Bài giảng Bò sát (Phần 1 )
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Bò sát (Phần 1 )", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
bai_giang_bo_sat_phan_1.pdf
Nội dung text: Bài giảng Bò sát (Phần 1 )
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 1 ) Sự tiến hoá của bò sát (Reptilia) Thằn lằn sọ đủ có thể coi như là nguồn gốc của tất cả bò sát chính. Sự tiến hoá của các nhóm nầy về cơ bản thích nghi với đời sống hoạt động nên bộ xương trở nên nhẹ và chắc hơn: chi dài, số đốt sống chậu tăng (ít nhất có 2 đốt) đai vai nhẹ. Ðặc biệt sọ nhẹ nhờ tiêu giảm các xương bì để hình thành hố thái dương. Hố này là chỗ bám của cơ nhai. Các hố thái dương được hình thành theo 2 cách chủ yếu: một đôi hố thái dương hoặc 2 đôi hố thái dương. Do đó dựa vào hố thái dương mà toàn bộ bò sát có thể chia làm 4 nhóm: 1. Nhóm không cung (Anapsida) Giáp sọ nguyên vẹn (không có hố thái dương) gồm thằn lằn sọ đủ và rùa. Rùa là bò sát cổ nhất ở kỷ Tam diệp rùa có cấu tạo tương tự như ngày nay. 2. Nhóm một cung trên (Euryapsida) Giáp sọ có một đôi hố thái dương nằm ở phía trên cung thái dương được hợp bởi xương sau ổ mắt và xương vảy gồm thằn lằn Cổ rắn (Plesiosauria) và thằn lằn Vây cá (Ichthyosauria). Thằn lằn cổ rắn dài từ 2,5 - 15m sống ở biển, có da trần, thân dẹp, chi khoẻ hình bơi chèo, cổ dài, đầu nhỏ, đuôi ngắn. Thằn lằn vây cá chuyển hoá với đời sống ở dưới nước hơn thằn lằn cổ rắn; dài từ 1 - 14m, có da trần, hình thoi, cổ không rõ ràng, đầu dài, đuôi dị hình chi hình bơi chèo ngắn, chi sau nhỏ hơn chi trước, ăn cá. 3. Nhóm một cung bên (Synapsida) Giáp sọ có một đôi hố thái dương nằm ở trên cung thái dương hợp bởi xương gò má và xương vuông gồm bò sát hình thú (Theromorpha) bắt nguồn trực tiếp từ thằn lằn sọ đủ. Chúng có bộ hàm khoẻ với cơ hàm phát triển, răng nằm trong lổ chân răng, song đốt sống vẫn lõm hai mặt. Ðến cuối kỷ Permi, xuất hiện bò sát hình thú cao (Theriodonta), chúng mang nhiều đặc điểm của thú như bộ răng đã phân hoá thành răng cửa, răng nanh và răng hàm, có khẩu cái thứ sinh, lồi cầu chẩm ngăn đôi, xương răng rất lớn át các xương khác của hàm dưới. Có thể kể Cynognathus một dạng ăn thịt ít chuyển hóa, Inostrancevia ăn thịt chuyên hoá. Vào cuối kỷ Tam diệp, các bò sát hình thú bị tiêu diệt
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - do sự cạnh tranh của các bò sát khổng lồ ăn thịt. Có lẻ một hay một số loài hình thú nào đó là nguồn gốc trực tiếp của lớp thú hiện nay. 4. Nhóm hai cung (Diapsida) Giáp sọ có hai đôi hố thái dương, bao gồm tất cả những loài bò sát hiện nay. - Chủy đầu (Prosauria) là nhóm bò sát nguyên thủy được biết từ kỷ Tam diệp. Di tích cổ nhất là Hatteria (Sphenodon punctatus) còn tồn tại đến ngày nay. - Nhóm Pseudosuchia bắt nguồn từ chủy đầu, có răng nằm trong lổ chân răng, đa số vận chuyển bằng chi sau. Nhóm nầy gồm rất nhiều dạng và phân hoá thành nhiều nhánh trong đó có 3 nhánh phát triển mạnh mẽ ở kỷ
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Juria và bạch phấn. Ðó là cá sấu (ở nước), thằn lằn khổng lồ (ở cạn) và thằn lằn cánh (ở trên không). + Cá sấu xuất hiện vào cuối kỷ Tam diệp, có mõm và khẩu cái thứ sinh còn ngắn, đốt sống lõm hai mặt. Ðến kỷ Bạch phấn xuất hiện các dạng cá sấu như hiện nay. + Thằn lằn khổng lồ (Dinosauria) là nhánh đa dạng nhất thời đó, kích thước thay đổi từ 1 - 30m, các thằn lằn khổng lồ nặng đến 40 - 50 tấn, có dạng chuyển vận bằng bốn chân, có dạng bằng hai chân sau, song tất cả đều có sọ nhỏ. Thằn lằn khổng lồ chia làm hai bộ là bộ Hông thằn lằn và bộ Hông chim khác nhau chủ yếu ở cấu tạo đai hông. * Bộ thằn lằn khổng lồ Hông thằn lằn (Saurischia) khởi đầu gồm các dạng ăn thịt có kích thước trung bình, di chuyển bằng hai chi sau, hai chi trước để bắt mồi hay cầm thức ăn, đuôi dài là chỗ tựa cho cơ thể, điển hình là thằn lằn sừng (Ceratosaurus). Tiếp đó xuất hiện các dạng ăn thực vật, đi bằng bốn chân dài bằng nhau có kích thước khổng lồ như thằn lằn sấm (Brontosaurus) dài 20m, nặng 30 tấn, thằn lằn hai óc (Diplodocus) dài 26m. * Bộ thằn lằn khổng lồ Hông chim (Ornithischia) có đai hông giống chim, có kích thước không lớn so với bộ trên nhưng rất đa dạng. Có bộ giáp phát triển đôi khi kèm theo sừng và gai. Ða số có răng ở phía sau hàm, phần trước hàm có lẽ phủ mỏ sừng. Tất cả đều ăn thực vật. Ðại diện thằn lằn nhông (Iguanodon) cao 5m - 9m , di chuyển bằng hai chi sau, thiếu giáp, sau đó xuất hiện đi bằng bốn chân như thằn lằn gai sống (Stegosaurus) dài 6 m có hai hàng tấm xương tam giác dọc sống lưng và nhiều gai nhọn ở đuôi; thằn lằn ba sừng (Triceratops) có hình dạng tê giác, một sừng lớn ở mõm, một sừng nhỏ phía trên mặt và nhiều mấu nhọn ở cạnh sau sọ. Thằn lằn cánh (Pterosauria) giống chim và dơi, đốt sống gần với nhau, xương lưỡi hái lớn, xương chậu phức tạp, xương rỗng. Chi trước dài, có ngón thứ tư căng một màng da dính bên thân. Hàm dài có răng hay mỏ. Thằn lằn cánh có thể ăn cá và sống bờ đá của các vực nước, có loài cánh giương rộng đến 7m. - Các dạng có vảy (Squamala) bao gồm thằn lằn và rắn. Thằn lằn ở cạn xuất hiện từ kỷ Jura, còn rắn ở kỷ Bạch phấn. Bắt đầu chuyển sang kỷ Ðệ tam khi hầu hết bò sát bị tiêu diệt thì bộ có vảy đã phát triển và phân hoá thành nhiều họ còn tồn tại đến ngày nay. Nguồn gốc của Bò sát (Reptilia) ều kiện hình thành bò sát đâu tiên
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Vào cuối kỷ Thạch thán, khí hậu ấm và ẩm trên quả đất do những quá trình tạo sơn lớn trở nên khô ráo và nhiều vùng lớn trên quả đất trở thành sa mạc. Giới thực vật đầm lầy phong phú trước đó nay bị tiêu diệt gần hết chỉ để lại những cây mộc tặc khổng lồ và vài loại dương xĩ dạng cây. Những điều kiện sống như trên không phù hợp với lưỡng cư giáp đầu do đó đa số luỡng cư cổ bị tiêu diệt vào đầu kỷ Permi. Tuy nhiên một số lưỡng cư cổ đã phát sinh vài đặc điểm thích nghi với điều kiện sống mới sống ở cạn (da có lớp ngoài hóa sừng tránh được sự thoát hơi nước, khả năng sinh sản ở cạn (đặc biệt là cấu tạo trứng), não bộ phát triển tương đối cao) để trở thành các bò sát cổ. Sau khi hình thành, bò sát đã chiếm ưu thế ở ngay đầu đại trung sinh và tiến hóa theo nhiều hướng khác nhau: một số trở lại sống môi trường nước, một số có đời sống trên không trung. Vì vậy đại trung sinh được gọi là niên đại bò sát. Trứng không thấm nước của bò sát (Trứng có màng ối là sự kiện quan trọng nhất để bò sát thích nghi với điều kiện trên cạn): 1. Phôi; 2. Vỏ da; 3. Vỏ trong; 4. Túi niệu; 5. Túi nõan hoàng; 6. Màng ối Bò sát cổ xưa nhất Các loài bò sát cổ thuộc bộ thằn lằn Sọ đủ (Cotylosauria), từ cuối kỷ Thạch thán. Thằn lằn Sọ đủ có thân nặng nề dài từ vài centimet đến vài mét và mang nhiều đặc điểm nguyên thủy giống với lớp lưỡng cư như sọ phủ kín bởi những xương bì, để hở lổ mũi, mắt và lổ đỉnh (do đó có tên là sọ đủ). Di tích hóa thạch của thằn lằn sọ đủ cổ nhất là giống Seymouria
