Arginin photphoric  Arginin + H3PO4 cao năng. 3. Glucogen  Axit lactic + năng lượng 4. Axit lactic + O2 CO2 + H2O + năng lượng Trong các phản ứng trên, 3 phản ứng đầu xảy ra trong điều kiền không có oxi. ATP và Arginin photphoric không bị mất đi, nó chỉ chuyển hoá cho nhau và được tổng hợp lại, chỉ có Glucogen bị tiêu hao vì sản sinh ra a. lactic. Số a. lactic sản sinh ra chỉ 20 % oxy hoá tạo ra năng lượng, còn 80 % dùng để tổng hợp lại Glucogen. 2.2 Bộ máy tiêu hoá 2.2.1 Cấu tạo của bộ máy tiêu hoá Bộ máy tiêu hoá của côn trùng là một ống dài nằm dọc theo chiều dài cơ thể và ở giữa thể xoang, bắt đầu từ miệng ở phía đầu và kết thúc là lỗ hậu môn ở đốt cuối bụng. Nó được chia làm 3 phần: Ruột trước, ruột giữa và ruột sau (Hình 6). Hình 6. Sơ đồ cấu tạo bộ máy tiêu hóa côn trùng 1. Khoang miệng ; 2. Hầu ; 3. Thực quản ; 4. Manh tràng ; 5. Diều ; 6. Dạ dày cơ; 7. Ruột thẳng; 8. Lỗ hậu môn; 9. Ruột non và ruột già ; 10. Ống Malpighi. (Vẽ theo Snodgrass ) 21
  22.  Ruột trước: Gồm có miệng, hầu, thực quản, diều, dạ dày cơ (dạ dày trước). - Diều là bộ phận phình to sau thực quản, làm nhiệm vụ cất giữ thức ăn để chuyển dần xuống dạ dày trước hoặc ruột giữa. Đối với côn trùng bộ cánh cứng, cánh thẳng thì thức ăn ở đây được tiêu hoá một phần. - Dạ dày trước là 1 túi cơ, vách cơ dày và có nhiều gờ kitin cứng hình răng, làm nhiệm vụ nghiền nát thức ăn. Đối với côn trùng ăn thức ăn rắn dạ dày trước rất phát triển, côn trùng ăn thức ăn dạng lỏng không phát triển dạ dày này.  Ruột giữa: Là 1 ống dài tương đối đồng đều 1 đầu nối với ruột trước, phía sau nối với ruột sau. Ruột giữa thông với 1 số túi kín ở phía đầu gọi là manh tràng (hay túi thừa) giúp tăng bề mặt tiếp xúc của ruột. Chức năng chính của ruột giữa là tiêu hoá và hấp thụ thức ăn đồng thời đẩy các chất bã xuống ruột sau để thải ra ngoài. Một số men tiêu hoá như sau: - Men Cacbohydraza: phân giải các loại đường đa thành đường đơn dễ tiêu hóa qua thành ruột, gồm các men như Saccaraza, Amilaza, Maltaza Những men này có nhiều trong tuyến nước bọt. Đường đa Cacbohydraza Đường đơn - Men Proteaza: Do các tế bào vách trong của ruột giữa tiết ra. Có tác dụng phân giải protein thành polipeptit, sau đó được phân giải tiếp thành các axit amin. Protein Proteaza Polipeptit Peptidaza axit amin - Men Lipaza: do ruột giữa tiết ra, có tác dụng chuyển hoá lipit thành glixerin và axit béo. Lipit Lipaza glixerin + axit béo 22
  23. Ngoài ra tuỳ theo chế độ ăn, một số loài còn có một số loại men đặc trưng khác như: Triptaza, invectaza enzim tiêu hoá chất sáp, chất sừng.  Ruột sau: Giáp giới giữa ruột giữa và ruột sau là các ống Malpighi. Ruột sau có bao phủ kitin ở vách trong, được chia làm 3 phần: ruột non, ruột già, và ruột thẳng. Ruột sau không có men tiêu hoá nên không làm nhiệm vụ tiêu hoá mà chỉ làm nhiệm vụ thu hồi lại nước ở trong phân trước khi thải ra ngoài. 2.2.2 Quá trình tiêu hoá và hấp thụ thức ăn của côn trùng - Thức ăn khi đưa vào cơ thể không thể sử dụng ngay được mà phải qua nhiều khâu tác dụng cơ học và hoá học mới được hấp thụ vào cơ thể. + Tác động cơ học: Là quá trình nghiền nhỏ thức ăn bằng hàm trên của côn trùng kiểu miệng gặm nhai và sự co bóp của dạ dày trước ở một số côn trùng khác. + Tác động hoá học: Là sự thuỷ phân 3 chất chính trong thức ăn là protit, gluxit, lipit nhờ các men Proteaza, cacbohydraza và lipaza. Các hợp chất cao phân tử được chuyển hoá thành các chất đơn giản, dung dịch thấm qua vách ruột giữa đi nuôi cơ thể. - Tiêu hoá nhờ vi sinh vật cộng sinh: Để tiêu hoá được celluloza Mối cần có tiêm mao trùng Tryxonymphi ký sinh trong ruột. Vi sinh vật này vào cơ thể qua nguồn thức ăn hoặc truyền từ mẹ sang con. - Tiêu hoá ngoài cơ thể: Là hình thức tiêu hoá đặc biệt. Côn trùng tiết men tiêu hoá vào thức ăn để phân giải trước khi hút vào cơ thể. Đây 23
  24. là kiểu tiêu hóa đặc trưng của côn trùng ăn thịt và 1 số loài ăn thực vật. Ví dụ: Ấu trùng bọ rùa, bọ xít, rệp phấn vải, chuồn chuồn cỏ 2.2.4. Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng đối với đời sống côn trùng (Đọc sgk) 2.2.5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu bộ máy tiêu hoá của côn trùng với công tác phòng trừ sâu hại (Đọc sgk) 2.3. Bộ máy bài tiết Ống Malpighi 2.3.1. Cấu tạo và hoạt động của bộ máy bài tiết Thể mỡ  Hệ thống ống Malpighi TB thận - Là những ống nhỏ dài, 1 đầu bịt kín nằm lơ lửng trong xoang máu quanh ruột, 1 đầu thông với ống tiêu hoá chỗ tiếp giáp giữa ruột giữa và ruột sau. Một số loài côn trùng khác nhau, vị trí của ống cũng khác nhau VD: Sâu non bộ cánh vảy đính vào đầu ruột sau, rệp sáp đính vào ruột giữa - Số lượng ống thay đổi tuỳ theo loài côn trùng. Bộ cánh cứng có 4-6 ống, bộ cánh thẳng 30 - 120 ống, cũng có loài không có như họ đuôi kìm, bộ đuôi bật. - Chức năng của ống Malpighi: Hút những chất cặn bã như: + Chất thải của quá trình tiêu hoá + Chất thải của quá trình oxi hoá (CO2, H2O) + Muối của axit uric như urat kali, urat natri, biến đổi thành axit uric kết tinh đổ vào ruột sau thải ra ngoài - Cơ chế hoạt động: KHCO3 CO2 KHCO3 24
  25. NaHCO3 + a.Uric Muối Urat + H2O Malpighi NaHCO3 + H2O + a. uric hấp thụ Xoang máu Dễ tan Khó tan Tích tụ Trong xoang máu luôn xảy ra sự kết hợp giữa các muối cacbonat kali a. (KHCO3) hay muối cacbonat natri a. (NaHCO 3) với axit uric để tạo thành các muối urat (muối urat K hay urat Na) và nước. Sản phẩm tạo thành này được đầu ống Malpighi hấp thụ và vận chuyển dần về phía chân ống, chúng kết hợp với cacbonic (CO2) để tạo thành các muối KHCO3 và NaHCO3, nước và a. uric. Trong đó các muối KHCO 3 và NaHCO3 dễ hoà tan trong nước, được tế bào chân ống Malpighi hấp thụ trở lại xoang máu, còn axit uric khó hoà tan nên được tích tụ lại ở chân ống Malpighi đến 1 lượng đủ lớn để thải ra ngoài.  Thể mỡ: - Vị trí: Nằm dưới da, xung quanh ống tiêu hoá - Chức năng: Dự trữ năng lượng và bài tiết (Thể mở không trực tiếp đưa chất cặn bã ra ngoài như ống Malpighi mà tích luỹ dưới dạng tinh thể và chuyển dần cho ống Malpighi thải ra ngoài).  Tế bào thận - Vị trí: Phân bố rải rác trong cơ thể đặc biệt phân bố nhiều xung quanh mạch máu lưng 25
  26. - Chức năng: Tế bào thận hấp thụ các chất cặn bã trong máu (NH3, protein, diệp lục ) và phân giải chúng rồi chuyển cho ống Malpighi để thải ra ngoài. 2.4. Bộ máy tuần hoàn 2.4.1. Cấu tạo và hoạt động của bộ máy tuần hoàn - Tuần hoàn của côn trùng là tuần hoàn hở, máu tràn ngập khắp trong xoang cơ thể, trong khe hở giữa các cơ quan. Chỉ một phần máu lưu thông trong 1 mạch máu duy nhất gọi là mạch máu lưng. Mạch máu lưng nằm ở xoang lưng gồm 2 phần: Chuỗi tim và động mạch chủ. + Chuỗi tim: Là hệ thống các buồng tim nối tiếp nhau, bắt đầu từ đốt bụng cuối cùng đến đốt bụng thứ 2. Đa số côn trùng có 9 tim. Mỗi tim có lỗ ở phía trước và phía sau, qua lỗ này máu từ xoang cơ thể được hút vào buồng tim; 2 van tim ở hai bên (Hình 8). + Động mạch chủ: Là 1 ống thẳng tiếp nối với chuỗi tim, bắt đầu từ đốt bụng thứ nhất và kết thúc ở phía trong đầu. Chức năng là dẫn máu được bơm từ chuỗi tim ra phía trước. Hình 8. Cấu tạo bộ máy tuần hoàn A - Buồng tim và vị trí van tim B - Bộ máy tuần hoàn dế dũi 1. Van tim ; 2. Lỗ tim ; 3. Động 26
  27. mạch 4. Buồng tim ; 5. Cơ tim * Hoạt động: Hoạt động được thực hiện qua hiện tượng co bóp buồng tim của các vách ngăn ở mỗi buồng tim. - Khi tim phình ra (tim trương), lỗ tim trước đóng lại, lỗ tim sau và 2 val tim mở ra. Máu từ tim sau và hai bên xoang máu dồn vào. - Khi tim bóp lại (tim thu), lỗ tim trước mở ra, tim sau và 2 val tim đóng lại, máu được đẩy dồn lên tim trước. Cứ như vậy máu được được dồn từ bụng lên đầu. Từ đầu máu chảy xuyên qua các xoang đi khắp cơ thể sau đó lại chảy về tim. 2.4.3 Máu của côn trùng (Đọc sgk) * Cấu tạo máu: Đọc giáo trình * Chức năng của máu: Chức năng máu rất đa dạng - Vận chuyển chất dinh dưỡng đi nuôi cơ thể - Vận chuyển các chất cặn bã từ các bộ phận thải đến cơ quan bài tiết để thải ra ngoài - Máu có chức năng bảo vệ nhờ sự hoạt động của các thực bào - Máu tham gia vào hàn gắn vết thương trên bề mặt cơ thể - Máu là chất hoãn sung để giữ cơ thể côn trùng có q áp suất thẩm thấu nhất định . 2.5. Bộ máy hô hấp 2.5.1. Cấu tạo và họt động của bộ máy hô hấp Khí quản Vi khí quản Bộ máy hô hấp Lỗ thở Côn trùng gồm 1 mạng lưới ống dẫn khí nằm rải rác khắp cơ thể gọi là ống khí quản. Ống khí quản liên hệ trực tiếp với bên ngoài qua lỗ 27
  28. thở và thông với tất cả các mô tế bào qua mạng lưới ống vi khí quản. Những ống có đường kính từ gọi là khí quản. Những ống có đường kính gọi là vi khí quản. Ở một số loài côn trùng có đoạn ống vi khí quản phình to gọi là túi khí (Hình 7). Hình 7. Sơ đồ cấu tạo ống khí quản A- Sơ đồ phân nhánh ống khí quản ; B- Cấu tạo ống khí quản 1. Lỗ thở; 2. Da côn trùng; 3. Tế bào biểu mô; 4,10. Lớp intima; 5. Ống vi khí quản; 6. Ống khí quản chính ; 7. Khí quản và nhánh khí quản; 8. Nhánh khí quản; 9. Vùng tế bào hình sao của vi khí quản ; 11. Vòng xoắn tacnidia (Vẽ theo Wigglesworth) Khí quản: có nguồn gốc do tầng phôi ngoài và có cấu tạo giống da côn trùng. Mặt trong có gờ xoắn ốc hóa kitin nhờ đó làm cho khí quản không bị bẹp khi vận động. Khí quản có kích thước 2-5 m Vi khí quản: Là những ống nhỏ, có kích thước ≤ 1 m đi vào từng tế bào của cơ thể côn trùng. Chúng không có cấu tạo kitin và gờ xoắn ốc như khí quản. Trong vi khí quản chứa đầy huyết dịch để đảm bảo cho quá trình trao đổi khí dễ dàng. 28