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - ở kỷ Permi. Cơ thể dài khoảng 0,5 mét, ngoài những đặc điểm của bò sát (cột sống, đai chi, đặc điểm của sọ ) nó còn giữ nhiều đặc điểm của lưỡng cư như: cổ không rõ ràng, răng nhọn dài, sọ giống lưỡng cư giáp đầu. Vì lẽ đó người ta xếp nó vào lớp lưỡng cư. Thằn lằn sọ đủ gồm nhiều loài, ăn thực vật và đa dạng. Có thể kể Pareiasaurus dài 2 - 3 mét, ăn thực vật. Ða số thằn lằn sọ đủ bị tiêu diệt vào cuối kỷ Permi.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 2 ) Đặc điểm thích nghi của Bò sát (Reptilia) Trong thiên nhiên bò sát có nhiều kẻ thù, vì vậy chúng phải có những biện pháp bảo vệ khác nhau. Với nhiều màu sắc, hình dạng và phương thức ngụy trang khác nhau. - Nhìn chung bò sát thường chạy trốn và tìm nơi ẩn nấp trước kẻ thù. Thằn lằn, rắn, đang rình mồi, nghe tiếng động thì bỏ mồi lủi nhanh vào bụi rậm hoặc các khe hốc thiên nhiên. Rùa đầm, rắn nước khi gặp nguy hiểm, lội xuống nước dấu kín vào trong bùn. - Nhiều loài rắn, thằn lằn có màu sắc nguỵ trang giống màu sắc của môi trường. Những loài sống ở đất bùn thân có màu chì để lẫn vào màu bùn (rắn liu điu, rắn giun ). Những loài sống trên cây thân có màu vỏ cây (tắc kè, cắc kè, cắc kè bay ). Những loài sống trong đám lá cây thì thân có màu xanh (rắn lục). Nhiều loài bò sát có khả năng thay đổi màu sắc cơ thể cho thích hợp với màu của môi trường, điển hình là tắc kè hoa và cắc kè. Thân của cắc kè (Calotes versicolor) có màu nâu, lục hoặc vàng tùy thuộc vào chúng ở trên cây, trong tán lá cây hoặc đang ở mặt đất. Tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu nhanh chóng và độc đáo. Chỉ trong giây lát màu sắc thân có thể đổi từ trắng sang vàng, da cam, từ xanh lá cây sang tím, nâu thẫm, đen. - Một số loài bò sát còn có thêm hình dạng giống sự vật chung quanh. Rắn lục dây giống dây leo trên cành cây. Rùa đầm có mai phủ rong rêu làm kẻ thù không phát hiện được khi bơi dưới nước. Những hoa văn trang trí trên thân của nhiều loài bò sát giúp chúng ẩn mình khá dễ dàng. Một số loài bò sát lại có hình dạng nguỵ trang. Rắn trun cườm (Cylindrophis rufus) và rắn giun (Typhlops) có đầu và đuôi giống nhau khó phân biệt. Một số rắn lành có hình dạng giống rắn độc làm cho kẻ thù phải sợ thí dụ rắn hổ trâu (Ptyas mucosus) có thể bạnh cổ, dựng đứng phần trước thân, phun phì phì như hổ mang.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Loài Haloderma suspertum sống trên cát, có thể cắn người (theo Hickman) Loài Leptophis ahaetulla sống trên cây có màu xanh (theo Hickman) - Một số loài bò sát có hiện tượng giả chết: Nhiều loài rắn cây khi gặp nguy hiểm, buông mình rơi xuống đất, giả chết để đánh lừa kẻ thù. Rùa hộp khi gặp nguy hiểm rút đầu, co chân, đuôi vào trong hộp. - Nhiều loài bò sát có phản ứng tự vệ đối địch, chống lại kẻ thù một cách chủ động: + Màu sắc dọa nạt: Một số loài thằn lằn và rắn có thể phơi những phần cơ thể sặc sỡ và hình thù kỳ dị để dọa nạt kẻ thù. Chúng có thể há to miệng nếu miệng có màu đỏ hay xanh; hoặc phình rộng mảng da hai bên cổ để lộ phần trước thân rực rỡ giữa đám vảy. Cắc kè (Calotes versicolor) khi giận dữ có thể bạnh cổ rất lớn, màu đỏ sau da cổ lộ ra rất ghê rợn. Nhông
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - (Leiolepis) bình thường màu vàng, có đốm đen nhìn rất hiền lành. Khi gặp nguy hiểm, nó xẹp bụng xuống cát làm nổi những vạch đen lơ và da cam sặc sỡ ở hai bên thân. Nhông châu Úc khi đe doạ kẻ thù phồng má há miệng rất to, lộ khoang miệng màu đỏ rực và chiếc lưỡi màu xanh. + Hành động thay đổi hình dạng: Nhiều loài rắn hay thằn lằn có thể phồng hay xẹp thân để đe doạ đối phương. Rắn hổ mang bạnh da hai bên cổ , phun phì phì, trên cổ có một đến hai vòng tròn như con mắt. Rắn đầu to (Platysternum) có đầu to đặc biệt và đuôi khá dài. Khi tức giận hoặc sợ hãi, màng nháy ở mắt kèo rộng ra, phủ kín hai mắt thành hai điểm màu trắng để dọa kẻ thù. Một số loài thằn lằn dựng ngược hàng gai sống lưng. Cự đà cây (Narops auratus) khi giận dữ có thể phình to toàn thân gấp nhiều lần. Tắc kè hoa cũng có thể phình to thân. + Hành động chuẩn bị tấn công: Một số loài rắn khi gặp nguy hiểm không lẫn trốn, lại vươn cao đầu lên như muốn ứng chiến. Rắn đuôi kêu (Crotalus) khi gặp nguy hiểm, rắn cuộn thân lại, dựng phần đuôi lên đe dọa kẻ thù, phần truớc thân cong lại hình chữ S, đầu ngả về phía sau, phun phì phì. + Vũ khí để tấn công: Một số loài rắn (rắn giun) dùng đuôi nhọn và cứng đâm kẻ thù, hoặc quật đuôi vào kẻ thù (kỳ đà, cá sấu). Thằn lằn, cá sấu, rắn, ba ba cắn kẻ thù, đặc biệt rắn độc có thể cắn chết kẻ thù. Những loài thằn lằn có gai ở đầu và cổ, có sừng ở đầu thì dùng gai và sừng để chiến đấu. Một số loài thằn lằn, rắn như trăn đỏ đuôi đen (Trapidophis) ở châu Mỹ khi bị bắt và bị đau từ miệng trăn phóng ra một tia máu. + Một số loài bò sát có khả năng tiết ra những chất có mùi hôi để xua đuổi kẻ thù. Những tuyến bài tiết các chất này ở phía sau lỗ huyệt thường được gọi là tuyến hậu môn. Tuyến hậu môn ở cá thể cái thường to hơn cá thể đực. Rắn ráo, rắn sọc tiết ra chất bài tiết rất khó chịu, mùi giữ lại hàng giờ không tan. Một số loài rùa có tuyến hậu môn và tuyến yếm dùng để xua đuổi kẻ thù. Một số loài rắn nước và rùa khi gặp nguy hiểm thì thải phân có mùi rất khó chịu làm cho kẻ thù phải xa lánh. + Vài loài bò sát khi gặp nguy hiểm phát ra các âm thanh để cảnh cáo kẻ thù (rắn hổ mang chúa, cá sấu, thằn lằn ) do cơ quan âm thanh phát ra (thường không phát triển). Một số loài lại dùng các bộ phận khác phát ra âm thanh. Rắn đuôi kêu phần đuôi có một đoạn hóa sừng chồng lên nhau khi rắn bò phần đuôi này khi va chạm với các vật thể chung quanh sẽ phát ra tiếng kêu. Trăn mốc, rắn lục có phần đuôi biến đổi có thể gõ xuống đất hoặc cành lá khô để phát ra âm thanh.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - + Vài loài rắn độc có thể phun nọc độc ra ngoài. Rắn hổ mang có thể phun nọc vào mắt kẻ địch cách xa hàng mét và làm hỏng mắt. - Hành động đứt đuôi hoặc bong da để tháo chạy: Thằn lằn, rắn mối, tắc kè khi bị kẻ thù tấn công hoặc chộp được đuôi chúng sẽ tự rụng đuôi. Ðuôi đứt rồi khỏi cơ thể vẫn cử động một lúc làm cho kẻ thù tập trung vào mẩu đuôi đứt rời, còn con vật đứt đuôi thì trốn thoát. Chỗ đuôi bị đứt có mọc lại đuôi mới. Vài loài tắc kè không đứt đuôi mà bong luôn chỗ da bị kẻ thù tóm được, chỗ bị bong sẽ nhanh chóng hình thành lớp da mới. Nguồn thức ăn của Bò sát (Reptilia) Theo nguồn thức ăn, bò sát được chia thành ba nhóm : bò sát ăn thực vật, bò sát ăn thịt, bò sát ăn tạp. Thành phần thức ăn của mỗi nhóm rất đa dạng. Thành phần thức ăn của mỗi nhóm bò sát như sau : - Nhóm ăn thực vật: Thường có ít loài, gồm một số loài thằn lằn và rùa. Rùa cạn thường ăn lá cây, quả. Rùa nước ngọt ăn cỏ thủy sinh, một số rùa biển ăn rong rêu. Loài Amblyrhychus orstatus đang ăn tảo bám trên đá (theo Hickman) Rất ít loài rắn ăn thực vật, trường hợp duy nhất ăn thực vật được biết là rắn râu (Herpeton tentaculatum) ở miền Nam nước ta, sống trong các ao hồ, vực nước có nhiều tảo xanh. Nhóm thằn lằn ăn thực vật cũng hiếm,