  29.  Lỗ thở: Phân bố dọc hai bên sườn mỗi đốt cơ thể trừ đốt đầu, đốt ngực trước và đốt cuối cùng của bụng là không có lỗ thở. Số lỗ thở tuỳ thuộc vào loài côn trùng. Keilin (1944) chia ra 3 loại chính: + Loại nhiều lỗ thở: Có ít nhất 8 đôi lỗ thở + Loại ít lỗ thở: Có ít nhất 1-2 đôi + Loại không có lỗ thở: Là loài hoặc là hoàn toàn không có lỗ thở hoặc có lỗ thở nhưng đã bị bịt kín không hoạt động được. 2.5.3. Hoạt động của bộ máy hô hấp * Hô hấp bằng khí quản:Là quá trình hút khí O2 và thải CO2 * Các phương thức hô hấp khác: - Hô hấp bằng da: Là phương thức hô hấp điển hình của những loài côn trùng không có hệ thống khí quản: Ví dụ: Ruồi - Hô hấp bằng mang: Điển hình là loài côn trùng sống dưới nước. Ví dụ: Niềng niễng, bọ xít nước - Hô hấp của côn trùng sống ký sinh: Lấy O2 qua đường hô hấp của vật chủ. Ví dụ: ruồi, ong ký sinh có ống thở hình móc câu xuyên qua lớp da ký chủ để lấy không khí bên ngoài, có loài ống thở vươn đến khí quản của ký chủ để lấy oxy. 2.5.4. Ý nghĩa việc nghiên cứu bộ máy hô hấp của côn trùng trong công tác phòng trừ sâu hại - Hô hấp là quá trình hút O2 và thải CO2. Trong phòng trừ sâu hại ta ức chế được 1 trong 2 yếu tố này thì côn trùng sẽ chết - Côn trùng có hệ thống khí quản dày đặc, rất thuận lợi cho việc dùng các loại thuốc hơi độc để phòng trừ. Trước hết tìm các loại thuốc có tác dụng bịt kín lỗ thở hoặc phá vỡ vách khí quản, vi khí quản hoặc hoà 29
  30. tan chất béo của các mô côn trùng (ví dụ. các nhóm dầu nhờn hoặc dầu hỏa). Các loại thuốc xông hơi có tác dụng gây rối loạn quá trình hô hấp của côn trùng, côn trùng sẽ bị chết. 2.6. Bộ máy thần kinh 2.6.1. Cấu tạo và hoạt động của bộ máy thần kinh - Bộ máy thần kinh côn trùng được chia làm 3 hệ: + Hệ thần kinh trung ương + Hệ thần kinh giao cảm + Hệ thần kinh ngoại vi Những hệ thần kinh này đều do thần kinh nguyên và hạch thần kinh cấu tạo nên. Căn cứ vào chức năng của thần kinh nguyên chia làm 3 loại: Thần kinh nguyên cảm giác, thần kinh nguyên vận động và thần kinh nguyên liên hệ. + Thần kinh nguyên cảm giác năm ngoài hệ TK trung ương, làm nhiệm vụ dẫn truyền xung động thần kinh từ cơ quan cảm giác về thần kinh trung ương. + Thần kinh nguyên vận động nằm ở hệ thần kinh trung ương làm nhiệm vụ dẫn truyền xung động thần kinh từ hệ thần kinh trung ương đến các cơ quan cảm ứng. + Thần kinh nguyên liên hệ làm nhiệm vụ dẫn truyền các xung động TK từ thần kinh nguyên này đến thần kinh nguyên kia. Tập hợp của nhiều tế bào thần kinh nguyên cảm giác, vận động và liên hệ là hạch thần kinh Não trước 2.6.1.1. Hệ thần kinh trung ương Hạch não Não giữa 30
  31. Thần kinh TW gồm 3 nhóm hạch TK: Hạch TK dưới hầu Não sau Chuỗi TK bụng - Não trước: Phát triển hơn cả, là trung tâm điều khiền của mắt - Não giữa: Phân nhánh tới râu, là trung tâm điều khiển hoạt động của râu đầu - Não sau: Điều khiển hoạt động của môi trên và là nơi xuất phát của thần kinh phản hồi. - Hạch thần kinh dưới hầu: chi phối hoạt động của bộ phận miệng và phần trước của ống tiêu hoá. - Chuỗi hạch thần kinh bụng: là 1 chuỗi các đôi hạch thần kinh gồm 3 đôi hạch thần kinh ngực và 8 đôi hạch thần kinh bụng. Các đôi hạch ngực điều khiển hoạt động của chân và cánh, các đôi hạch bụng điều khiển sự đóng mở của các lỗ thở, bộ phận sinh dục ngoài và lông đuôi. 2.6.1.2. Hệ thần kinh giao cảm Thần kinh giao cảm chi phối hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể và hệ cơ, được chia thành 3 phần chính: Miệng - dạ dày Phần bụng Phần đuôi - Phần miệng – dạ dày: Điều khiển hoạt động của môi trên, ruột trước, tim, động mạch và động tác nuốt của 1 số loài côn trùng. - Phần bụng: Điều khiển hoạt động của cơ và cánh côn trùng - Phần đuôi: Điều khiển hoạt động của ruột sau và bộ máy sinh dục côn trùng. 2.6.1.3. Hệ thần kinh ngoại vi 31
  32. Hệ thần kinh ngoại vi nằm ở phía ngoài, gồm ngọn của các thần kinh nguyên cảm giác. Nhờ có thần kinh ngoại vi mà thần kinh trung ương, thần kinh giao cảm liên hệ được với các cơ quan khác. 2.6.2. Hưng phấn và kìm hãm ở côn trùng (Đọc giáo trình) 2.6.3. Hành vi của côn trùng - Khái niệm: Tất cả mọi hoạt động trả lời lại kích thích của ngoại cảnh gọi là hành vi. Hành vi của côn trùng bao gồm các hoạt động phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện, trong đó phản xạ không điều kiện là chủ yếu. * Phản xạ không điều kiện: Là phản xạ có tính chất bẩm sinh, truyền từ đời này sang đời khác. Là cơ sở cho mọi hoạt động của côn trùng. Phản xạ không điều kiện thay đổi tuỳ theo bộ, họ, loài côn trùng. Chia ra làm 3 loại: Phản xạ đơn giản, xu tính và bản năng. - Phản xạ đơn giản: Côn trùng không phân biệt được nguồn kích thích mà lập tức có phản ứng trả lời lại ngay. Ví dụ: phản xạ giả chết của sâu tơ hại rau, bọ xít và bọ cánh cứng. - Xu tính: Là tính thích của côn trùng. Côn trùng thường hướng đến những kích thích có lợi cho nó, gọi là xu tính dương (xu tính thuận) và lánh xa những kích thích nào không có lợi, gọi là xu tính âm (xu tính nghịch). Dựa vào tính chất của nguồn kích thích người ta chia ra các loại xu tính của côn trùng: Xu tính với ánh, nhiệt độ, đất, nước, ẩm, hoá chất / bẫy bả. - Bản năng: Là phản xạ bẩm sinh, là một chuỗi phản xạ không điều kiện xảy ra theo một trình tự nhất định, phản xạ trước là tiền đề cho phản xạ sau. Bản năng là một phản xạ phức tạp gồm nhiều khâu, nếu bỏ qua một khâu nào thì phản xạ đó không thực hiện được. 32
  33. Ví dụ: Tò vò bắt mồi mang về tổ làm thức ăn: Tìm kiếm con mồi, châm vào hạch thần kinh bụng cho con mồi tê liệt, kẹp vào râu con mồi để đưa về tổ. Nếu ta cắt râu con mồi thì tò vò lại đi tìm kiếm con mồi khác. * Phản xạ có điều kiện: Là phản xạ được hình thành trong quá trình sống và có thể bị mất đi. Ví dụ: Loài gián Blatella germanica L. ưa bóng tối, sợ ánh sáng nên hoạt động về đêm. Thí nghiệm: Dùng hộp 2 ngăn: 1 tối, 1 có ánh sáng. Theo bản năng loài gián sẽ tập trung ở ngăn tối. Nếu trong ngăn tối đặt 1 dòng điện, gián từ ngăn tối chạy sang ngăn sáng. Cuối cùng gián chạy sang ngăn có ánh sáng ngay cả khi bỏ dòng điện ra khỏi hộp ở ngăn tối. 2.7. Cơ quan sinh dục của côn trùng 2.7.1. Cơ quan sinh dục đực Hình 9: Sơ đồ cấu tạo bộ máy Hình 10: Sơ đồ cấu tạo bộ máy sinh dục đực sinh dục cái 1. Tinh hoàn ; 2. Ống dẫn tinh ; 1.Dây treo; 2.Buồng trứng;3.Tyến 3. Túi chứa tinh ; 4. Ống phóng túi cất tinh; tinh; 4. Túi cất tinh; 5. Tuyến phụ ; 6. 5. Thân dương cụ ; 6. Lỗ sinh dục Lỗ sinh dục ; (Vẽ theo Snodgrass) 7. Xoang sinh dục; 8. Ống phóng 33
  34. trứng; 9. Ống dẫn trứng (Vẽ theo Snodgrass) + Đôi tuyến tinh hoàn (hình cầu, trứng, thận). Mỗi tinh hoàn gồm nhiều ống tinh (hình ống) + Đôi ống dẫn tinh (có bộ phận phình to gọi là túi chứa tinh) + Một ống phóng tinh (có cơ vòng hoạt động làm cho ống co giãn) + Đôi tuyến phụ sinh dục đực + Phần phụ sinh dục, ống phóng tinh đưa tinh trùng vào bộ phận giao cấu. - Mỗi tinh hoàn gồm nhiều ống tinh, ở đây các tế bào sinh dục đực nguyên thủy phát triển thành tinh trùng. Sau khi được hình thành, tinh trùng từ mỗi ống tinh vào ống dẫn tinh và được tích trữ ở túi chứa tinh. Ở đây tinh trùng sẽ được đổ vào ống phóng tinh cùng với tinh dịch do tuyến phụ sinh dục tiết ra. Tại đây nhờ sự co thắt của lớp cơ vòng bao quanh tiết diện của ống phóng tinh, tinh trùng cùng với tinh dịch được đẩy vào dương cụ rồi phóng ra ngoài qua lỗ sinh dục đực - Tuyến sinh dục ngoài việc tiết tinh dịch để hòa loãng và tạo môi trường vận động cho tinh trùng, ở một số loài chúng còn sản sinh 1 chất keo đặc biệt để tạo ra những nang nhỏ chứa tinh trùng bên trong gọi là tinh cầu. Khi giao phối con đực không phóng tinh theo cách thông thường mà đặt tinh cầu vào lỗ sinh dục con cái, sau đó tinh trùng sẽ tự chui ra khỏi tinh cầu và bơi vào túi cất tinh của con cái. Hiện tượng thụ tinh này thường thấy ở sát sành, dế mèn, châu chấu. 2.7.3 Cơ quan sinh dục cái + Đôi buồng trứng: Gồm nhiều ống trứng, là nơi hình thành trứng (2-2.500). 34
  35. + Đôi ống dẫn trứng + Một ống phóng trứng + Đôi tuyến phụ sinh dục cái (tuyến dính) tiết chất dính trứng vào giá thể và tiết chất bọc trứng thành ổ. + Phần phụ sinh dục cái gồm túi trữ tinh và tuyến phụ + Đôi buồng trứng: Có từ 2-2.500 ống trứng, là nơi hình thành trứng. + Đôi ống dẫn trứng, một ống phóng trứng + Đôi tuyến phụ sinh dục cái (tuyến dính) tiết chất dính trứng vào giá thể và tiết chất bọc trứng thành ổ. + Phần phụ sinh dục cái gồm túi trữ tinh và tuyến phụ - Mỗi buồng trứng gồm nhiều ống trứng tạo thành. Vách trong của ống trứng có thể hút chất dinh dưỡng để nuôi tế bào trứng. Trứng sau khi đã hấp thu đầy đủ dinh dưỡng thì phát triển hoàn toàn, đó là trứng chín. Chúng từ ống dẫn trứng riêng đến ống dẫn trứng chung, chuyển qua âm đạo để đẻ ra ngoài qua lỗ sinh dục cái. Trên ống sinh dục của con cái có 1 đôi tuyến phụ thông với âm đạo. Tuyến này tiết chất keo dính để gắn chắc trứng vào nơi đẻ, làm lớp màng bảo vệ hoặc thành bọc chứa trứng bên trong. Ví dụ. ngài của sâu đục thân lúa 2 chấm, bọc trứng gián, bọ ngựa. Một số loài có thời gian sinh sản kéo dài nhưng chỉ giao phối 1 lần duy nhất như ong chúa, mối chúa, kiến chúa bộ máy sin sản có cấu tạo đặc biệt gọi là túi cất tinh, túi này thông với âm đạo để tiếp nhận và cất trữ tinh trùng. Mỗi lần đẻ, khi trứng qua âm đạo, tinh trùng từ túi cất tinh sẽ di chuyển ra để thụ tinh cho trứng. Trên túi cất tinh có tuyến túi cất tinh, chuyên cung cấp dinh dưỡng để duy trì sức sống cho tinh trùng trong vài ba năm. 35
  36. CHƯƠNG 3. SINH VẬT HỌC CÔN TRÙNG (1 tiết) 1. KHÁI NIỆM Sinh vật học côn trùng là môn khoa học nghiên cứu các phương thức sinh sản, phát dục và đặc tính sinh vật học của côn trùng 2. PHƯƠNG THỨC SINH SẢN CỦA CÔN TRÙNG 36
  37. 2.1. Sinh sản lưỡng tính (Bisexual) Đây là hình thức sinh sản phổ biến nhất ở các loài côn trùng. Các cá thể mang tính đực và các cá thể mang tính cái giao phối với nhau. Trứng được thụ tinh sẽ phát triển thành một cá thể mới. Ví dụ: 2n : Ong cái, n: Ong đực 2.2. Sinh sản đơn tính (Parthenogenesis) Đây là hình thức sinh sản không qua thụ tinh, trứng của con cái đẻ ra không qua thụ tinh nhưng vẫn có thể phát dục được. Từ trứng không được thụ tinh phát triển cho toàn con đực như ở nhện đỏ, cho toàn con cái như ở rệp sáp hoặc cho cả cá thể đực và cái như ở rệp muội họ Aphididae. 2.3. Hiện tượng đực cái cùng cơ thể (Hermaphrodite) Một số loài côn trùng trong cơ thể mang cả tính đực và tính cái, ví dụ rệp sáp xơ hại cam (Icerya purchassi M.) trong quần thể có 90 – 99 % cá thể có hiện tượng đực cái cùng cơ thể, chỉ có 1-10 % cá thể đực, không có cá thể nào có tính cái hoàn chỉnh. 2.4. Sinh sản thời kỳ sâu non (Paedogenesis) Đây là hình thức sinh sản đặc biệt và hiếm thấy, ví dụ: họ muỗi năn (Cecidomyidae), muỗi chỉ hồng (Chironomidae) thuộc bộ hai cánh (Diptera) Buồng trứng ở thời kỳ sâu non đã chín và không cần qua thụ tinh phát dục thành sâu non. Sâu non phát dục trong cơ thể mẹ được nuôi dưỡng bằng chất dinh dưỡng trong cơ thể sâu mẹ, sau khi hoàn thành giai đoạn phát dục thì sâu non đục thủng cơ thể mẹ chui ra và tiếp tục phương thức sinh sản của sâu mẹ. 2.5. Sinh sản nhiều phôi (Polygenesis) 37
  38. Từ một trứng do kết quả phân cắt của tế bào tạo ra nhiều phôi, số lượng phôi khác nhau tuỳ theo loài côn trùng, ít nhất là 2 nhiều nhất có thể tới 3000. Hình thức sinh sản này thường gặp ở những loài ong ký sinh như họ ong nhỏ (Chalcidae), ong kén nhỏ (Braconidae) và ong cự (Ichneumonidae) 2.6. Hiện tượng thai sinh Là phương thức sinh sản mà trứng nở ra trong cơ thể mẹ rồi đẻ sâu non trực tiếp ra ngoài. Hiện tượng này thường gặp ở côn trùng họ rệp muội (Aphididae), ruồi ký sinh (Tachinidae), ruồi nhà (Muscidae) 3. ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC TRONG TỪNG PHA PHÁT DỤC CỦA CÔN TRÙNG (Đọc giáo trình) 4. BIẾN THÁI CỦA CÔN TRÙNG 4.1. Biến thái không hoàn toàn - Là biến thái mà quá trình phát dục cá thể trải qua 3 giai đoạn: Trứng – sâu non – trưởng thành. Thường gặp ở bộ cánh thẳng (cào cào, châu chấu), bộ cánh nửa (bọ xít dài hại lúa, bọ xít muỗi hại chè). - Đặc điểm: Hình thái của các loại sâu non và trưởng thành hoàn toàn giống nhau, chỉ khác nhau về kích thước, mức độ phát dục của cơ quan sinh dục và mức độ phát triển mầm cánh. 4.2. Biến thái hoàn toàn Là loại biến thái mà quá trình phát dục cơ thể trải qua 4 giai đoạn: Trứng sâu non – nhộng – trưởng thành. 38
  39. - Đặc điểm của biến thái này là hình thái bên ngoài và cấu tạo bên trong của sâu non và trưởng thành hoàn toàn khác nhau. Ví dụ: Sâu đục thân lúa, sâu cắn gié, sâu cuốn lá, sâu xám hại ngô, ong, kiến 5. QUAN HỆ GIỮA CÁC LOÀI CÔN TRÙNG - Quan hệ cộng sinh: Điển hình là quan hệ giữa kiến và rệp. Rệp hút dịch cây, tiết ra chất đường mà kiến ưu thích. Kiến đến nơi có rệp để sử dụng các chất đường mà rệp thải ra làm thức ăn, đồng thời bảo vệ rệp khi bị kẻ thù tấn công. Mùa đông, kiến còn mang rệp vào tổ của mình để chống rét. - Quan hệ nô lệ: Điển hình là quan hệ giữa kiến Formica Sanguine và kiến Formica pusca. - Quan hệ kí sinh: Ký sinh trứng, ký sinh sâu non. 6. HIỆN TƯỢNG NGỪNG PHÁT DỤC Ngừng phát dục của côn trùng là hiện tượng khi côn trùng gặp những điều kiện ngoại cảnh bất lợi là nhiệt độ quá thấp hoặc nhiệt độ quá cao côn trùng rơi vào trạng thái ngừng phát dục. Trong suốt thời gian ngừng PD côn trùng không ăn, không hoạt động, mọi quá trình trao đổi chất bị ngừng trệ hoặc chỉ tiến hành ở mức độ thấp. Trạng thái ngừng phát dục của côn trùng gồm 3 trạng thái: Ngừng phát dục bắt buộc, ngừng phát dục tự do và hiện tượng hôn mê. - Hôn mê: Là hiện tượng khi côn trùng bị tác dộng đột ngột bởi điều kiện bất lợi thì côn trùng sẽ ngừng hoạt động, sự trao đổi chất bị giảm sút, cường độ trao đổi chất trong trạng thái hôn mê. Đó là trạng thái cơ thể chưa kịp chuẩn bị những điều kiện sinh lý để đối phó với hoàn cảnh xấu. Nếu cường độ tác động của các yếu tố quá mạnh thì trao 39
  40. đổi chất bị tổn thương nghiêm trọng, cơ thể lâu phục hồi trở lại trạng thái ban đầu. - Ngừng phát dục tự do là hiện tượng côn trùng bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh bất lợi và côn trùng đã chủ động thay đổi điều kiện sinh lý để đối phó kịp thời với điều kiện bất lợi đó. Do đó khi điều kiện ngoại cảnh thích hợp trở lại, côn trùng nhanh chóng hồi phục lại trạng thái ban đầu. - Ngừng phát dục bắt buộc: Mang tính chất di truyền và tương đối bền vững. Ở trạng thái này cho dù điều kiện ngoại cảnh có thích hợp trở lại nhưng trạng thái ngừng dục này vẫn tiếp tục một thời gian nhất định mới chấm dứt. 4. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHU KỲ PHÁT TRIỂN CÁ THỂ CỦA CÔN TRÙNG (Đọc giáo trình) 4.1. Vòng đời sâu: Tính từ gđ trứng hay sâu non được đẻ ra cho đến khi sâu trưởng thành đẻ trứng lần đầu tiên 4.2. Đời sâu: tính từ trứng hay sâu non được đẻ ra cho đến lúc sâu trưởng thành chết đi. 4.3. Lứa sâu: Là thời gian hoàn thành tất cả các đời của các cá thể côn trùng cùng xuất hiện trong 1 khoảng thời gian nhất định. thời gian phát dục mỗi giai đoạn của từng cá thể lại khác nhau làm cho lứa này chưa kết thúc thì lứa khác đã bắt đầu. Khoảng thời gian chồng lên nhau đó gọi là gối lứa. CHƯƠNG 4. SINH THÁI HỌC CÔN TRÙNG (1tiết) 1. KHÁI NIỆM 40
  41. Sinh thái học (Ecology), là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố ngoại cảnh đến qui luật phát sinh phát triển, qui luật phân bố, qui luật gây hại của các loài sâu hại và thiên địch của chúng. Các nhân tố ngoại cảnh (sinh thái) bao gồm: - Nhân tố phi sinh vật: Thời tiết, khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng - Nhân tố sinh vật: Thức ăn và thiên địch - Ảnh hưởng của con người 2. ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ PHI SINH VẬT ĐẾN CÔN TRÙNG 2.1. Nhiệt độ - Côn trùng là động vật biến nhiệt nên cơ thể côn trùng luôn xấp xỉ với nhiệt độ môi trường. Khả năng côn trùng thay đổi nhiệt độ nhanh như vậy là do: + Sự bốc hơi nước từ trong cơ thể ra ngoài + Màu sắc của da côn trùng có khả năng hấp thụ và phản xạ lại ánh sáng + Do sự điều tiết cường độ hô hấp to Vùng hơi lạnh O Vùng cực thuận O 1 Vùng hơi nóng T Khởi điểm Ngưỡng Điểm Ngưỡng trên phát dục mắn đẻ cực thuận Khoảng nhiệt độ côn trùng hoạt động - Côn trùng chỉ có thể bắt đầu phát dục tại một điểm nhiệt độ nhất định gọi là khởi điểm phát dục (to) và ngừng lại tại một điểm gọi là 41
  42. ngưỡng trên (T). Vùng giới hạn (to – T) gọi là khoảng nhiệt độ côn trùng hoạt động. 2.1.1. Ảnh hưởng của khoảng nhiệt độ thấp đến côn trùng ( T) Khi nhiệt độ môi trường tăng vượt qua ngưỡng trên T làm cho thần kinh của côn trùng hưng phấn quá mạnh, côn trùng nhanh chóng rơi vào trạng thái ngất lịm do hệ thống men bị rối loạn. Nếu thời gian ngất lịm của côn trùng chưa lâu, nhiệt độ môi trường hạ thấp dần xuống dưới ngưỡng trên T, thì mọi hoạt động sống của côn trùng được hồi phục dần trở lại. Ngược lại, nếu nhiệt độ môi trường tăng dần lên, làm cho các hợp chất protein trong tế bào bị kết tủa hoặc kết tủa từng phần, hoặc kết tủa hoàn toàn. Trường hợp kết tủa hoàn toàn thì côn trùng chết ngay lập tức, trường hợp kết tủa từng phần và nhiệt độ hạ xuống dưới ngưỡng trên T thì mọi hoạt động sống của côn trùng hồi phục dần trở lại. 2.1.3. Ảnh hưởng của khoảng nhiệt độ côn trùng hoạt động (to- T) Người ta phát hiện ra ngưỡng mắn đẻ O và điểm cực thuận O1. Như vậy to, O, O1, T chia khoảng hoạt động của côn trùng ra làm 3 vùng: 42
  43. Vùng hơi lạnh: to- O ; Vùng cực thuận O - O 1 ; Vùng hơi nóng O1- T + Vùng hơi lạnh (t o- O): Ở vùng này côn trùng vẫn có khả năng sinh trưởng nhưng bất dục do các hợp chất protein mang tính di truyền không hoạt động được. + Vùng cực thuận (O - O 1): Theo chiều tăng của nhiệt độ, tốc độ phát dục và độ mắn đẻ của côn trùng tăng và đạt cực đại ở điểm cực thuận O1. + Vùng hơi nóng (O1- T): Theo chiều tăng của nhiệt độ, tốc độ phát dục, độ mắn đẻ và chiều dài cơ thể giảm. * Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quy luật phát sinh phát triển của côn trùng Mỗi loài côn trùng yêu cầu một phạm vi nhiệt độ nhất định để sinh sống thuận lợi nhất, vì vậy sự phát sinh phát triển của chúng cũng tuân theo một quy định theo yếu tố nhiệt độ. Ví dụ: Sâu xám hại ngô thích hợp nhiệt độ 15 - 20 oC nên ở đồng bằng Bắc bộ hàng năm sâu phá hại vụ đông xuân, còn ở Sapa khí hậu mát mẻ quanh năm nên sâu này có thể phá hại ngay trong cả mùa hè. * Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quy luật phân bố của côn trùng Sự phân bố của côn trùng trong tự nhiên cũng tuân theo một quy luật nhất định đó là những lãnh thổ có điều kiện nhiệt độ thích hợp. Ví dụ, ở nước ta loài sâu gai hại lúa chỉ phân bố và phá hại nặng ở vùng đồng bằng ven biển vì chúng thích hợp nhiệt độ tương đối cao và sự chênh lệch giữa các mùa không lớn. Ngược lại bọ xít lúa ưa nhiệt độ thấp nên chúng chỉ phân bố nhiều ở vùng núi. * Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sức sinh sản của côn trùng 43