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - một số ít loài ăn lá cây, có loài thằn lằn sần (Trachysaurus rugosa) ở châu Úc ăn quả dâu và nấm độc. - Ða số các loài bò sát ăn thịt: Mỗi loài bò sát đều có một số đối tượng thức ăn chủ yếu. Các loài sống trên cây chủ yếu ăn các loại côn trùng, ngoài ra ăn nhện, giun đất (thằn lằn, rắn giun) rắn nước, rắn biển ăn cá, nhái, ếch Rắn ráo ăn chuột, trăn có thể ăn thú lớn. Một số loài rắn độc ăn rắn nhỏ. Ở nhiều loài bò sát có hiện tượng ăn thịt đồng loại, con lớn nuốt con nhỏ. Người ta đã quan sát được nhiều trường hợp thằn lằn bố mẹ ăn ngay con vừa nở từ trứng, thạch sùng bố mẹ đuổi bắt thạch sùng con. Một số loài rắn chuyên ăn trứng chim. Rắn ăn trứng châu Phi (Drasypeltis) chuyên ăn trứng chim dài khoảng 60 - 70cm, thân chỉ bằng ngón tay nhưng vẫn có thể nuốt được trứng gà. Rắn này có răng yếu nhưng đốt sống cổ có mấu khá lớn. Khi nuốt trứng vào đến vùng cổ thì thực quản co lại, mấu này ép vào thực quản làm vỡ vỏ trứng, rắn nuốt lòng trứng và nôn vỏ trứng ra ngoài. Ở nước ta có rắn sọc dưa (Elaphe radiata), rắn hổ mang (Naja) cũng có mấu đốt sống cổ thứ nhất ấn vào thực quản làm trứng lọt xuống dạ dày. - Bò sát ăn tạp: Tương đối ít loài. Ba ba ăn cá, cua, ốc, củ, lá cây Rùa mốc ăn thực vật thủy sinh, côn trùng, giáp xác, thân mềm, ếch, nhái. - Thành phần thức ăn của bò sát thay đổi tuỳ theo điều kiện sống. Rắn sống gần ao cá, thức ăn chủ yếu là cá, nhưng cũng loại rắn đó sống ở nơi ít ao hồ hơn thì tỷ lệ ăn cá cũng rất ít. Ở nhóm thằn lằn, phần lớn thức ăn vào mùa lúa chín là cào cào và châu chấu, ứng với thời kỳ phát triển của những loài này trên đồng ruộng. Sau mùa gặt hái, cào cào và châu chấu hiếm dần, thằn lằn phải đi kiếm những loại côn trùng khác để ăn. Thành phần thức ăn của bò sát còn thay đổi tuỳ theo sự chọn lựa thức ăn ở mỗi lứa tuổi. Cá sấu còn non ăn động vật không xương sống. Khi trưởng thành lại lựa chọn những thức ăn là động vật có xương sống, kể cả những mồi lớn như trâu, bò. Rắn sọc dưa (Elaphe) lúc mới nở chỉ ăn sâu bọ. Khi đã lớn lên một chút, loài này ăn thêm ếch, nhái. Khi cơ thể đạt được kích thước nhất định, rắn sọc dưa chuyển sang ăn chuột, chim và trứng chim. Một số loài thằn lằn, rùa lúc mới nở chỉ ăn sâu bọ. Khi đã lớn lại ăn lá cây và quả. Do khả năng tiêu hóa thức ăn nhanh, bò sát rất phàm ăn. Những loài bò sát có kích thước nhỏ đòi hỏi thức ăn thường xuyên hơn so với những loài bò sát có kích thước lớn. Thằn lằn nhỏ có thể săn bắt mồi suốt ngày. Rùa con ăn liên tục. Số lượng thức ăn của rắn và trăn rất lớn. Trăn mắt võng dài 6,7m, 1 năm ăn 30 bữa gồm 10 dê - 17 vịt. Rắn nước 1 năm ăn 40 bữa gồm 200 con cá. Rắn hổ mang, 1 năm 30 bữa gồm 90 chuột.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Khả năng nhịn ăn của bò sát rất đáng kể, nhiều loài bò sát khi ngủ hè thì nhịn ăn. Nhiều loài bò sát như cá sấu và thằn lằn cỡ lớn có thể nhịn ăn hàng tháng vẫn bình thường. Rắn sọc dài (Elaphe longissima) nhịn ăn trong khoảng 660 ngày (22 tháng), rắn nước (Natrix) từ 116 - 811 ngày. Trăn mắt võng nhịn ăn được hai năm rưỡi và khi chết đói mắt hẳn hai phần ba trọng lượng cơ thể ban đầu. Khả năng nhịn ăn của rắn gắn liền với nhu cầu nước uống. Rắn nước (Natrix) vừa nhịn ăn vừa nhịn khát, có thể sống khoảng 36 ngày và giảm 33% trọng lượng cơ thể ban đầu. Nếu nó được cung cấp đầy đủ nước uống và không ăn, có thể sống trung bình khoảng 116 ngày, có trường hợp đến 311 ngày. Khả năng nhịn ăn của rắn gắn liền với sự thay đổi nhiệt độ không khí. Rắn nước đang nhịn ăn, nếu tăng nhiệt độ không khí lên 100C thì khả năng nhịn ăn của nó giảm và số ngày có thể nhịn ăn cũng giảm một nửa. Trong thời gian giao phối, rắn đực nhịn ăn. Trong khi lột xác, cả rắn đực và rắn cái đều bỏ ăn. Khi rắn nhịn ăn lâu ngày, thành dạ dày thoái hóa, mất khả năng tiêu hóa. Những rắn nở ra vào cuối mùa hè, phải nhịn ăn suốt mùa đông, sang mùa xuân thời tiết thuận lợi có nhiều thức ăn nhưng rắn vẫn chết do mất khả năng tiêu hóa.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 3 ) Chu kỳ hoạt động mùa ở Bò sát (Reptilia) Ở vùng ôn đới, nhiệt độ biến động rõ rệt qua các mùa do đó hoạt động mùa của bò sát rất rõ ràng. Ở vùng nhiệt đới sự biến động nhiệt độ càng ít và bò sát gần như hoạt động quanh năm. Mùa đông lạnh lẽo ở vùng ôn đới hoặc hàn đới bắt buộc nhiều loài bò sát phải ngủ đông, thời gian này kèo dài từ 5 đến 7 tháng, có khi 8 đến 9 tháng ở vùng cực Bắc. Thông thường người ta có thể tìm thấy số lượng cá thể khá lớn cùng loài nằm chen chúc với nhau thành đàn trong một hang để ngủ đông. Chính vì thế, vào những ngày quá rét khi lật các ổ rơm hoặc đệm cỏ sẽ thấy một đàn rắn quấn chặt lấy nhau, không nhúc nhích. Tại Ðan Mạch đã có lần người ta phát hiện ở dưới một gốc cây cổ thụ có hàng trăm rắn lục đang ôm chặt lấy nhau và ngủ mê man. Ở trong hang rắn ngủ đông thường chỉ có một loài rắn nhưng cũng có khi có vài loài (trong một hang rắn hổ mang sống chung với rắn ráo, rắn cạp nong). Ở miền nhiệt đới nóng nực quanh năm, bò sát không có hiện tượng trú đông. Nhưng ở những nơi có sự phân mùa khí hậu rõ rệt như ở miền Bắc nước ta, bò sát có hiện tượng trú đông. Trong những ngày lạnh, bò sát ẩn trong hang để tránh rét, không hoạt động, có nhu cầu năng lượng giảm xuống nhưng vẫn tỉnh. Trong thời gian trú đông, gặp những ngày thời tiết ấm áp chúng vẫn bò ra kiếm ăn. Lúc trú đông, chúng thường