  44. Sức sinh sản (độ mắn đẻ và nhịp điệu sinh sản) của côn trùng phụ thuộc rất chặt chẽ vào điều kiện nhiệt độ môi trường. Ví dụ ở sâu cắn gié lúa: sinh sản của ngài cái lớn nhất ở nhiệt độ 19 - 23 oC, sinh sản giảm mạnh ở nhiệt độ 30 oC, ngài cái hoàn toàn không đẻ trứng ở nhiệt độ 35oC. 2.2. Ẩm độ và lượng mưa (Đọc giáo trình) 2.4. Gió (Đọc giáo trình) 2.5. Đất (Đọc giáo trình) 3. ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ SINH VẬT VÀ CON NGƯỜI ĐẾN CÔN TRÙNG 3.1. Thức ăn Căn cứ vào nguồn thức ăn, có thể chia côn trùng thành các nhóm sau đây: * Nhóm ăn thực vật (Phytophaga) Phần lớn côn trùng ăn thực vật là những loài sâu hại, chúng có thể phá hại một bộ phận của cây như lá, thân, rễ, hoa, quả hay nhiều bộ phận trên cây * Nhóm ăn thịt (Zoophaga) Một số loài chuyên đi bắt động vật nhỏ hoặc một số loài côn trùng để ăn thịt như bọ rùa, bọ ngựa, chuồn chuồn Đa số loài côn trùng ăn thịt là những loài có ích trừ một số loài ruồi, muỗi, chấy, rận hút máu cơ thể người và gia súc. * Nhóm ăn phân (Corprophaga) Một số loài bọ hung thuộc các giống Aphodius, Onthophagus là những côn trùng chuyên ăn phân. Sự hoạt động của nhóm côn trùng này góp phần làm cho đất thêm tơi xốp, màu mỡ. 44
  45. * Nhóm ăn xác chết (Necrophaga) Điển hình là bọ cánh cứng thuộc giống Necrophagus và ruồi Lucilia . Với các động vật nhỏ, chúng có thể đùn đất phủ kín sau khi đẻ trứng lên đấy, ấu trùng đẻ ra sẽ tiêu diệt xác động vật này. * Nhóm ăn chất mục nát (Detritophaga) Loài Collembola phân giải rơm, rạ, cây mục nát thành những chất hữu cơ cung cấp cho cây. * Phạm vi thức ăn Căn cứ vào thành phần thức ăn, người ta chia ra: - Côn trùng đơn thực: Chỉ ăn một loài thực vật hoặc động vật nào đấy. + Sâu đục thân lúa 2 chấm + Dòi đục lá đậu tương + Bọ rùa châu âu chỉ ăn rệp hại cam, quýt - Côn trùng quả thực: Chỉ ăn một số loài cây trồng trong cùng một họ. Ví dụ. Sâu xanh bướm trắng chỉ hại một số loài rau thuộc họ thập tự. - Côn trùng đa thực: ăn nhiều loài cây của nhiều họ khác nhau. Ví dụ. Sâu xám hại ngô, ngoài ngô còn hại trên bông, thuốc lá, đậu đỗ. - Côn trùng ăn tạp: Chúng ăn được rất nhiều loại thức ăn có nguồn gốc khác nhau. Ví dụ: Một số loài gián 3.2. Thiên địch: 3.2.1. Nhóm thiên địch là vi sinh vật gây bệnh côn trùng: Vi khuẩn, virus, nấm 3.2.2. Nhóm thiên địch là côn trùng: côn trùng ký sinh trứng, sâu non (ong), ăn thịt (chuồn chuồn, 3.2.3. Các loại thiên địch khác: Chim, cá, cóc, ếch 45
  46. 4. ẢNH HƯỞNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN CÔN TRÙNG (Nhắc qua) Trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên do vô tình hay hữu ý con người đã làm ảnh hưởng đến côn trùng. + Xây dựng khu công nghiệp mới, xây dựng công trình giao thông, thuỷ lợi con người đã làm thay đổi thực bì trên một vùng rộng lớn làm cho nhiều loài côn trùng đang sinh sống tại đó hoặc là bị tiêu diệt hoặc là phải di chuyển đi nơi khác. + Làm phát tán côn trùng gây hại từ vùng này sang vùng khác. Ví dụ. Sâu hồng hại bông đã di chuyển từ Ấn độ sang Châu á, châu Mỹ. + Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách tuỳ tiện, không đúng qui cách đã dẫn đến việc phá vỡ cân bằng sinh học trong tự nhiên làm phát sinh những nòi sâu kháng thuốc gây khó khăn trong việc phòng trừ sâu hại. Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh với những loài sâu hại, con người đã tìm ra được quy luật phát sinh, phát triển của chúng, lợi dụng côn trùng có ích để phòng trừ các loài sâu hại bảo vệ mùa màng. 46
  47. CHƯƠNG 5. PHÂN LOẠI CÔN TRÙNG (0.5 tiết) 1 Khái niệm phân loại côn trùng - Toàn bộ sinh vật chia ra làm 2 giới: Giới động vật và giới thực vật. Từ giới chia ra nhiểu ngành và các cấp tiếp theo, cuối cùng là loài, cụ thể: - Giới (Kingdom): Động vật - Ngành (Phylum): ĐV chân đốt (Arthopoda) Lớp (Class): Côn trùng (Insecta) Bộ (Order): Họ (Family): Giống (Genus) : Loài (Species): 47
  48. 2. Phương pháp đặt tên côn trùng Cách đặt tên côn trùng cũng theo qui định gọi tên của danh pháp động vật quốc tế: Tên khoa học được ghi bằng tiếng La tinh. Năm 1758, nhà bác học người Thuỵ Điển, Linneau đã đã đưa ra phương pháp đặt tên như sau: Tên = Tên giống + tên loài, tên loài phụ (nếu có) + tên tác giả Tên giống viết hoa; Tên loài, loài phụ viết thường; Tên tác giả viết hoa. Tên tác giả có thể viêt tắt hoặc đủ cả tên. Ví dụ: Sâu xám hại ngô Agrotis ypsilon Rott Sâu xanh bướm trắng hại rau Pieris rapae Linne 3. Hệ thống phân loại côn trùng - Hệ thống phân loại lớp côn trùng còn nhiều ý kiến khác nhau, nên số lượng bộ của lớp côn trùng khác nhau theo hệ thống phân loại của từng tác giả: + Carl con Linne (1758) chia thành 7 bộ + Brauer (1885): 17 bộ + Sharp (1895): 21 bộ + Crampton (1935) và Ross (1948): 28 bộ + Weber (1949) và Chu Nghiêu (1950): 31 bộ + Handlirsch (1925) và Essig (1947): 33 bộ +Wardle (1936) và Mactưnop (1949): 40 bộ Hệ thống phân lọai chúng ta thường dùng chia lớp côn trùng ra làm 31 bộ như (Xem giáo trình) 4. MỘT SỐ BỘ CÔN TRÙNG QUAN TRỌNG TRONG NÔNG NGHIỆP - Có 8 bộ côn trùng quan trọng trong nông nghiệp như sau: 48
  49. 4.1. Bộ cánh thẳng (Orthoptera) + Họ châu chấu (Acrididae) + Họ sát sành (Tettigonidae) 4.2. Bộ cánh nửa (Hemiptera ) + Họ bọ xít 5 cạnh (Pentatomidae): Bọ xít vải (Tessaratoma papilosa Drury), bọ xít xanh (Nezara viridula Fabr), bọ xít mướp (Aspougopus fuscus W.) + Họ bọ xít ép (Coriedae): Bọ xít dài, bọ xít hôi (Leptocorisa varicornis Fabr), bọ xít gai hại lúa (Cletus punctiger Dallas). + Họ bọ xít mù (Miridae): Bọ xít muỗi hại chè (Helopeltis theivora W.) 4.3. Bộ cánh cứng (Coleoptera) + Họ ban miêu (Meloidae): Ban miêu sọc trắng (Epicauta gorhani Macs), ban miêu sọc vàng (Mylabis sp). + Họ xén tóc (Cerambycidae): Xén tóc xanh lục hại cam (Chelidonium argenlatum Dalman), Bore hại cà phê (Xylotrechus quadripes Chevrolats). + Họ ánh kim (Chrysomelidae): Bọ nhảy sọc vỏ lạc hại rau (Phyllotreta vittata Fabr), sâu gai hại lúa (Hispa armigera Olivier). + Họ bọ hung (Scarabacidaea): Bọ hung đục gốc mía (Alissonotum pauper Burm), bọ cánh cam (Anomala sp), bọ dừa (Holotrochia sp). 4.4. Bộ cánh đều (Homoptera) + Họ bọ rày (Jassidae): Rày xanh đuôi đen hại lúa (Nephotettix bipunctatus Fabr), rày xanh hại chè (Chlorita flavescens Fabr). 49
  50. + Họ rày nâu (Delphacidae): Rày nâu hại lúa (Nilaparvata lugens Stal), muội lưng trắng hại lúa (Sogata fureifera Horvath). + Họ muội (Aphididae): Rệp muội cam (Aphis citricidus Kirkaldy), rệp thuốc lá (Myzus persicae Sulzer), rệp rau cải bắp (Brevicoryne brassicae L), 4.5. Bộ cánh màng (Hymenoptera) + Họ ong cự (Ichneurmonidae): Những loài thường gặp như Cremastus, Metopius, Xanthopimla. + Họ ong kén nhỏ (Braconidae): Apanteles sp., Opius sp., Bracon sp. + Họ ong 3 đốt bàn (Trichogrammatidae): ong mắt nhỏ (Trichogramma evanescenus Westood). 4.6. Bộ hai cánh (Diptera) + Họ muỗi năn (Cecidomidae) như sâu năn hại lúa (Pachydilplosis oryzae Woodmason). + Họ ruồi nhà (Museidae) như ruồi nhà (Musca domestica Vicina). 4.7. Bộ cánh vảy (Lepidoptera) + Nhóm bướm: Cơ thể vừa hoặc lớn, râu đầu hình dùi đục hoặc dùi trống. Khi đậu cánh xếp dựng đứng trên lưng, màu sắc sặc sỡ, hoạt động ban ngày. VD: Họ bướm phượng hại cam, họ bướm phấn, bướm trắng hại rau, sâu cuốn lá lớn + Nhóm ngài: Râu đầu có nhiều hình dạng. Khi đậu cánh úp dọc theo cơ thể thành hình mái chùa, phần lớn hoạt động vào ban đêm. 4.8. Bộ cánh tơ (Thysanoptera) + Họ bọ trĩ (Thripidae): Bọ trĩ hại lúa (Thrips oryzae W.), Bọ trĩ hại thuốc lá (Thrips tabaci L.) 50
  51. + Họ bọ trĩ vằn (Aeolothripidae): Bọ trĩ vằn hại cây họ đậu (Aeolothrips fasciatus L.) 5. Khóa phân loại côn trùng và cách tra (Đọc giáo trình) PHẦN 2. CÔN TRÙNG CHUYÊN KHOA CHƯƠNG I. NGUYÊN LÝ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU HẠI (0.5 tiết) 1. Phương hướng phòng trừ sâu hại 1.1. Điều khiển sinh quần nông nghiệp theo hướng có lợi cho con người Đây là phương hướng cơ bản và quan trọng nhất. Trên cơ sở hiểu biết về quan hệ giữa các loài trong sinh quần, tìm các biện pháp tác động nâng cao tính bền vững của cấu trúc sinh quần để duy trì cân bằng sinh học trong tự nhiên. * Cơ sở khoa học: - Có thể nâng cao tính bền vững của cấu trúc sinh quần để duy trì cân bằng sinh học trong tự nhiên. - Quan hệ giữc các loài thông qua chuỗi thức ăn và lưới thức ăn. 51
  52. - Vai trò của kẻ thù tự nhiên tùy thuộc vào chính các loài sâu hại * Biện pháp: - Tăng sự đa dạng thảm thực vật - Hạn chế dùng thuốc trừ sâu - Không diệt một loài đến cùng, mà chỉ làm giảm mật độ dưới ngưỡng gây hại kinh tế - Tạo thuận lợi cho thiên địch phát triển (thức ăn, nơi cư trú, các đk khác ) - Bổ sung thêm vào đồng ruộng kẻ thù tự nhiên 1.2. Cải biến điều kiện sinh sống của sâu hại * Cơ sở khoa học - Mỗi loài sâu hại chỉ có thể phát sinh, phát triển và gây hại đáng kể trong điều kiện nhất định: Thức ăn, nơi cư trú, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, pH đất Khi các yếu tố trên thay đổi thì sẽ hạn chế số lượng của chúng/ - Trên đồng ruộng có một phức hợp các loài sâu hại có yêu cầu khác nhau về yếu tố môi trường, nên việc cải biến điều kiện sống phải mang tính tình huống và mềm dẻo. * Các biện pháp: - Luân canh (để cắt nguồn thức ăn của sâu hẹp thực) - Dùng giống chống chịu - Làm đất (cày lật đất, phơi khô, làm dầm), xới xáo - Ngâm nước, tưới ngầm làm khó khăn cho các loài sâu sống trong đất - Tỉa cành, tạo tán 52