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - tập trung thành từng đàn từ 2 - 10 con (tắc kè, rắn hổ mang) nhưng cũng có khi lên đến 24 con rắn hổ mang. Ở một số loài bò sát có hiện tượng trú khô (tháng chạp đến tháng ba). Hiện tượng này không liên quan đến độ ẩm như ở lưỡng cư mà do thiếu thức ăn. Vào mùa này, rùa núi vàng (Testudo elongata) rúc vào nơi trú ẩn, không cử động và không ăn uống, nhưng không ngủ. Ðến hết mùa khô, bắt đầu có mưa thì loài rùa này trở lại hoạt động bình thường. Một số bò sát ở vùng nhiệt đới lại có hiện tượng ngủ hè để tránh nóng. Chúng tìm nơi thuận tiện để ngủ qua mùa hè. Rùa vàng Trung Á (Testudo horsfeldi) vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 nó đào đất để tạo hang, chui vào đó ngủ hè. Trường hợp này không phải do yếu tố nhiệt độ cao mà do thực vật làm nguồn thức ăn cho rùa không còn, do không có thức ăn nên rùa phải ngủ hè. Ở những vùng khác vẫn đủ thức ăn vào mùa hè, thì rùa vàng Trung Á không trải qua giấc ngủ hè. Trong lớp bò sát, nhóm rắn hoạt động không theo quy luật rõ ràng. Rắn là động vật ăn mồi lớn, nên thức ăn là nhân tố quyết định sự hoạt động của chúng. Sau khi đã nuốt con mồi lớn, có khi chiếm 2/3 đến 3/4 trong lượng cơ thể của nó, rắn có thể nằm ở nơi trú ẩn hàng tuần hay hàng tháng. Khi đói, rắn bò đi kiếm ăn bất cứ lúc nào. Chu kỳ hoạt động ngày đêm ở Bò sát (Reptilia) Chu kỳ hoạt động ngày đêm của bò sát phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ và phần nào liên quan đến thức ăn. Bò sát hoạt động khi có nhiệt độ môi trường phù hợp nhất, nói chung bò sát thích nhiệt độ cần lấy thêm nhiệt độ vào cơ thể. Do đó chúng thường chỉ hoạt động ở nhiệt độ thuận lợi nhất trong ngày. Giới hạn nhiệt độ thay đổi tuỳ loài và tùy vùng phân bố và trong khoảng 20 - 400C. Hầu hết các loài bò sát vùng ôn đới đi kiếm mồi vào ban ngày, trừ một số ít hoạt động vào lúc hoàng hôn, chỉ có họ tắc kè là đi ăn đêm. Ða số bò sát vùng nhiệt đới đi ăn đêm vì ban ngày khí hậu quá nóng.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Ở nước ta, nhiều loài thằn lằn (rắn mối, kỳ đà, nhông, ) và phân nửa số loài rắn (đa số trong họ rắn nước) đi ăn ngày. Một số ít loài thằn lằn (thằn lằn, tắc kè) nhiều loài rùa, một số ít loài rắn độc đi ăn đêm. Khi hoạt động ngày, bò sát thường chọn sinh cảnh có nhiệt độ thích hợp nhất. Ví dụ sự hoạt động ngày đêm của rắn mối (Mabuya) theo một biểu thời gian nhất định trong ngày. Rắn mối sống trong các hang, hốc cây, khe ngách, đi kiếm ăn từ sáng đến chiều, nhưng hay phơi nắng vào khoảng từ 8 - 10 giờ. Vào giữa trưa (12 - 15 giờ) nó thường chui vào chỗ râm mát để tránh nắng. Sau đó rắn mới trở lại hoạt động gần hang và khoảng 17 giờ, rắn mới chui vào hang. Sự hoạt động ngày đêm ở rùa vàng (Testudo) như sau: 6 giờ sáng rùa còn ở trong hang, 6giờ 30 - 8giờ 30 rùa ra khỏi hang để sưởi ấm, 8 giờ 30 - 11giờ 30 rùa rời hang để đi kiếm mồi, 11giờ 30 - 16 giờ 30 rùa quay về hang và ở trong đó suốt đêm. Do khả năng chọn nhiệt độ thích hợp như vậy mà cơ thể bò sát không bị hun nóng quá mức và thân nhiệt không thay đổi nhiều. Ở rắn nhiệt độ thích hợp nhất từ 180C - 300C, khi nhiệt độ giảm đến 100C rắn ít hoạt động. Nếu cho rắn sống ở môi trường có nhiệt độ 400C thì một thời gian sau rắn sẽ chết. Hoạt động ngày đêm phụ thuộc vào mùa, tuổi và đặc điểm sinh lý. Rắn mối ở miền Bắc vào mùa xuân và mùa thu chỉ hoạt động từ 8 - 9 giờ đến 15 giờ - 16 giờ và không có hiện tượng trú râm vào buổi trưa. Về mùa đông, chúng hoạt động bất thường, ban ngày chỉ đi kiếm ăn những khi nắng ấm. Ở nhiều loài bò sát ở miền Bắc, mùa hè hoạt động vào ban đêm vẫn có thể hoạt động ban ngày vào mùa xuân. Mùa hè rắn hổ mang đi kiếm ăn từ sẩm tối đến nửa đêm. Mùa xuân thời tiết ấm áp rắn hổ mang đi kiếm ăn cả ban ngày. Khi đói, dù nhiệt độ bên ngoài có xuống thấp, rắn cũng vẫn bắt buộc ra khỏi hang để tìm mồi. Rắn hổ mang non (1
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - tuổi) đi kiếm ăn vào ban ngày. Khi nuốt mồi quá to rắn có thể không đi kiếm ăn vài ngày liền. Yếu tố thức ăn đã thúc đẩy các loài bò sát có đời sống theo thời gian riêng của mình và chủ động điều chỉnh biểu thời gian cho phù hợp với tình hình xuất hiện của con mồi. Thằn lằn không chân thường kiếm mồi vào lúc hoàng hôn nhưng những ngày có mưa rào lúc ban ngày do côn trùng xuất hiện nhiều cũng ra kiếm ăn. Hoạt động ngày đêm của bò sát bị thúc đẩy bởi nhu cầu sưởi nắng. Trong những ngày mùa đông , thỉnh thoảng có vài ngày nắng ấm, đó là ngày hội của nhiều loài bò sát. Chúng rời hang bò đến những chỗ kín gió, nhiều nắng và yên tĩnh để sưởi ấm, thu lấy nhiệt lượng. Ở trên núi cao nhiệt độ không khí -50C, nhiệt độ mặt đất +50C, song nếu có những tia nắng mặt trời thì nhiệt độ của cơ thể thằn lằn được sưởi ấm lên đến 190C. Phát triển hậu phôi ở Bò sát (Reptilia) Nhiều loài bò sát sau khi nở lớn rất nhanh, có khi trong vòng 8 tuần đã lớn gấp đôi so với mới nở, sau đó tốc độ lớn của chúng chậm lại và dừng lại ở giai đoạn trưởng thành. Cá sấu Mỹ mới nở dài 20 cm, sau 1 năm dài 67cm, 2 năm kích thước thân 1,2m. Cá sấu đực 6 tuổi dài 1,8m - 2,5 m, cá sấu cùng tuổi dài 1,6m - 1,8m. Cá sấu đực 9 tuổi dài 3m. Trăn khi mới nở dài 0,6m, 1 tuần dài 1,5m, 2 tuần dài 2m, 3 tuần dài 2,5m, 4 tuổi dài 2,9m và 5 tuổi dài tới 3,3m. Rắn hổ mang ở nước ta khi mới nở dài 2cm, 1 năm dài 45cm, 2 năm dài 58 - 85cm, 3 năm dài 90 - 95cm, khoảng 3 năm rưởi thì rắn trưởng thành có thể tiến hành giao phối và sinh đẻ. Khi đã trưởng thành sinh dục, một số loài bò sát ngừng lớn. Ở rắn thì vẫn tiếp tục lớn nhưng rất chậm. Tốc độ tăng trưởng không giống nhau ở con đực và con cái. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng như thức ăn, nhiệt độ và ánh sáng. Một số loài thằn lằn (tắc kè) thành thục sau 1 năm, rùa từ 2 - 5 năm; cá sấu khoảng 8 năm. Rắn có kích thước nhỏ thành thục sớm hơn loài có kích thước lớn, rắn đực thành thục sớm hơn rắn cái (rắn đực khoảng 2 - 4 năm, rắn cái từ 4 - 6 năm). - Việc xác định tuổi thọ của các loài động vật hoang dại trong đó có lớp bò sát là rất khó. Người ta ít có điều kiện để biết một con vật ngay từ lúc mới nở đến khi con vật chết bình thường trong hoàn cảnh sống trong thiên nhiên. Tuổi thọ của nhiều loài bò sát chỉ là số liệu tương đối: Tắc kè
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - khoảng 7 năm, rắn hổ mang khoảng 12 năm, trăn khoảng 20 năm, cá sấu 56 năm. Rùa cạn sống lâu nhất, có loài lên đến 300 năm. Phát triển phôi ở Bò sát (Reptilia) Một đặc điểm rất quan trọng ở bò sát là trứng có màng ối. Trứng này có màng và vỏ bảo vệ, có thể được đẻ trong đất. Trứng có màng ối của các động vật có xương sống ở cạn như bò sát và chim có 4 lớp màng là màng ối, túi niệu, túi noãn hoàng, màng đệm và ngoài cùng là lớp vỏ. Màng ối bao bọc một buồng có đầy dịch, chứa phôi giúp cho phôi tiếp tục phát triển trong môi trường nước mặc dù trứng được đẻ trên cạn. Túi niệu là nơi tiếp nhận các chất thải của phôi đang phát triển. Các mạch máu của chúng nằm gần vỏ giữ chức năng trao đổi khí. Túi noãn hoàng chứa noãn hoàng là nguồn thức ăn cho phôi. Màng đệm là lớp màng ngoài cùng bao quanh phôi và các màng khác. Giống như bò sát và chim, thú cũng thụ tinh trong, phôi cũng có 4 lớp màng nhưng không có vỏ và không được đẻ ra. Phôi non và các màng của chúng được giữ lại trong một buồng đặc biệt của ống sinh dục cái. Ở đây sự phát triển phôi được hoàn tất và cá thể con được đẻ ra. - Trứng bò sát phân cắt hình đĩa, sự phôi vị hóa khác với loại trứng nhiều noãn hoàng, phân cắt hình đĩa của chim và thú: Quá trình dày lên và lõm vào của phôi không xảy ra ở cạnh đĩa phôi mà ở phía trong cạnh đó. Quá trình này phát sinh trung bì, do đó xoang vị có tên là túi trung bì. Nội bì hình thành trước trung bì do quá trình biệt hoá các tế bào noãn hoàng. Trong quá trình phát triển phôi có hình thành các màng phôi, nhờ đó phôi của bò sát, chim và thú phát triển trực tiếp thành con non không qua giai đoạn ấu trùng. - Sự hình thành các màng phôi như sau: Xung quanh phôi có một nếp vòng, phát triển dần và gắn 2 đầu với nhau, bao lấy phôi làm thành 2 lá liên tục: Lá ngoài là màng serosa, bao bọc toàn bộ trứng. Lá trong hình thành nên màng ối (amnios), bên trong có khoang ối chứa dịch ối. Phôi nằm trong khối dịch ối nên không bị khô. - Khoang ối nhỏ, hẹp phôi không thể hô hấp và thải các chất do đó đồng thời với sự hình thành màng ối, có sự hình thành túi niệu (atlantois). Túi niệu được hình thành từ một nếp gấp ở phần sau của ruột phôi, lớn lên chiếm đầy khoảng trung gian giữa màng serosa và màng amnios. Túi niệu là nơi trao đổi khí, tích trữ các chất bài tiết, thành ngoài có nhiều mạch máu, thông với hệ thống lỗ trên vỏ trứng.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Phôi lớn dần lên, nối với túi noãn hoàng bằng dây rốn. Túi noãn hoang bọc lấy khối noãn hoàng, lấy chất dinh dưỡng nuôi phôi. Khi noãn hoàng hết, phôi có hình con thằn lằn nhỏ, chọc vỏ trứng để ra ngoài.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 4 ) Sự nở trứng và con non ở Bò sát (Reptilia) - Khi đã đến ngày nở, trước mõm của bò sát con có từ 1 - 2 răng phôi nhỏ (răng sữa) mọc ở phía trước hàm trên. Răng phôi này dùng để phá vở vỏ trứng để bò sát con chui ra ngoài. Sau khi con non lọt khỏi vỏ, răng phôi hết tác dụng sẽ tiêu biến đi trong khoảng vài giờ hoặc vài ngày. Tắc kè và thạch sùng non có 2 răng phôi to có lẽ vì trứng có vỏ cứng. Cá sấu nước lợ có 2 răng phôi, các loài cá sấu khác và rùa có 1 răng phôi. Ở các loài bò sát đẻ trứng thai (noãn thai sinh), con nở trong bụng mẹ, và cựa quậy phá rách võ trứng chui ra ngoài. Một số loài bò sát non cần phải có sự giúp sức của bò sát bố mẹ mới có thể lọt ra khỏi vỏ được. Thằn lằn sa mạc đẻ con (Xantusia) thằn lằn con đẻ ra còn ở trong bọc, khi đó thằn lằn mẹ phải dùng răng cắn rách màng bọc để lôi con ra ngoài. Cá sấu Mỹ làm ổ bằng bùn, rác và trét kín lại. Khi nghe thấy tiếng cá sấu con đã nở lục đục trong ổ, thì cá sấu mẹ phá tổ cho con ra ngoài. Cá sấu mẹ còn biết dẫn đàn con xuống nước. Rùa nước ngọt, đồi mồi non biết tìm thấy đường xuống nước nhờ những tia nắng mặt trời phản chiếu xuống nước. - Ngay từ khi mới nở, chui ra khỏi vỏ, bò sát non đã giống bố mẹ về hình dạng. Rắn độc non mới nở có thể hoạt động ngay, bò, leo, bơi lội và tự bắt lấy mồi ăn và có thể cắn người.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Nơi đẻ, bảo vệ và chăm sóc trứng - Bò sát thường đẻ trứng vào trong hốc đất thiên nhiên, khe đá hoặc do con cái đào. Vài loài thằn lằn (tắc kè, thạch sùng) đẻ trứng ở nơi kín đáo, khe đá, hốc cây và trứng dính vào đá hay vỏ cây. Rắn cái sau khi có chửa sắp đến ngày đẻ thường tìm đến hốc cây, khe đá, dưới đống lá rụng, bụi cây. Các loài bò sát sống ở nước (cá sấu, rùa ) cũng lên cạn để đẻ. Ðồi mồi bò lên bãi cát, bới cát thành hốc, đẻ trứng vào hốc, lấp hốc lại. Các cá thể cái cùng loài thường tìm đến một nơi để đẻ trứng, vì nơi đó có nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho trứng của loài đó phát triển. Vì vậy có lúc người ta phát hiện và thu được nhiều trứng đồi mồi, rắn, rùa ở một khu vực hẹp. - Thời gian trứng nở thay đổi tuỳ loài, tuỳ theo nhiệt độ môi trường từ 30 - 120 ngày. Vài loài thằn lằn cần 30 ngày để trứng nở, tắc kè cần 100 ngày. Trứng rắn nở sau 66 - 85 ngày, rùa từ 30 - 60 ngày. Riêng giống Chủy đầu (Hatteria) trứng cần 15 tháng mới nở. - Hiện tượng chăm sóc trứng thay đổi tùy loài. Một số loài bò sát như thạch sùng, kỳ đà sau khi đẻ trứng trong các hang hốc, không biết chăm sóc ổ trứng mà ngay khi con mới nở cũng không biết chăm sóc và bảo vệ con, đôi khi ăn cả con. Một số loài bò sát như cắc kè (Calotes versicolor) biết dùng đầu để xóa sạch những vết tích của hang chứa trứng. Vích, đồi mồi sau khi đẻ xong cũng biết xóa sạch dấu vết bằng cách dùng cát lấp hố lại. Rùa đào hang rất tài, rùa mẹ dùng chân sau để đào, nếu gặp đất quá cứng rùa mẹ biết đái vào đất làm cho đất mềm ra, rồi tiếp tục đào, cho đến khi thành ổ đẻ. Lổ cửa hang thường rất nhỏ, rùa mẹ biết dùng chân sau đưa dần trứng vào trong hang. Cá sấu (Crococylus porosus) làm
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - tổ bằng rác và cành cây ở bờ đầm, đẻ khoảng 25 - 60 trứng, rồi đào một hố cách tổ 1m, nằm trong đó canh trứng, thỉnh thoảng quẩy đuôi cho nước bắn lên tổ. Một số loài bò sát như rắn ráo, kỳ đà đã tìm đến tổ mối để đẻ trứng. Tổ mối có đủ nhiệt độ và độ ẩm ổn định như một lò ấp trứng, khi những con non nở ra có thể tìm ngay mối thợ và ấu trùng mối để ăn. Một số ít loài bò sát có khả năng ấp trứng thật sự, lấy thân quấn tròn đám trứng để ủ. Rắn hổ mang chúa (Ophiaphagus hannah) cái đẻ từ 20 - 40 trứng vào đống lá rụng, liền tìm một lớp lá khác để phủ lên trên, rồi cuộn tròn nằm ấp phía trên. Con đực cũng hoạt động gần đó để bảo vệ trứng. Lúc này chúng trở nên hung dữ, bất kỳ một loài động vật nào lại gần cũng đều bị chúng chủ động tấn công. Trăn cái (Python) dùng đuôi và cử động uốn mình của thân để vun trứng lại thành đống trứng hình nón. Sau đó trăn cái cuốn lấy toàn bộ ổ trứng vào trong khúc thân. Ở tư thế ấp trứng, đuôi trăn ở dưới, mình trăn cuộn lấy ổ trứng, còn đầu thì che phủ trên. Trăn ấp trứng trong 6 tuần và chỉ rời ổ trứng trong chốc lát để đi uống nước. Nhờ sự ấp này trăn đã tạo được nhiệt độ thích hợp và ổn định giúp cho phôi phát triển. Ðến ngày nở, trăn con đục vỏ trứng chui đầu ra trước. Nếu có tiếng động thì trăn con lại thụt đầu vào vỏ trứng. Cứ thập thò như vậy sau 2 - 3 ngày, trăn con mới rời hẳn vỏ. Thằn lằn (Emeces) biết sắp xếp lại ổ trứng khi thấy trứng vương vải, đảo trứng và thỉnh thoảng đi phơi nắng để lấy nhiệt vào cơ thể, để ủ trứng cho đến khi nở. Lứa đẻ, trứng, đẻ con ở Bò sát (Reptilia) - Trong vùng nhiệt đới mùa sinh sản của bò sát vào trước mùa mưa, còn ở vùng ôn đới mùa này xảy ra vào đầu mùa ấm. Thời gian có chửa kèo dài từ vài tuần đến vài tháng nhưng theo quy tắc ở các loài đẻ con dài hơn các loài đẻ trứng. Số lứa đẻ thay đổi tuỳ vùng. Ở vùng ôn đới, bò sát chỉ đẻ một lần trong năm.