  53. - Trồng cây che bóng, hạn chế cường độ ánh sáng để chống các loài sâu ưu sáng trực xạ như sâu bore – sâu đục cành cà phê. - Phơi khô sản phẩm để chống mối, mọt - Vệ sinh đồng ruộng để hạn chế nơi cư trú, qua đông, qua hè 1.3. Tăng khả năng chống chịu sâu hại bằng chọn tạo giống và né tránh sâu hại * Biện pháp : - Thu thập, bảo tồn nguồn gen chống chịu sâu - Chọn lọc các giống có khả năng chống chịu với từng loài sâu - Lai tạo giống chống, chịu sâu hại, chuyển nạp gen kháng Ví dụ: giống kháng rầy: CR 203, hơi kháng: giống lúa MTL 250, MTL 233, MTL 235, kháng sâu đục thân như giống Ngô V 98-1, V98- 2 - Điều chỉnh hợp lý thời vụ gieo trồng kết hợp với kỹ thuật chăm sóc để điều khiển các thời kỳ xung yếu của cây, tránh những cao điểm sâu hại. 1.4. Tiêu diệt trực tiếp sâu hại * Biện pháp : - Dùng thuốc hóa học và các chế phẩm sinh học (BT, NPV ) - Bắt tay và dùng các dụng cụ thô sơ - Dùng bẫy, bả độc - Dùng một số biện pháp trong canh tác 2. Nguyên tắc phòng chống sâu hại (4 nguyên tắc) 2.1. Có hiệu quả kinh tế * Cơ sở khoa học và thực tiễn của nguyên tắc 53
  54. - Sản xuất nông nghiệp là hoạt động kinh tế, nên phòng chống sâu hại phải có hiệu quả kinh tế 2.2. Phòng là chính. Dự tính dự báo sâu hại * Cơ sở khoa học và thực tiễn của nguyên tắc - Phòng là khống chế sâu từ khi mật độ còn thấp, diệt sâu ở tàn dư cây trồng từ kh thu hoạch và ở nơi cứ trú qua đông - Phòng sẽ có hiệu quả kinh tế, vì nếu phòng tốt sẽ không có dịch sâu xảy ra, không tốn tiền để dập dịch - Nhiều trường hợp không phòng thì sản phẩm không còn giá trị thương phẩm cho dù trừ hết sâu 2.3. Phòng chống dịch hại theo quy trình tổng hợp - Phòng trừ sâu hại phải được thực hiện theo một qui trình tổng hợp để vừa bảo vệ được cây trồng, vừa bảo vệ được mối cân bằng sinh học trong tự nhiên và hạn chế đến mức tối đa sự ô nhiễm môi trường sống. 2.4. Phòng chống sâu hại có tính quần chúng: - Do khả năng lây lan của sâu hại trên đồng ruộng là rất lớn, việc phòng chống không thể tiến hành trên diện tích hẹp của từng hộ, không đem lại hiệu quả - Áp dụng biện pháp phòng chống sâu hại phù hợp với trình độ, tập quán canh tác của người dân, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội nơi tiến hành biện pháp nhằm giúp người nông dân lựa chọn, đưa ra quyết định sử dụng biện pháp 3. Các phương pháp phòng trừ sâu hại - Biện pháp kỹ thuật canh tác - Biện pháp vật lý, cơ giới 54
  55. Các biện pháp: - Sử dụng giống chống chịu sâu hại - Biện pháp sinh học - Biện pháp hóa học - Biện pháp kiểm dịch thực vật - Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) 3.1. Phòng trừ sâu hại bằng kỹ thuật canh tác * Ưu điểm : - Dễ tiến hành, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, giảm chi phí bảo vệ thực vật, bảo vệ được nguồn thiên địch tự nhiên. * Nhược điểm: - Biện pháp có hiệu quả sau một thời gian nhất định - Khi sâu hại phát triển thành dịch thì biện pháp khó ngăn chặn được sâu hại - Biện pháp mang tính phòng ngừa là chính * Các công việc cụ thể: - Làm đất: Cày bừa kỹ khi chuẩn bị đất cho vụ gieo trồng mới. Cày bừa kỹ có tác dụng làm giảm số lượng sâu hại mà chúng có một số pha phát dục sống trong đất. Ví dụ: Nhộng của sâu xanh, sâu khoang, cắn gié - Vệ sinh đồng ruộng: Tiêu huỷ tàn dư cây trồng, cỏ dại có tác dụng ngăn chặn sự lây lan, tồn tại của sâu hại trên đồng ruộng vì đây là nơi trú ngụ, qua đông, hè của nhiều loại sâu hại. - Điểu chỉnh thời vụ gieo trồng, thu hoạch. Tùy thuộc muốn né tránh loài sâu nào mà quyết định thời điểm gieo trồng thích hợp. VD. Thu hoạch sớm khoai lang tránh được bọ hà gây hại. 55
  56. - Bón phân cân đối và hợp lý giúp cây sinh trưởng tốt đồng thời làm tăng khả năng chống chịu sâu hại. - Tưới nước hợp lý: Tưới nước có tác dụng hạn chế một số loài côn trùng gây hại. Ví dụ. Trong điều kiện khô hạn, rệp mía phát tán khắp nơi để tìm nguồn thức ăn mới phù hợp, vì vậy tưới nước cho mía ngăn chặn sự lây lan này của rệp. Tưới nước giữ ẩm cho mạ là biện pháp cơ bản để phòng ngừa rệp muội (Aphididae). - Luân canh: Gieo trồng các loại cây trồng khác nhau trên một cánh đồng, một vùng sinh thái có tác dụng ngăn cản sự phát triển của sâu hại có tính đơn thực. Ví dụ: Luân canh rau họ hoa thập tự với lúa hoặc cây trồng khác sẽ hạn chế được sâu tơ hại rau, luân canh lạc với lúa có tác dụng ngăn chặn sâu hại lạc. - Xen canh: Trồng xen nhiều loại cây trồng làm tăng đa dạng thực vật, làm phong phú hơn sinh quần đồng ruộng, tạo điều kiện cho kẻ thù tự nhiên phát triển và tăng tính ổn định của cân bằng sinh học. - Trồng giống ngắn ngày để tránh sâu hại cuối vụ. Ví dụ. Trồng giống lúa ngắn ngày có tác dụng ngăn cản, tránh rầy nâu gây hại. - Trồng khu cách ly, vành đai bảo vệ và khu dẫn dụ - Các biện pháp khác: Đốn, tỉa cành với cây chè, táo tránh sâu hại tồn tại trên tán lá. Bóc lá mía kịp thời hạn chế sâu đục thân 3.2. Phòng trừ sâu hại bằng phương pháp vật lý, cơ giới * Ưu điểm: - Dễ áp dụng, không tốn kém, phù hợp với trình độ của người dân - Không ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và động vật nuôi * Nhược điểm: 56
  57. - Khi sâu phát sinh thành dịch thì biện pháp thủ công tiến hành chậm, ít hiệu quả hơn biện pháp phòng trừ hóa học - Các bẫy bả như bẫy ánh sáng, bẫy thức ăn làm tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích. Vì vậy chỉ nên sử dụng vào một số ngày theo sự chỉ đạo. * Những công việc cụ thể: - Dùng sức người, dụng cụ để ngăn chặn, tiêu diệt sâu hại: Cắt, nhổ bỏ cành, cây bị hại. Bóc lá mía để ngăn chặn sự phát triển của rệp mía, dùng lược chải sâu cuốn lá lớn hại lúa - Dùng bẫy ánh sáng: Tiêu diệt con trưởng thành sâu đục thân lúa, sâu cuốn lá nhỏ. Chỉ sử dụng bẫy trong điều kiện tối không có ánh trăng, không có gió mạnh. - Dùng các loại bả độc: Mỗi loài côn trùng có tính mẫn cảm với mùi vị thức ăn nhất định, dựa trên cơ sở đó con người tạo ra các loại bẫy bả độc có mùi vị khác nhau nhằm quyến rũ trưởng thành để tiêu diệt. Ví dụ bả chua ngọt gồm: 4 phần mật mía + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước + 1 % hoá chất gây độc để diệt sâu. Ngoài ra còn dùng bả mùi thơm hoa quả, bẫy Pheromon để bắt trưởng thành đực - Dùng nhiệt độ: Bằng cách tăng cao hoặc hạ thấp nhiệt độ làm cản trở sự sinh trưởng của sâu nhưng không làm ảnh hưởng đến cây trồng hoặc sản phẩm nông nghiệp. Ví dụ: Nhúng dễ cam non vào nước nóng nhiệt độ 52 oC trong 10 phút rồi để nhiệt độ giảm dần có thể tiêu diệt được rệp. - Dùng ẩm độ: Điều chỉnh ẩm độ môi trường hoặc lượng nước trong thức ăn của sâu hại. Ví dụ: Một số loại mọt không thể sống trong hạt có ẩm độ hạt <13%. 57
  58. - Dùng tia phóng xạ: Dùng tia X để phát hiện sâu hại trong nông sản, tia  để gây bất dục côn trùng đực. 3.3. Sử dụng giống chống chịu sâu hại * Ưu điểm: - Giảm chi phí cho người sản xuất - Không gây ô nhiễm môi trường - Không bị ảnh hưởng của thời tiết - Phòng chống sâu hại ngay trong giai đoạn hạt giống * Nhược điểm: - Thời gian tạo ra giống chống chịu sâu hại dài, nhưng dễ mất tính kháng sâu do sâu hình thành nòi sinh học mới (biotyp). Không nên trồng giống kháng > 70 % diện tích gieo trồng ở mỗi nơi trên từng vụ. - Giống có đặc tính chống sâu cao thường có chất lượng trung bình, hoặc không thỏa mãn người tiêu dùng. - Mỗi giống chỉ chống chịu được với một loài sâu hại nhất định do vậy khi gieo trồng phải có biện pháp đối phó với các loài sâu hại khác. * Các công việc cụ thể: - Dựa trên giống chống chịu sâu hại, người sản xuất chỉ nên sử dụng trong cơ cấu giống khoảng 60-70 %, còn lại trồng giống nhiễm để ngăn cản sự xuất hiện nòi sinh thái của sâu hại. - Cần sử dụng giống chống chịu phối hợp với các biện pháp khác. - Tính chống chịu di truyền là bản chất di truyền trong cây được thể hiện: + Tính chống chịu ngang (chống chịu đa gen). Kiểu này có tác dụng với nhiều nòi sinh thái, do đó nó tương đối ổn định trong một khoảng thời gian dài. Tuy nhiên tính chống chịu ngang không đạt được 58
  59. mức kháng cao mà chỉ ở mức kháng vừa hoặc biểu hiện ở tính chịu đựng (Tolerance) + Tính chống chịu dọc do một hoặc một vài gen quyết định. Kiểu gen này thường có mức kháng cao nhưng chỉ với vài nòi sâu hại. Tính chống chịu không bền vững. 3.4. Phòng trừ sâu hại bằng biện pháp sinh học - Khái niệm: Biện pháp sinh học là biện pháp sử dụng những sinh vật có ích hoặc những sản phẩm của chúng nhằm ngăn chặn hay giảm thiệt hại do sâu hại gây ra. * Ưu điểm: - Sử dụng biện pháp an toàn, không gây ô nhiễm môi trường - Có hiệu qủa lâu dài vì thiên địch được bổ sung sẽ tồn tại và phát triển trong tự nhiên. * Nhược điểm: - Dễ bị tác động của thuốc hoá học - Dập dịch chậm, nhân nuôi khó, bảo quản và sử dụng đòi hỏi những yêu cầu cao về thiết bị, điều kiện thời tiết và trình độ hiểu biết. - Giá thành sản phẩm cao nên chưa hấp dẫn người sử dụng * Những biện pháp cụ thể: - Điều tra thành phần, đánh giá vai trò của các loài kẻ thù tự nhiên có ý nghĩa để bảo vệ, duy trì và phát triển chúng. - Bổ sung thiên địch: Nhân nuôi, nhập nội, thuần hoá thiên địch có ý nghĩa và thả bổ trợ trên đồng ruộng. * Các loài thiên địch thường dùng: + Ký sinh trứng: Ong mắt đỏ (Trichogramma sp.) + Ký sinh sân non: Ong vàng (Habrobracon hebetor) 59