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Ở vùng hàn đới có loài phải 2 năm mới đẻ một lần. Ở vùng nhiệt đới, bò sát đẻ từ một đến bốn lứa trong một năm. Một số loài rắn, cá sấu, kỳ đà chi đẻ 1 lứa/1 năm. Một số thằn lằn (tắc kè, thạch sùng) và rùa (rùa mốc, rùa mai dẹp) đẻ hai lứa/năm, mỗi lứa đẻ hai trứng. Rắn ráo đẻ 4 lúa/năm. Các loài rùa biển (đồi mồi, vích ) và rùa sông (ba ba) đẻ ba đến bốn lứa. - Trứng bò sát lớn hơn trứng lưỡng cư và thường có hình bầu dục. Trứng tắc kè, thạch sùng, ba ba, đồi mồi lại có hình tròn. Trứng nhỏ nhất vào khoảng 2 - 3mm, trứng lớn nhất là của cá sấu, kỳ đà, rùa vào khoảng 90 - 120mm. Cỡ lớn của trứng tăng theo cỡ lớn của con vật. Số lượng trứng thay đổi tùy loài bò sát, nhìn chung bò sát ở cạn đẻ trứng ít hơn bò sát ở nước. Trong nhóm thằn lằn như tắc kè, thạch sùng đẻ hai trứng trong một lứa, cắc kè đẻ 6 - 10 trứng/lứa, kỳ đà 17 - 35 trứng/lứa, rắn hổ mang từ 8 - 23 trứng/lứa, cá sấu 25 - 60 trứng/lứa, ba ba 20 - 30 trứng/lứa; đồi mồi, vích đẻ hơn 100 trứng/lứa. Vỏ trứng thường dai mềm, chỉ có vỏ trứng của rùa cạn, thạch sùng, tắc kè, cá sấu, ba ba thì cứng do ngấm thêm calci. - Một số loài bò sát có hiện tượng đẻ con (noãn thai sinh = đẻ trứng thai) như rắn bông súng, rắn biển, rắn mối (Mabuya multifasciata). Trứng sau khi được thụ tinh vẫn được giữ lại trong ống dẫn trứng. Ở đó, phôi sẽ phát triển, lớn lên nhờ chất noãn hoàng (lòng đỏ) dự trữ của trứng. Khi đã được hình thành, bò sát con tự cắn rách lớp màng trứng rất mỏng, chui ra ngoài qua lổ huyệt. Số con thay đổi từ 2 - 100. Rắn biển đẻ 2 - 15 con. Rắn da cóc đẻ 70 - 72 con. Bằng cách đẻ con, bò sát bảo vệ được nòi giống tốt hơn, tránh được những điều kiện bất lợi của môi trường. Hiện tượng đẻ con này ít gặp ở
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - vùng nhiệt đới, chỉ thường gặp ở những loài sống trong vùng có khí hậu mát (vùng ôn đới, núi cao). Giao hoan, giao phối và thụ tinh ở Bò sát (Reptilia) 1. Hiện tượng giao hoan Trước khi giao phối, thường xảy ra hiện tượng giao hoan sinh dục. Hiện tượng này giúp cho đực và cái nhận biết nhau và kích thích cá thể cái trước khi giao phối. Ở cắc kè (Calotes versicolor) lúc múa giao hoan, con đực đứng thẳng hai chân sau, đầu lắc lư, miệng há ra ngậm lại nhịp nhàng, màu sắc thay đổi nhanh chóng. Tắc kè đực vảy đuôi làm dáng trước khi giao phối. Thạch sùng đực (Hemydactylus) chạy chung quanh con cái, thỉnh thoảng liếm hoặc lấy mõm chạm vào thạch sùng cái để vuốt ve. Thằn lằn đực (Lacerta agilis) khi đã tìm được thằn lằn cái, liền dùng mõm đập vào cổ, gáy, cọ những lổ đùi vào lưng đớp đuôi, đớp háng thằn lằn cái. Rắn hổ mang được nuôi ở các trại rắn có thời gian giao hoan sinh dục khoảng nửa giờ. Rắn đực và cái bò song song với nhau trước khi giao phối. Một số loài rùa đầm đực có tập tính giao hoan bằng cách lắc lư đầu, cắn cào rùa cái.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Hoạt động giao phối của rùa (theo Hickman) Hoạt động giao phối ở Rắn Coronella austriaca 2. Sự giao phối Bò sát đực có cơ quan giao phối là dương hành để đưa tinh trùng vào huyệt của cá thể cái. Sự thụ tinh được thực hiện ở bên trong ống dẫn trứng. Thằn lằn đực (nhông, thạch sùng) thường dùng răng ghìm thạch sùng cái để giao phối. Một số loài nhông khác, con đực không cắn nhưng dùng chân trước giữ phần thân trước của nhông cái hoặc bám hai bên sườn, hoặc leo lên lưng của nhông cái. Con đực có thể giao phối với nhiều con cái, trái lại con cái chỉ giao phối một lần. Thời gian giao phối
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - có thể kèo dài từ nửa giờ đến vài giờ hay hơn nữa. Khi giao phối, rùa cạn đực leo lên mai lưng của rùa cái. Ðể đứng được vững trên lưng rùa cái, rùa đực dùng vuốt bám chặt vào bờ mai trước của rùa cái và cắn vào đầu của rùa cái. Khi chịu đực, rùa cái rướn mình lên khỏi mặt đất, đuôi duỗi thẳng. Rùa đực đưa dương hành vào huyệt con cái. Rùa đầm (Emys) giao phối trong nước, rùa đực leo lên lưng của rùa cái. Nếu rùa cái chưa chịu thì sẽ bị rùa đực cắn hoặc dìm xuống bùn cho đến khi nào chịu mới thôi. Cá sấu đực dùng chân trước bám chặc vào cổ cá sấu cái. Sau đó nó vặn thân sang một bên, xoay xuống phía dưới thân của cá sấu cái để giao phối. Thông thường ở bò sát, con đực đóng vai trò chủ động và tích cực. Ngược lại ỏ một số ít loài như nhông (Agama agama). Trong mùa sinh sản nhiều cá thể cái vây lấy một cá thể đực. Con nào cũng muốn cho cá thể đực chú ý, chúng chạy quanh và chìa lỗ huyệt cho con đực. 3. Thụ tinh Ở rắn, sau khi giao phối, tinh trùng nằm trong ống dẫn trứng của con cái trong nhiều tháng đến vài năm. (thí nghiệm cho thấy sau ba đến bốn năm, con cái vẫn đẻ trứng, trứng được thụ tinh và nở thành con). Rắn lục châu Phi cái (Causus rhombeatus) sau khi giao phối được nuôi cách ly khỏi rắn đực đã đẻ 7 ổ trứng và tỷ lệ thụ tinh vẫn cao. Sau khi giao phối, tinh trùng sống trong ống dẫn trứng của rắn cái và chờ trứng rụng. Ở rắn sống vùng ôn đới sau khi giao phối độ hai tháng, rắn cái mới rụng trứng.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 5 ) Mùa sinh sản ở Bò sát (Reptilia) - Mùa sinh dục tuỳ thuộc khí hậu. Ở vùng ôn đới vào mùa ấm sau khi ngủ đông một thời gian ngắn, ở vùng nhiệt đới vào trước mùa mưa. Mùa sinh sản thay đổi tuỳ theo loài và địa phương. Rắn ráo (Ptyas korros) ở Quảng Ðông (Trung Quốc) đẻ trứng vào tháng 5 - tháng 6, ở Việt Nam đẻ vào tháng 6 - tháng 8, ở Java (Indonesia) đẻ vào tháng 8. Ba ba ở Trung Quốc đẻ từ tháng 6 - tháng 8, ở Việt Nam từ tháng 6 - tháng 7. - Vào mùa sinh sản, rắn đực chủ động bò tìm rắn cái. Rắn cái có một số tuyến ở đuôi và đặc biệt là cái tuyến ở da tiết ra mùi đặc biệt. Rắn đực nhờ cơ quan thị giác để phát hiện đối tượng, sau đó nhờ cơ quan khứu giác và cơ quan Jacobson giúp nhận biết mùi của rắn cái đã để lại trên đường đi. Mùi của rắn cái quyến rủ rắn đực được tiết ra ở thân rắn cái và chỉ xuất hiện vào mùa sinh sản khi rắn cái động dục. Rắn cái động dục suốt thời gian mang trứng nên một số loài rắn chịu giao phối nhiều lần trong mùa sinh sản. Ở nhóm thằn lằn, vai trò thị giác có vai trò quan trong hơn để nhận biết đối tượng khác phái. Thằn lằn đực Bắc Mỹ có màu sẫm, dọc hai bên thân có sọc dài màu xanh. Trước khi giao phối, thằn lằn đực rướn
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - cao thân, bụng dẹp lại theo chiều dọc làm lộ rõ hai sọc màu xanh để báo cho thằn lằn cái biết. Trong mùa sinh sản một số loài bò sát đực có tiếng kêu gọi cái rất đặc trưng (cá sấu, tắc kè, rùa ). Tiếng tắc kè gọi giao hoan có thể lan xa đến 100m. Vào mùa sinh sản, một số bò sát đực rất hiếu chiến, đánh nhau rất quyết liệt để giành lấy con cái (thằn lằn, kỳ đà, tắc kè hoa, rắn ). Ở rắn đuôi kêu (Crotalus rufer) rắn đực sẽ quấn lấy nhau, mổ nhau. Cuối cùng rắn đực nào thắng sẽ ghép đôi với rắn cái. Điểm sai khác ở hai giới Bò sát (Reptilia) Tất cả bò sát đều phân tính, ngoại trừ loài rắn lục hải đảo (Bathrops insularis) rất hiếm gặp sống ở một hòn đảo nhỏ ở nam Brasil vừa có cơ quan sinh dục đực và cái trên một cá thể. Sự sai khác giữa con đực và con cái ở bò sát rõ hơn ở lưỡng cư, thể hiện ở con có cỡ lớn. - Thông thường con cái vì phải mang trứng nên lớn hơn con đực (vài loài rùa, rắn ).