  60. 3.5. Phòng trừ bằng biện pháp hoá học * Ưu điểm: - Có hiệu quả kinh tế - Có khả năng tiêu diệt, ngăn chặn sâu hại nhanh, đạt hiệu quả cao * Nhược điểm: - Gây độc cho người và động vật nuôi - Tiêu diệt các loài côn trùng có ích - Hình thành chủng sâu hại chống, quen thuốc. Ví dụ sâu tơ hại rau - Xuất hiện một số loài sâu hại mới có số lượng và sức sống cao hơn - Tồn dư thuốc hóa học trong sản phẩm nông nghiệp - Thuốc hoá học gây ô nhiễm môi trường * Công việc cụ thể: - Điều tra phát hiện kịp thời loài sâu hại chủ yếu, mật độ, tình hình gây hại của chúng. Xác định ngưỡng phòng trừ để quyết định sử dụng biện pháp hoá học theo nguyên tắc 4 đúng: + Đúng chủng loại thuốc, đúng nồng độ và liều lượng; đúng thời gian (đúng lúc), đúng cách. 3.6. Biện pháp kiểm dịch thực vật - Khái niệm: Kiểm dịch thực vật là biện pháp mang tính nhà nước, dựa vào pháp lệnh, điều lệ để ngăn chặn sự lây lan của sâu hại từ vùng này sang vùng khác, từ nước này sang nước khác nhằm bảo vệ sản xuất nông nghiệp. - Ở Việt Nam ốc biêu vàng đã xâm nhập từ nước ngoài vào gây hại nặng cho sản xuất nông nghiệp . 60
  61. Để ngăn chặn sự lây lan phải sử dụng biện pháp kiểm dịch. Nội dung là: + Kiểm dịch đối ngoại: Kiểm tra xử lý nghiêm ngặt những nông sản phẩm xuất nhập giữa các nước, không cho nhập vào hoặc xuất ra những sản phẩm có loài côn trùng thuộc đối tượng kiểm dịch đối ngoại của một nước nào đó, là những loài sâu chưa hề thấy xuất hiện trên cây trồng nước đó. + Kiểm dịch đối nội: Kiểm tra ngăn chặn những nông sản chuyển từ vùng này qua vùng khác trong nước không cho các loài sâu đó lan tràn gây hại. Đối tượng kiểm dịch đối nội là những sâu bệnh chỉ mới có ở một vùng riêng biệt trong nước. 3.7. Biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) - Khái niệm: Là biện pháp phối hợp hài hoà các biện pháp riêng biệt dựa trên cơ sở hiểu biết nền sinh thái một cách hợp lý, nhằm giữ cho quần thể sâu hại dưới ngưỡng kinh tế (ETL). * Ưu điểm: + Bảo vệ được thiên địch, môi trường sống của con người và vật nuôi + Giảm chi phí BVTV, tăng năng suất cây trồng, tạo sản phẩm nông nghiệp sạch * Nhược điểm: + Phải được tuyên truyền rộng rãi để mọi người dân cùng tham gia + Phải tiến hành các lớp tập huấn để người nông dân nghe, nhìn và thực hành trên đồng ruộng, kết hợp với kinh nghiệm sản xuất để biện pháp có hiệu quả. * Nguyên lý cơ bản của IPM: 61
  62. - Điểu khiển để phát huy tối đa vai trò khống chế sâu hại nhờ kẻ thù tự nhiên trong hệ sinh thái. - Thăm đồng thường xuyên và điều tra để vẽ được bức tranh sinh thái (mối quan hệ cây trồng – sâu hại – các yếu tố ngoại cảnh, kỹ thuật) - Chăm sóc để cây trồng khỏe (bằng biện pháp canh tác kỹ thuật) - Người nông dân trở thành chuyên gia trên thửa ruộng của họ * Một số nguyên tắc : - Cho phép sâu hại tồn tại phát triển trên cây trồng ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế - Bảo vệ, phát triển của các loài thiên địch sẵn có trong tự nhiên - Phối hợp hài hoà các biện pháp để vừa chăm sóc cho cây khoẻ và ngăn chăn không cho sâu hại phát triển quá ngưỡng kinh tế CHƯƠNG II. MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI CÂY TRỒNG SÂU HẠI CÂY LƯƠNG THỰC (2 tiết) 1. SÂU HẠI LÚA 1.1. Sâu đục thân lúa - Sâu đục thân lúa 2 chấm (Schoenobius incertulas Walker) 62
  63. - Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu (Chilo suppressalis Walker) - Sâu đục thân 5 vạch đầu đen (Chilotraea auricilia Dudgeon) - Sâu đục thân bướm cú mèo (Sesamia inferens Walker) * SÂU ĐỤC THÂN LÚA 2 CHẤM * Phân bố và ký chủ - Là loài đơn thực, chỉ hại trên cây lúa. * Triệu chứng : - Giai đoạn mạ: khi mạ còn nhỏ, bị hại có thể làm mạ bị chết khô. Khi cây mạ lớn, nõn bị héo dễ bị đứt gốc khi nhổ mạ. - Đẻ nhánh: Sâu đục vào phần dưới của thân, cắt đứt tổ chức bên trong làm cho lá non trước tiên bị chuyển màu vàng và héo khô , gây “nõn héo”. - Ngừng đẻ nhánh hữu hiệu: Sâu hại làm giảnh mới không được hình thành, nếu có được hình thành thì không trỗ bông được. - Đứng cái và làm đòng: sâu đục vào phần cuốn đòng, cắt đứt sự vận chuyển dinh dưỡng của bông lúa làm cho bông lúa bị lép trắng gây “bông bạc”. Nhìn chung, trong năm lúa vụ mùa sâu đục thân bướm 2 chấm chiếm tỷ lệ hại cao nhất, vụ chiêm xuân sâu đục thân 5 vạch đầu nâu xuất hiện với mật độ cao * Đặc điểm hình thái (Nhắc qua) - Ngài có mầu vàng nhạt, mắt kép to đen, giữa mỗi cánh có một chấm đen to. Cuối bụng có chùm lông màu vàng nâu để phủ lên ổ trứng. Chiều dài thân 8 - 13 mm, sải cánh rộng 18 - 28 mm. 63
  64. - Trứng hình bầu dục dài 0,8 - 0,9 mm, đẻ thành ổ hình bầu dục, trên phủ lớp lông tơ màu vàng nhạt, ổ trứng được đẻ mặt dưới lá phía gần ngọn. - Sâu non đẫy sức dài khoảng 21 mm, đầu mầu nâu vàng, cơ thể màu trắng sữa, ở dọc lưng có chuỗi tim hoạt động trông rất rõ. - Nhộng dài 10-15,5 mm, mầu vàng nâu. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Ngài vũ hóa về đêm, ban ngày ít hoạt động thường ẩn nấp trong khóm lúa, bắt đầu hoạt động khi chập tối. Ngài có xu tính ánh sáng mạnh. Sau vũ hóa thì có thể giao phối và đẻ trứng ngay vào đêm hôm sau. Ngài đẻ 2 - 6 ngày liền, nhiều nhất là đêm thứ 2,3. Mỗi ngài cái có thể đẻ 1 -5 ổ trứng. - Sâu non khi mới nở di chuyển bằng cách bò hoặc nhả tơ đung đưa nhờ gió. Thời kỳ mạ không thuận lợi cho sâu non sinh trưởng, phát triển, giai đoạn lúa đứng cái thuận lợi cho sâu non sinh trưởng phát triển nhất. - Sâu non có 5 tuổi. Thích hợp nhất là 25 - 30oC, Ao: 90 -100 %. - Sâu non chui xuống gốc lúa để qua đông, sau đó hóa nhộng trong gốc rạ cách mặt nước 1-2 cm. Trước khi hóa nhộng sâu đục 1 lỗ ở thân lúa, chừa lại biểu bì mỏng để khi vũ hóa chui ra. - Thiên địch của sâu là các loài ong ký sinh trứng và ký sinh sâu non và 1 số loài côn trùng có ích ăn thịt. - Hàng năm có 5 - 7 lứa, trong đó có lứa 2 (T4 - T5), lứa 3 (T5 - T6) và và lứa 5 (T9 - T10) gây hại quan trọng. Thường vụ lúa mùa, mùa sớm bị hại nặng hơn so với vụ xuân. * Biện pháp phòng trừ sâu đục thân (Đọc) 64
  65. - Biện pháp canh tác: + Cần tiến hành cầy lật gốc rạ, ngâm nước, làm dầm kịp thời + Khi lúa thu hoạch cần cắt sát gốc rạ, thu gom đốt để tiêu diệt nguồn bệnh + Dọn sạch cỏ dại quanh bờ làm mất nơi ẩn nấp, kí chủ của sâu + Gieo mạ tập trung để tiện chăm sóc, quản lý và phòng trừ sâu bệnh + Bón phân cân đối nhất là đối với phân đạm và điều chỉnh nước để diệt sâu. + Trồng giống lúa chống chịu sâu đục thân, bố trí cơ cấu thời vụ thích hợp - Biện pháp hóa học + Thường xuyên theo dõi mật độ sâu trên đồng ruộng, chỉ phun thuốc khi đã quá ngưỡng kinh tế: đẻ nhánh: 1-1,5 ổ trứng/m 2, bắt đầu trỗ: 0,5 - 0,7 ổ trứng/m2, đòng già 0,3 - 0,4 ổ trứng/m2. + Sử dụng theo liều chỉ dẫn các thuốc như: Padan 95 SP, Ofatox 400 EC, Diazinon 50 EC, Regent 400 WP 1.2. Sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) - Ký chủ: Ngoài lúa còn phá hại trên ngô, lúa mì, mía, cỏ lồng vực * Triệu chứng: - Sâu non nhả tơ cuốn dọc lá lúa thành một bao thẳng đứng hoặc bao tròn gập lại. Sâu nằm trong bao ăn biểu bì mặt trên và diệp lục của lá theo dọc gân lá tạo thành những vệt trắng dài. 65
  66. Trứng Sâu non Sâu non đẫy sức Nhộng Trưởng thành Hình 13: Vòng đời của sâu cuốn lá nhỏ * Đặc điểm hình thái - Ngài có thân dài 10 mm, sải cánh rộng 19 mm, cơ thể màu nâu vàng, trên mép trước của cánh trước có màu nâu đen, vân mép ngoài rộng hơn vân trong. - Trứng hình bầu dục dài 0,5 mm, mặt trứng có vân mạng lưới rất nhỏ. - Sâu non đẫy sức dài 19 mm, màu xanh lá mạ, mảnh lưng ngực trước có 2 vết màu nâu đen song song trông rất rõ. Thân mảnh gày, chân bụng phát triển. - Nhộng dài 7-10 mm, màu nâu. Lỗ thở lồi lên. Cuối bụng có 6 sợi lông ngắn uốn cong. * Tập quán sinh sống và qui luật phát sinh gây hại - Ngài vũ hóa về đêm từ 9 - 4 giờ sáng. Nngài có xu tính ánh sáng mạnh. - Sau vũ hóa 1 - 2 giờ ngài có thể giao phối và sau 1 - 2 ngày ngài sẽ đẻ trứng. Ngài đẻ trứng về đêm, thích đẻ trên ruộng lúa xanh, rậm rạp. - Trứng đẻ rải rác trên lá lúa, phần lớn có 1 trứng, cũng có khi 2 - 4 trứng đẻ cùng một chỗ xếp thành ô vuông hay hàng dọc. Mỗi con trung bình đẻ 100 trứng. 66
  67. - Sâu non có 5-6 tuổi, từ cuối tuổi 2 sâu non bắt đầu nhả tơ kéo hai mép lá lúa dệt thành bao và nằm trong đó gây hại. Sâu non có khả năng di chuyển ra khỏi bao cũ để phá hại lá mới. - Sâu non đẫy sức hóa nhộng trong bẹ lá lúa hoặc gần gốc khóm lúa. Cũng có khi sâu hóa nhộng ngay trong tổ cũ. - Nhiệt độ thích hợp cho sâu phát triển là T o 20 - 30o C, ẩm độ 85 - 88 %. - Thên địch: + Nhóm bắt mồi ăn thịt như bọ 3 khoang, chuồn chuồn, nhện + Ký sinh trứng và ký sinh sâu non. - Hàng năm ở miền Bắc có thể phát sinh 8 lứa, trong đó lứa thứ 2 (t4,5) gây hại lúa xuân và thứ 6 (T8,10) gây hại nặng cho lúa mùa. * Biện pháp phòng trừ (Đọc giáo trình) - Biện pháp canh tác: Làm sạch cỏ dại quanh bờ, thời vụ gieo cấy hợp lý và bón phân cân đối - Biện pháp vật lý: Dùng bẫy đèn diệt sâu trưởng thành, dùng cành tre để trải tung lá kéo cho sâu rơi xuống nước kết hợp với phun thuốc. - Biện pháp hóa học: Khi mật độ sâu non 9 - 12 con/m2 (giai đoạn đẻ nhánh), 6-9 con sâu non/m2 (giai đoạn làm đòng) thì cần phun thuốc hóa học như Ofatox 400 EC, Trebon 10 EC, Padan 95 SP, Cymerin 10 EC, Basudin 40 EC - Biện pháp sinh học: Ong mắt đỏ Trichogramma japonicum Aslimead 1.3. Rày nâu - Tên khoa học: Nilaparvata lugens Stal. = N. oryzae Mats - Họ muội bay: Delphacidae 67