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Hệ sinh dục của Bò sát (Thằn lằn bóng - Mabuya longicaudata) (theo Đào Văn Tiến) I. Con đực; II. Con cái 1. Tinh hoàn; 2. Tuyến trên thận; 3. Dây chằng; 4. Tinh quản; 5. Thận hông; 6. Tử cung; 7. Buồng trứng; 8. Vòi ống trứng; 9. Ống trứng; 10. Ống dẫn quản; 11. Huyệt Rắn sải cổ đỏ (Rhabdophis subminiatus) rất thường gặp ở nước ta, lúc còn nhỏ cá thể đực lớn hơn cá thể cái, nhưng khi đã trưởng thành thì cá thể cái lớn vượt lên, to hơn cá thể đực một cách rõ rệt. Tuy nhiên một số loài bò sát (thằn lằn, nhông, rắn hổ mang, kỳ đà ) cá thể đực thường khỏe và lớn hơn cá thể cái vì tập tính đánh nhau để giành cá thể cái, nên do chọn lọc con đực phải to khỏe. Rùa nước ngọt đực nhỏ hơn rùa cái, trái lại rùa cạn rùa biển thì rùa đực lớn hơn (vích). Rùa đực thường có yếm lõm, sâu hơn yếm của rùa cái (yếm phẵng) có gốc đuôi to hơn và dài hơn rùa cái. - Thằn lằn đực có đầu lớn đuôi dài, gờ gai lưng của con đực thường cao hơn ở con cái (nhông). Ở rắn, số vảy bụng của con đực ít hơn con cái, vảy
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - dưới đuôi của con cái ít hơn con đực. Gốc đuôi của rắn đực bao giờ cũng thót lại, rồi phình to lên, đuôi dài hơn. Gốc đuôi con cái từ hậu môn trở xuống thon đều, đuôi ngắn. Ở một số loài trăn, trăn đực có cựa lớn. Cá sấu đực khó phân biệt với cá sấu cái, trừ cá sấu mõm dài ở Ấn Ðộ và Miến Ðiện có thể phân biệt được cá sấu đực, vì đầu mõm ở cá sấu đực có những phần phụ. - Ngoài ra vào mùa sinh sản một số thằn lằn và rùa con đực có màu sắc sặc sỡ hơn (cắïc kè, tắc kè hoa). Cá thể đực của các loài nhông, tắc kè, thằn lằn có những lổ đùi hoạt động tiết dịch vào mùa sinh sản. Những lổ đùi của cá thể cái thường không rõ. Ở rắn không sự khác biệt và màu sắc ở rắn đực và rắn cái. Hệ bài tiết và sinh dục Bò sát (Reptilia) 1. Bài tiết - Ở Bò sát có hậu thận, cấu tạo gồm đôi hình khối dài bám vào vách lưng ở vùng chậu. Ống dẫn của thận hình thành mới từ gốc ống Vonphơ, là niệu quản đổ ra huyệt. Có bóng đái chứa nước tiểu (rắn và cá sấu không có). Ở đa số thằn lằn và rùa bàng quang rất lớn. Nhưng ở rắn, cá sấu bàng quang không phát triển. Hệ niệu sinh dục của bò sát và chim 1. Ống dẫn tinh; 2. Tinh hoàn; 3. Huyệt; 4. Bóng đái; 5. Thận; 6. Ống ra; 7. Trứng; 8. Buồng trứng; 9. Ống niệu; 10. Lòng trắng; 11. Vỏ trứng - Nước tiểu của các loài bò sát sống trên cạn (thằn lằn, rắn) là một chất sền sệt có màu trắng đục không hoà tan trong nước, thành phần chủ yếu là axit uric. Nước tiểu sở dĩ đặc là do khả năng hấp thu lại nước của nước tiểu trong xoang huyệt. Nước tiểu của các loài bò sát sống ở nước hoặc nửa nước nửa cạn (rùa nước, cấ sấu ) thì loãng và thành phần chủ yếu là urê.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - 2. Hệ sinh dục Hệ sinh dục của Bò sát (Thằn lằn bóng - Mabuya longicaudata) (theo Đào Văn Tiến) I. Con đực; II. Con cái 1. Tinh hoàn; 2. Tuyến trên thận; 3. Dây chằng; 4. Tinh quản; 5. Thận hông; 6. Tử cung; 7. Buồng trứng; 8. Vòi ống trứng; 9. Ống trứng; 10. Ống dẫn quản; 11. Huyệt - Hệ sinh dục bò sát nằm ở hai bên cột sống: Tuyến sinh dục đực là đôi tinh hoàn lớn màu trắng hình dạng thay đổi, tinh quản là ống Volff, có cơ quan giao cấu (có thể có một hoặc hai). cơ quan giao cấu có 2 loại: Ngọc hành kép có ở thằn lằn và rắn, khi giao phối chỉ có 1 ngọc hành cắm vào huyệt sinh dục của con cái. Ngọc hành đơn có ở rùa, cá sấu. Ở cá sấu ngọc hành còn hình thành quy đầu như ở thú. - Tuyến sinh dục cái là hai buồng trứng có kích thước khác nhau. Buồng trứng của thằn lằn và rắn rỗng như ở cá, còn của rùa và cá sấu thì đặc như chim, thú. Hai buồng trứng của rùa và cá sấu thì rộng và xếp ngang hàng, còn của thằn lằn và rắn thì hẹp và xếp so le. Ống dẫn trứng gồm hai ống rỗng, là ống Munle, một đầu thông với phần trước khoang bụng có loa kèn, đầu sau là huyệt. Ống dẫn trứng của rùa và cá sấu phân thành nhiều phần: Phàn phễu đó trứng, phần tiếp theo tiết lòng trắng trứng, phần cuối là nơi tiết vỏ đá vôi thông với âm đạo. Hai ống dẫn của một số loài bò sát có độ dài không giống nhau.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Trứng bò sát có kích thước lớn hơn lưỡng cư, có nhiều noãn hoàn phát triển trực tiếp, có vỏ dai do thấm thêm canxi.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 6 ) Hệ Tuần hoàn Bò sát (Reptilia) 1. Tim Có 3 ngăn (2 tâm nhĩ và 1 tâm thất), khác với lưỡng cư tâm thất đã có vách ngăn chưa hoàn toàn, chia làm 2. Khi tim co, vách ngăn chưa hoàn toàn được nâng lên chạm tới nóc tâm thất làm cho hai nửa của tâm thất cách biệt nhau hoàn toàn, do đó máu tĩnh mạch ở tâm nhĩ phải và máu máu động mạch ở tâm thất trái không thể pha trộn. Tim vẫn còn xoang tĩnh mạch, so với lưỡng cư thì phát triển yếu và gắn với tĩnh mạch phải. Cấu tạo nội quan cá sấu (theo Hickman) 1. Thuỳ khứu giác; 2. Bán cầu não; 3. Tuyến yên; 4. Não giữa; 5. Tiểu não; 6. Hành tuỷ; 7. Động mạch cảnh; 8. Phổi; 9. Dạ dày; 10. Động mạch chủ; 11. Lá lách; 12. Ruột; 13. Tuyến tính; 14. Thận; 15. Tĩnh mạch chủ sau; 16. Hầu; 17. Tĩnh mạch cảnh; 18. Phế quản; 19. Cung động mạch; 20. Động mạch phổi; 21. Tĩnh mạch phổi; 22. Tâm thất phải; 23. Tâm thất trái; 24. Gan; 25. Tĩnh mạch gánh gan; 26. Ruột kết; 27. Lỗ huyệt. 2. Hệ mạch 2.1 Động mạch
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát có hệ động mạch khác với lưỡng cư: Không có thân chung mà chỉ có 3 cung động mạch rời nhau xuất phát từ 2 nửa của tâm thất: - Nhánh thứ nhất: động mạch phổi từ nửa phải tâm thất (mang máu tĩnh mạch) tách ra thành 2 động mạch phổi đi tới phổi. - Nhánh thứ 2: Từ nửa phải tâm thất và mang máu tĩnh mạch, uốn sang bên trái. - Nhánh thứ 3: từ nửa trái tâm thất mang máu động mạch uốn sang bên phải, hình thành cung chủ động mạch phải và động mạch cảnh. Như vậy máu lên đầu là máu đã được ôxy hoá hoàn toàn. Tuy nhiên cung chủ động mạch trái và phải uốn về phía sau hình thành nên chủ động mạch lưng. Máu ở chủ động mạch lưng là máu pha vì máu ở cung chủ động mạch trái là máu tĩnh mạch, nhưng chứa máu động mạch nhiều hơn. Từ động mạch chủ lưng hình thành nhiều động mạch lớn ở phía sau tới nội quan và động mạch nhỏ tới thành cơ thể. Sau cùng động mạch chủ lưng chia thành 2 động mạch chậu đi tới chi sau và về đuôi thành động mạch đuôi. 2.2 Hệ tĩnh mạch Máu từ phần sau của cơ thể về tim lần lượt theo các tĩnh mạch sau: - Tĩnh mạch chậu nhận máu tĩnh mạch từ tĩnh mạch đuôi, tĩnh mạch chân của tĩnh mạch gánh thận, tập trung thành tĩnh mạch bụng sau đó vào tĩnh mạch chủ sau. - Tĩnh mạch bụng nhận máu của tĩnh mạch nội quan, hình thành tĩnh mạch cửa gan, vào gan rồi phân thành hệ gánh gan, sau đó tập trung thành tĩnh mạch gan, cuối cùng đổ vào tĩnh mạch chủ sau.