  68. - Bộ cánh đều: Homoptera * Phân bố và ký chủ - Ngoài cây lúa, rầy còn phá hại trên cây ngô, lúa mì, kê, cỏ gấu, cỏ lồng vực * Triệu chứng gây hại - Rầy trưởng thành và rầy non dùng miệng chích hút vào thân cây lúa để hút dịch cây. Trên cây lúa hình thành vết châm màu nâu đỏ. Bị hại nhẹ các lá dưới có thể bị héo. Bị hại nặng thì phần dưới thân cây lúa có màu đen nâu làm cây lúa bị khô, héo và chết, gây nên hiện tượng "cháy rầy", cả ruộng khô, héo, màu trắng tái hoặc trắng. Lúa ở thời kỳ làm đòng và trỗ rầy có thể hút nhựa ở cuống đòng non, đồng thời rầy cái chích rách mô thân cây để đẻ trứng, các vết thương tạo điều kiện cho nấm bệnh xâm nhập làm cho cây lúa thối nũn, đổ rạp, bông lúa bị lép. Trứng Rầy non Rầy trưởng thành Hình 11: Rầy nâu Nilaparvata lugens thành trùng cánh ngắn và vòng đời (Theo Reissig và ctv., 1986) * Đặc điểm hình thái - Rầy trưởng thành có hai dạng: cánh dài và cánh ngắn + Dạng cánh dài: Con cái dài 4,5 - 5 mm, mặt bụng màu nâu vàng. Con đực dài 3,6 - 4 mm, đa số màu nâu tối, bé, gầy hơn con cái, bụng dạng loa kèn. 68
  69. + Dạng cánh ngắn: Con cái dài 3,5 - 4 mm, cánh trước kéo dài tới giữa đốt bụng thứ 6 bằng 1/2 chiều dài cánh trước của dạng cánh dài. Con đực dài 2 - 2,5 mm, gầy, đa số màu đen nâu, cánh trước kéo dài tới 2/3 chiều dài của bụng. - Rầy non: Lưng màu nâu đậm, bụng mầu trắng sữa, mầm cánh kéo dài đến đốt bụng thứ 4 của bụng - Trứng hình bầu dục dài, hơi cong, cuối quả trứng hơi thon, trứng thường được đẻ thành ổ trong mô cây hoặc bẹ lá phía dưới gốc của cây, ngoài ra còn đẻ trên cỏ lồng vực. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Rầy thường tập trung thành từng đám trên thân cây lúa phía dưới khóm để hút nhựa. Khi bị khua động thì lẩn trốn bằng cách bay hoặc nhảy, bay sang cây khác. Ban ngày trưởng thành ít hoạt động, chiều tối bò lên thân lúa hoặc lá lúa. - Rầy trưởng thành có xu tính với ánh sáng (trừ rầy trưởng thành dạng cánh ngắn), rầy bay vào đèn nhiều nhất là khoảng 20 -23h. - Sau vũ hóa 3 - 5 ngày, rày trưởng thành bắt đầu đẻ trứng. Trứng đẻ thành từng ổ phía dưới của cây lúa hoặc trong mô thân non. Mỗi ổ trứng có từ 15 - 30 trứng. Mỗi con cái đẻ từ 50 - 600 quả trứng. Ngoài lúa, còn đẻ trên cỏ lồng vực. - Rày non có 5 tuổi (4 lần lột xác), ít di động - Vòng đời ngắn, trung bình từ 20 - 30 ngày. - Nhiệt độ thích hợp cho rầy sinh trưởng 20 - 30oC, Ao = 80 - 85% - Thiên địch của rầy nâu gồm bọ rùa, kiến ba khoang, bọ xít nước, các loài nhện và ong ký sinh. 69
  70. - Hàng năm ở miền Bắc hình thành 7-8 lứa, trong đó có 2 lứa quan trọng nhất là lứa tháng 4-5 (giai đoạn lúa làm đòng, trỗ ở vụ lúa xuân) và lứa tháng 7-9 (lúa mùa sớm và mùa chính vụ). Rầy thường phát sinh thành dịch ở vụ xuân. * Biện pháp phòng trừ Áp dụng biện pháp IPM một cách triệt để cụ thể là: - Sử dụng giống kháng rầy, CR 203, hơi kháng: MTL 250, MTL 233 - Mật độ cấy hợp lý, bón phân cân đối, tránh bón quá nhiều đạm. - Tưới tiêu hợp lý: Lúc lúa đẻ nhánh tháo nước đi, khi rầy đẻ xong cho nước vào để trứng ung. Nếu có điều kiện có thể áp dụng kiểu canh tác lúa - cá. - Dùng bẫy đèn tiêu diệt rầy trưởng thành, sử dụng dầu hỏa rải trên mặt nước sau đó dùng sào khua cho rầy rơi xuống nước, rầy sẽ chết. - Thả vịt nhỏ vào ruộng vừa có tác dụng sục bùn, vừa dùng rầy làm thức ăn - Làm sạch cỏ dại để hạn chế sự phát sinh của rầy - Tạo điều kiện cho thiên địch rầy cư trú, phát triển. Ong kí sinh trứng rầy Anagus sp, bọ xít mù xanh ăn trứng rầy Cytorhnees pennis, nhện lycosa ăn rầy - Khi mật độ rầy vượt qua ngưỡng (18-27 con /khóm) có thể sử dụng các loại thuốc như: Trebon 10 EC, Bassa 50 EC, Diazinon 50 EC, Cymerin 10 EC, Regent 800 WP Nên sử dụng theo liều khuyến cáo. 2. SÂU HẠI NGÔ 2.1. Sâu xám (Agrotis ypsilon Rott.) 70
  71. - Phạm vi ký chủ: Là loài sâu đa thực phá hại trên nhiều loại cây trồng * Triệu chứng gây hại - Sâu xám lúc nhỏ ăn trên lá và gặm thân cây. Sâu non tuổi lớn cắn đứt gốc cây và kéo phần thân bị hại xuống đất. Khi cây ngô đã lớn, sâu có thể cắn phá điểm sinh trưởng. * Đặc điểm hình thái - Ngài dài 16-23 mm, sải cánh rộng 42-54 mm. Thân màu nâu tối. Râu hình sợi chỉ, râu ngài đực có hình răng lược kép. Mép trước của cánh trước màu nâu đen, ở giữa cánh có một vân hình quả thận màu xám đậm. Cánh sau màu trắng tro, đường viền gần mép ngoài màu nâu. - Trứng hình bán cầu, đường kính 0,5-0,6 mm, đỉnh quả trứng có núm lồi lên. - Sâu non đẫy sức dài 37 - 47 mm, có màu xám đất hoặc đen bóng, phía dưới bụng màu nhạt. Đầu màu nâu sẫm. - Nhộng dài 18-24 mm màu cánh gián. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Ngài vũ hóa vào lúc chập tối, hoạt động về đêm. Sau vũ hóa 3-5 ngày ngài bắt đầu đẻ trứng, mỗi ổ 1-3 trứng trên mặt lá gần mặt đất hoặc trong kẽ đất. Ngài có xu tính ánh sáng và thích mùi vị chua ngọt. - Sâu non mới nở đầu tiên ăn vỏ trứng, sau 6 giờ bắt đầu hoạt động. Sâu tuổi 1 sống ngay trên cây ăn lá non hoặc ăn quanh gốc. Sâu tuổi 2-3 trở đi ngày ẩn nấp dưới đất, đêm bò lên cây cắn đứt ngang cây và kéo xuống đất. Sâu tuổi 6 phá hại mạnh nhất, mỗi đêm có thể cắn đứt 3-4 cây ngô non. Sâu phá hại chủ yếu ở giai đoạn từ mọc mầm tới 5-6 lá. 71
  72. Sâu non có tính giả chết và có tính ăn thịt lẫn nhau, đẫy sức hóa nhộng dưới đất ở độ sâu 2-5 cm. - Nhiệt độ thích hợp từ 16-20 oC, ẩm độ 70-90 %, hại chủ yếu ở vụ ngô xuân. Thích hợp trên đất thịt nhẹ, đất cát tơi xốp. Hàm lượng nước trong đất từ 15-25 % Vòng đời: 34-58 ngày - Thiên địch: Ong đen kén trắng, ruồi ký sinh và một số nấm gây bệnh. * Biện pháp phòng trừ - Làm sạch cỏ dại quanh đồng ruộng - Bới đất quanh gốc cây để bắt sâu bằng tay khi mật độ còn thấp - Sau gặt lúa mùa tiến hành cày, bừa ngay bắt diệt sâu non và nhộng kịp thời - Gieo ngô đúng thời vụ - Bẫy diệt ngài bằng bả chua ngọt vào đầu vụ đông xuân từ tháng 10-11 - Dùng thuốc hóa học: Rắc thuốc Vibaba 10H, Vinetox 5 H, Vicarp 4H. 1.2. Sâu đục thân ngô - Tên khoa học: Ostrinia nubilalis Hubner. - Họ ngài sáng: Pyralidae - Bộ cánh vảy: Lepidoptera * Phân bố và kí chủ - Ngoài ngô, còn thấy trên bông, kê, cao lương, cây họ hòa thảo * Triệu chứng gây hại 72
  73. - Sâu từ tuổi 1-3 thường gặm ăn thịt lá nõn hoặc cắn xuyên thủng lá nõn, khi lá nõn xòe ra có dãy lỗ ngang trên lá. Sâu có thể ăn bao cờ, đục vào cuống cờ làm cờ gãy gục, không tung phấn được. Sâu tuổi 3 trở đi đục vào thân, bắp non. Cây ngô đã lớn, sâu đục trong thân để lại đường đục có phân đùn ra ngoài lỗ đục, thân dễ gãy. Bắp non có thể bị sâu đục từ cuống bắp vào thân bắp, phá hại nõn và hạt non. Khi bắp đã cứng thì sâu đục từ đầu bắp xuống giữa bắp. - Hàng năm sâu gây hại ngô trồng trong vụ hè và vụ thu (tỷ lệ hại thường tới 60-100%), trên ngô đông xuân sâu hại ít hơn (tỷ lệ sâu hại 10-40%). * Đặc điểm hình thái - Ngài cái thân dài 13-15 mm, sải cánh rộng 18-34 mm, cánh trước màu vàng tươi đến vàng nhạt, có 2 đường vân màu thẫm chạy ngang trên cánh hình gấp khúc, cánh sau màu sáng hơn và có đường vân mờ hơn. Bụng trông rõ 6 đốt. Ngài đực cơ thể nhỏ hơn, thân dài 12,5-14 mm, sải cánh rộng 22-28 mm. Màu từ nâu đến nâu vàng. Vân cánh giống ngài cái nhưng trông rõ hơn. - Trứng đẻ thành ổ xếp liền như vảy cá. Trứng hình bầu dục dẹt, khi mới đẻ có màu trắng sữa mặt trơn bóng, vài ngày sau có 1 chấm đen nổi lên (đầu sâu non). - Sâu non đẫy sức dài 22-28 mm. Trên mảnh lưng mỗi đốt có 4 nốt gai lồi màu nâu thẫm nằm phía trước và 2 đốt nhỏ nằm phía sau. - Nhộng cái dài 18-19 mm, rộng 3,5-4,5 mm, nhộng đực nhỏ hơn, thuôn dài. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh, phát triển và gây hại 73
  74. - Ngài hoạt động nhiều từ chập tối đến đêm, có xu tính ánh sáng, thích mùi vị chua ngọt. Sau vũ hóa 1 ngày thì giao phối và sau đó 1-2 ngày thì đẻ trứng, ngài thích đẻ ở ruộng ngô xanh tốt. Trứng được đẻ thành ổ ở mặt sau lá ngô bánh tẻ, gần nõn mỗi ổ 20 - 70 trứng, mỗi con đẻ trung bình 300 - 500 trứng. Sâu non mới nở ăn hết vỏ trứng và chất keo phủ vỏ trứng, sau đó xâm nhập vào các bộ phận như lá nõn, bông cờ, râu ngô, bắp non, nách lá gây hại. Sâu non có 5 tuổi, đẫy sức hóa nhộng ngay trên bẹ lá, trong thân, bắp ngô. - Nhiệt độ thích hợp 23 - 28oC, ẩm độ 75 - 80 % Vòng đời trung bình: 32 - 35 ngày - Thiên địch: + Ong và ruồi ký sinh: Ong mắt đỏ, ong bụng vàng (Xanthopimpla sp.,) + Ong ký sinh trên sâu non và nhộng: Ong đùi to (Brachymeris sp.,) + Nấm Beauveria sp., vi khuẩn Bacillus thuringiensis gây bệnh. - Hàng năm có 7-8 lứa trong đó có lứa 3 (đầu T3-giữa T4) phá ngô đông xuân và lứa 4,5,6 từ tháng 6 gây hại ngô hè thu. * Biện pháp phòng trừ - Gieo ngô tập trung thành vùng sản xuất lớn, đúng thời vụ thích hợp - Xử lý thân cây ngô sau vụ thu hoạch: Làm thức ăn gia súc hoặc đun - Chọn và dùng giống ngô chống chịu sâu đục thân: Ngô lai đơn V98-1. V982 74
  75. - Bảo vệ và lợi dụng thiên địch: Dùng thuốc hóa học không làm ảnh hưởng đến thiên địch, tiến hành nhân nuôi và thả thiên địch. - Sử dụng thuốc hóa học: Rắc thuốc Diazinon 10% hoặc Vicarp 4H, Vinetox 5 H lên ngọn cây ngô, hoặc nách lá khi ngài xuất hiện CHƯƠNG III. SÂU HẠI RAU (1 tiết ) 3.1. Sâu tơ (sâu dù) - Tên khoa học: Plutella xylostella Curtis hoặc Plutella maculipennis Curtis - Họ ngài rau: Plutella - Bộ cánh vảy: Lepidoptera * Phân bố và ký chủ Sâu chỉ phá hại các loại rau thuộc họ hoa thập tự. * Triệu chứng và mức độ gây hại - Sâu non 1 tuổi khi ăn đục 1 lỗ nhỏ dưới mặt lá, ăn nhu mô lá để lại biểu bì. Sâu tuổi 2 gặm ăn mặt dưới lá, để lại lớp biểu bì trên. Cuối tuổi 2 gặm thủng lá thành những lỗ hổng. Khi bị hại nặng bắp cải không cuốn bắp được, su hào củ nhỏ * Đặc điểm hình thái - Trưởng thành thân dài 6-7 mm, sải cánh rộng 12-15 mm, màu xám đen. Cánh trước màu nâu xám, trên có chấm nhỏ màu nâu. Từ chân cánh đến góc sau cánh trước có một dải màu trắng ở ngài đực và nâu vàng ở ngài cái. - Trứng hình bầu dục màu vàng xanh nhạt, đường kính 3-5 mm - Sâu non màu xanh nhạt, đẫy sức dài 9-10 mm. Mỗi đốt có lông nhỏ. 75
  76. - Nhộng màu vàng nhạt, dài 5-6 mm, mắt rất rõ, kén mỏng, hình thoi. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Ngài hoạt động về đêm. Sau vũ hóa 1-2 ngày ngài giao phối và đẻ trứng. Trứng được đẻ phân tán hoặc thành cụm 3-5 quả ở mặt dưới lá. Ngài có thể đẻ tới 400 trứng. Ngài có khả năng qua đông ở nhiệt độ dưới 0oC từ 2-3 tháng. - Sâu non có 4 tuổi. Sâu non thường ăn ở mặt dưới lá. Từ tuổi 2 gặm thủng lá thành lỗ hổng. Khi đẫy sức sâu dệt kén ngay trên lá để hóa nhộng. Đây là loại sâu có khả năng quen thuốc và chống thuốc rất cao - Nhiệt độ thích hợp nhất là 20-30oC, ẩm độ 80 - 90%. - Thiên địch: Ong và ruồi ký sinh, côn trùng ăn thịt như bọ rùa đỏ Mecraspis discalor Fabr., bọ rùa 8 chấm Harmonia octomaculata Fabr., bọ rùa 6 chấm. - Sâu phát sinh nhiều lứa trong năm và gây hại trong tất cả các vụ rau đông xuân từ tháng 9 - tháng 4 năm sau, cao điểm là tháng 1,2,3. - Vòng đời: 21-30 ngày. * Biện pháp phòng trừ - Vệ sinh vườn rau, thu dọn sạch tàn dư cây trồng sau khi thu hoạch. - Nên trồng xen rau họ hoa thập tự với rau không phải ký chủ sâu tơ như hành, tỏi, cà chua hoặc cây lương thực. - Sử dụng các chế phẩm Bt từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis kết hợp với các thuốc hóa học theo liều khuyến cáo như Padan, Trebon, Regent, Sherpa, Ofatox 3.2. Sâu xanh bướm trắng - Tên khoa học: Pieris rapae Linn. 76
  77. - Họ bướm phấn: Pieridae - Bộ cánh vẩy: Lepidoptera * Phân bố và ký chủ - Sâu gây hại trên rau họ hoa thập từ và các cây dại thuộc họ hoa thập tự * Triệu chứng và mức độ gây hại - Sâu tuổi 1,2,3 gặm ăn chất xanh để lại màng trắng, tuổi lớn ăn khuyết lá để lại gân lá. Đối với bắp cải sâu có thể đục vào bắp, lá bao ngoài có lỗ thủng lớn có hình dạng và kích thước không như nhau. * Đặc điểm hình thái (xem hình ảnh) - Bướm có thân dài 12-20 mm, sải cánh 45-55 mm, màu trắng, đỉnh cánh có màu xám đen hình tam giác và có 2 chấm đen ở giữa cánh. - Trứng hình lọ dài 1mm, mới đẻ màu vàng nhạt sau chuyển màu da cam - Sâu non có 5 tuổi, màu xanh lục, các đốt lưng có vân ngang, trên thân có nhiều chấm đen, lưng có 3 tuyến màu vàng chạy dọc cơ thể. - Nhộng dài 18-20 mm, màu sắc thay đổi: vàng nhạt, lục nhạt, nâu nhạt * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Bướm hoạt động ban ngày và hút mật hoa. Giao phối và đẻ trứng vào buổi sáng. Trứng đẻ rải rác ở mặt dưới lá rau. Mỗi con đẻ khoảng 120-140 trứng - Sâu non có 5 tuổi, hoạt động chậm chạp nhưng bám vào lá rất chắc. Sâu non đẫy sức hóa nhộng trên lá, hoặc thân cây Nhiệt độ thích hợp là 24-30 oC, ẩm độ 80-90%. Hàng năm có thể có tới 15 lứa sâu gối tiếp, nhưng đỉnh cao gây hại là vào tháng 2, 5. 77
  78. - Thiên địch của sâu là Ong mắt đỏ ký sinh trứng, ong kén nhung ký sinh sâu non, ong nhỏ ký sinh nhộng. * Biện pháp phòng trừ - Tương tự phòng trừ sâu tơ CHƯƠNG IV. SÂU HẠI CÂY CÔNG NGHIỆP (1 tiết) 4.1. Rầy xanh hại CHÈ - Tên khoa học: Chlorita flavescens Fabr. - Họ ve sầu nhẩy: Jassidae - Bộ cánh đều: Homoptera * Phân bố và ký chủ - Ngoài phá hại chè, rầy còn phá hại trên một số cây trồng khác như lúa, khoai, bông, đậu lạc, dâu tằm * Triệu chứng và mức độ gây hại - Rầy non và rầy trưởng thành dùng vòi chích hút nhựa ở búp non theo gân chính và 2 đường gân phụ của lá non, tạo nên những vết châm nhỏ như kim châm. Những lá này nếu gặp điều kiện khô nóng sẽ bị khô từ đầu lá, mép lá đến 1/2 lá. Phần còn lại trở nên cong queo, cằn cỗi. Bị hại nhẹ lá có thể biến thành màu hồng - Tác hại có thể làm cho sản lượng và chất lượng giảm sút nghiêm trọng. * Đặc điểm hình thái - Trưởng thành dài 2-4 mm, màu xanh lá mạ. Đầu hơi hình tam giác, chính giữa đỉnh đầu có 1 đường vân trắng và 2 bên có chấm đen nhỏ. Cánh trong mờ, màu xanh lục. 78
  79. - Trứng hình hơi cong dạng quả chuối tiêu, dài 0,8 mm, trứng mới đẻ màu trắng sữa, sắp nở màu lục nhạt hay hơi nâu. - Rầy non mới nở màu trắng trong suốt dài 1mm, sau chuyển dần màu xanh vàng dài 2-2,2 mm. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại - Rầy trưởng thành sợ ánh nắng trực xạ, rầy có xu tính với ánh sáng đèn yếu và có đặc tính bò ngang. Khi bị khua động, rầy có thể nhẩy hay lẩn trốn nhanh. Rầy trưởng thành đẻ trứng rải rác vào mô non, cọng búp và gân chính của lá chè. Mỗi búp từ 2-3 trứng, có khi tới 6-8 trứng. Rầy non có 5 tuổi. Từ tuổi 3 trở lên hoạt động nhanh nhẹn, có thể bò, nhẩy. - Nhiệt độ thích hợp từ 25-30oC, ẩm độ > 80%. - Vòng đời của rầy: Mùa hè : 8 ngày ; Mùa đông : khoảng 20 ngày. - Mức độ phát sinh gây hại cũng tùy theo điều kiện sinh thái: Nương chè còn non bị hại nặng hơn nương chè già, nương chè nhiều cỏ dại, ít chăm sóc cũng bị hại nặng, chè ở nơi khuất gió cũng bị hại nặng hơn, chè trồng xen bị hại nặng hơn chè trồng thuần. * Biện pháp phòng trừ - Chăm sóc cho cây chè sinh trưởng tốt, dọn sạch cỏ dại - Không nên đốn chè quá sớm hay quá muộn. Thời vụ đốn nên từ cuối tháng 12 đến giữa tháng 1. - Hái kỹ búp chè lúc rầy trưởng thành đẻ rộ để giảm số lượng trứng rầy - Chú ý phòng trừ trong thời gian rầy phát sinh mạnh. Có thể sử dụng thuốc hóa học theo liều khuyến cáo như Cartap 95 SP, Trebon 10 EC, Padan 95 SP 79
  80. 4.2. Bọ xít muỗi (Tự đọc) - Tên khoa học: Helopeltis theivora Waterh - Họ bọ xít mù: Miridae - Bộ cánh nửa: Hemiptera * Phân bố và ký chủ - Ngoài gây hại trên chè, bọ xít muỗi còn hại trên các cây xim, mua, ổi * Triệu chứng gây hại - Bọ xít muỗi dùng vòi châm hút nhựa búp chè gây nên các vết châm, lúc đầu có màu chì, sau chuyển dần thành màu nâu đậm. Vết châm có hình nhiều góc cạnh. Vết châm của sâu non nhỏ và nhiều hơn so với sâu trưởng thành. Bọ xít muỗi non gây hại nhiều hơn bọ xít trưởng thành. Búp chè có nhiều vết châm bị cong queo, thui đen, không cho thu hoạch. Cây chè bị hại nặng lá biến màu xanh đen, thường phát sinh bệnh sùi cành chè làm cho cây chè suy yếu và chết khô. * Đặc điểm hình thái - Trưởng thành dài 4-5 mm, con đực nhỏ hơn con cái, con cái có màu xanh lá mạ, con đực có màu xanh lơ, râu dài, trên bụng có một cái chùy nghiêng về phía bụng - Trứng hình bầu dục hơi phình to ở giữa, màu trắng trong. Phía đầu nhỏ của trứng có 2 sợi lông dài không bằng nhau. Hai sợi này nhô ra ngoài mô cây. - Sâu non tuổi 1 màu vàng đồng nhất, có nhiều lông, cuối bụng cong về phía lưng. Sâu tuổi 5 (đẫy sức) có màu xanh ánh vàng, chùy, mầm cánh màu vàng. * Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại 80
  81. - Thích sống ở những nơi râm mát, rậm rạp, di động nhanh - Bọ xít sau khi hóa trưởng thành được 2-6 ngày thì bắt đầu giao phối, sau giao phối 1-3 ngày thì bắt đầu đẻ trứng. Trứng được đẻ vào phần búp non, cũng có khi vào gân giữa lá non thành từng quả riêng lẻ hoặc thành từng cụm 2-3 trứng. Một con có thể đẻ được 12-74 trứng - Bọ xít muỗi có 5 tuổi, mỗi năm có 8 lứa. Bọ xít thường hại nặng vào các tháng mưa nhiều. - Thời gian phát dục của bọ xít non từ 11-19 ngày, của trưởng thành từ 11-16 ngày, của trứng từ 5-10 ngày. Trung bình vòng đời của bọ xít từ 27 - 45 ngày. - Quy luật phát sinh gây hại của bọ xít có liên quan đến yếu tố sinh thái + Điều kiện thích hợp: nhiệt độ 20-29oC, ẩm độ > 90 % + Chè trồng trong điều kiện có cây chè bóng bị hại nặng hơn chè dãi nắng + Chè từ tuổi 3 trở lên đều có thể bị hại và nặng nhất trong điều kiện thâm canh tăng năng suất + Giống chè Trung du bị hại nặng hơn giống khác (Atshan, Manipua ) - Trong năm có nhiều lứa bọ xít nhưng 3 thời kỳ gây hại chính là: + Tháng 4-5: phát sinh gây hại ít + Tháng 7-8: phát sinh nhiều, gây hại nặng + Tháng 10-12: phát sinh nhiều, gây hại nặng * Biện pháp phòng trừ - Làm sạch cỏ dại, phát quang bụi rậm quanh nương chè - Trồng cây che bóng hợp lý 81
  82. - Hái bỏ những búp chè bị hại, đốn đau, đốn lửng lô chè bị hại nặng - Phun thuốc trừ như đối với rầy xanh khi các vết châm nhỏ li ti thì hiệu quả sẽ cao. Sau phun 7 ngày có thể hái chè. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hoàng Thị Hợi. Giáo trình Côn trùng nông nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001. 2. Nguyễn Công Thuật, Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1996. 3. Phạm Thị Thùy. Công nghệ sinh học trong Bảo vệ thực vật. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2004. 4. Viện Bảo vệ thực vật, Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật. Tập I: Phương pháp điều tra cơ bản dịch hại nông nghiệp và thiên địch của chúng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1997. 5. Viện Bảo vệ thực vật, Phương pháp nghiên cứu bảo vệ thực vật. Tập III: Phương pháp điều tra, đánh giá sâu, bệnh, cỏ dại, chuột hại cây trồng cạn. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2000. 6. Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông nghiệp I – Giáo trình Côn trùng Đại cương và côn trùng chuyên khoa. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001. 7. Robert E. Pfadt, 1985. Fundamentals of Applied Enthomology. United States of America. 742 pp. 8. Nguyễn Đức Khiêm, Giáo trình côn trùng NN. NXB Nông nghiệp, 2006 82