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Hệ tuần hoàn của bò sát (theo Matviep) - Tĩnh mạch chủ sau sau khi nhận máu từ tĩnh mạch thận và tĩnh mạch gan đổ vào xoang tĩnh mạch rồi vào tâm nhĩ phải. Máu từ phần trước cơ thể chuyển về tim theo các tĩnh mạch sau: - Máu ở tĩnh mạch đầu đổ vào 2 tĩnh mạch cảnh - Máu ở 2 chi trước tập trung vào tĩnh mạch dưới đòn - Máu của tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh tập trung vào tĩnh mạch chủ trước rồi di vào xoang tĩnh mạch, vào tâm nhĩ phải. - Tĩnh mạch phổi đưa máu đã được ôxy hoá về tâm nhĩ trái. Như vậy hệ tuần hoàn của bò sát khác với lưỡng cư là thiếu tĩnh mạch da. Hệ Hô hấp Bò sát (Reptilia) 1. Cấu tạo cơ quan hô hấp Bò sát hô hấp chủ yếu bằng phổi: Đường hô hấp đã phân hóa rõ ràng gồm có đường thanh quản phát âm thanh (có sụn nhẫn và sụn hạt cau) và khí quản dài, phân thành 2 phế quản đi vào 2 lá phổi. Phổi tiến hóa hơn lưỡng cư, bên trong có nhiều vách ngăn, chia thành các phế nang, nối với phế quản bằng phế quản phụ (cấp I, II, III), phổi xốp nên diện tích
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - phân bố mao mạch tăng lên, dung tích lớn, đảm nhận được chức năng trao đổi khí. Cấu tạo nội quan cá sấu (theo Hickman) 1. Thuỳ khứu giác; 2. Bán cầu não; 3. Tuyến yên; 4. Não giữa; 5. Tiểu não; 6. Hành tuỷ; 7. Động mạch cảnh; 8. Phổi; 9. Dạ dày; 10. Động mạch chủ; 11. Lá lách; 12. Ruột; 13. Tuyến tính; 14. Thận; 15. Tĩnh mạch chủ sau; 16. Hầu; 17. Tĩnh mạch cảnh; 18. Phế quản; 19. Cung động mạch; 20. Động mạch phổi; 21. Tĩnh mạch phổi; 22. Tâm thất phải; 23. Tâm thất trái; 24. Gan; 25. Tĩnh mạch gánh gan; 26. Ruột kết; 27. Lỗ huyệt. 2. Động tác hô hấp Cử động hô hấp của bò sát theo nhiều kiểu: - Thở bằng ngực, thực hiện nhờ sự co giãn của cơ gian sườn. - Thở bằng thềm miệng như lưỡng cư. - Thở bằng cử động chi và đầu (rùa). Hệ tiêu hoá Bò sát (Reptilia) 1. Khoang miệng hầu
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Khoang miệng hầu của bò sát phân hóa hơn lưỡng cư: Khoang miệng có xương hàm rất phát triển, hàm dưới khớp động với sọ, tạo khả năng há miệng rộng để bắt mồi lớn. Răng nói chung kèm phát triển, đồng hình có thể thay thế, phân hóa thành răng độc, chức năng giữ mồi và tê liệt mồi (rắn). Trong khoang miệng có nhiều tuyến tiết chất nhầy, tuyến nước bọt phát triển giúp việc tẩm ướt mồi phát triển hơn so với lưỡng thê trừ cá sấu và nhóm rùa biển bắt mồi ở nước nên có tuyến nước bọt không phát triển. Ở rắn tuyến nọc độc do tuyến nước bọt biến đổi. Lưỡi rùa và cá sấu ẩn trong miệng, một số nhóm như bộ Có vảy (thằn lằn, rắn) có lưỡi phát triển, thò được ra ngoài miệng. Rắn có một khe nhỏ ở môi trên nên có thể thò lưỡi qua khe mà không cần mở miệng. Lưỡi rắn dài và chẻ đôi. Khoang miệng rắn có răng độc (theo Hickman) 1. Răng độc; 2. Lỗ phóng chất độc; 3. Lỗ mũi; 4. Hố má; 5. Ống chứa chất độc; 6. Tuyến độc; 7. Khe họng Nhiều loài thằn lằn, tắc kè phóng lưỡi ra để bắt mồi. Ðáng kể nhất là tắc kè hoa (Chamaeleo) thường gặp ở Madagascar, Châu Phi, Ấn Ðộ, Nam Tây Ban Nha. Tắc kè hoa có chiều dài thân từ 25 - 35cm, nhưng lưỡi có thể dài bằng 1/2 chiều dài thân. Hai mắt có cuống và có khả năng đảo độc lập theo các hướng khác nhau. Khi phát hiện được con mồi, tắc kè hoa mở miệng, phóng nhanh lưỡi về phía con mồi, đầu lưỡi dính chặt lấy mồi, sau đó thu nhanh lưỡi có mồi vào miệng (hình 19.9). Cá sấu khi gặp mồi lớn thì dùng đôi hàm ngoạm lấy con mồi, lắc cho con mồi đến chết mới thôi. Trường hợp mồi ngoan cố cự lại hoặc không chết ngay, cá sấu dùng đuôi quật vào con mồi hoặc lấy cả thân mình nặng nề đè lấy con vật. Ở rùa, khi bắt được mồi lớn thì không nuốt được, nên
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - dùng mỏ sừng ở trên hàm và vuốt nhọn, khỏe ở đầu ngón chân để xé mồi. Có loài rùa trước khi ăn phải nghiền thức ăn bằng bộ hàm phẳng có rãnh dọc xẻ răng cưa. Loài Chamaeleo chamaeleo đang bắt mồi bằng lưỡi dài (theo Hickman) Rùa biển miệng rộng bắt mồi bằng cách mở miệng ra tạo thành một dòng nước mang theo những con mồi vào miệng rùa và bị rùa đưa vào bụng.Một số loài rắn không độc, sau khi cắn được con mồi, trước hết nó dùng nửa thân phía sau quấn lấy con mồi mấy vòng làm cho nghẹt thở rồi mới tiến hành động tác nuốt. Loài trăn khi nuốt động vật lớn cũng thực hiện như trên. Các loài rắn độc có móc độc ở phía trước hàm. Khi cắn mồi thì lập tức nọc độc theo ống hay rãnh mà tiết vào cơ thể con mồi làm cho nó bị tê liệt, ngừng phản ứng chống cự đến khi con mồi chết hẳn thì mới chịu nuốt mồi. Trong thành phần của nọc độc, ngoài độc tố làm tê liệt thần kinh, phá hại hệ tuần hoàn, còn có rất nhiều men tiêu hóa quan trọng làm phân giải tổ chức động vật. Một số loài có móc độc phía sau như rắn ri cá, ri voi khi đớp được mồi, thì rắn phải dùng hàm cố đẩy con mồi vào sâu trong miệng để móc độc phía sau có thể đâm vào con mồi. Nọc độc của những loài rắn này yếu, có khi phải cần 5 - 7 phút mới giết chết con mồi. Sau khi con mồi đã chểt, rắn mới nhả mồi ra, tìm đầu con vật để nuốt. Các rắn độc và trăn lúc bắt mồi có thể ngoạm vào bất kỳ chỗ nào của con mồi, nhưng khi nuốt bao giờ cũng nuốt đầu con mồi trước. Sau đó rắn dùng các răng dài, kết hợp với xương hàm trên, xương hàm dưới thay thế nhau đẩy thức ăn về phía sau qua thực quản đến dạ dày. 2. Thực quản Là một ống có thành mỏng, có nhiều nếp gấp dọc nên rất đàn hồi, có thể nuốt mồi lớn (rắn, thằn lằn ). Có độ dài lớn hơn của Lưỡng cư. Riêng ở
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - rùa biển mặt trong của thực quản có gai sừng, có đỉnh hướng về phía sau nên có thể cho nước đi qua và giữ thức ăn lại. 3. Dạ dày Bò sát dạ dày có cơ khỏe phân hóa tương đối rõ, biệt lập với ruột, màng nhầy của dạ dày có nhiều tuyến vị khác với tuyến màng nhày của thực quản. Riêng ở cá sấu, dạ dày có một phần biến đổi thành mề như ở chim, bên trong có chứa các viên sỏi, đá giúp cho quá trình tiêu hoá cơ học. 4. Ruột Có sơ đồ cấu tạo chung. Sau dạ dày là ruột trước (ruột non), chỗ chuyển tiếp giữa dại dày và ruột trước có van hạ vị. Tiếp theo là ruột giữa (ruột già), trung gian có manh tràng (ruột bít). Manh tàng phát triển mạnh ở rùa cạn ăn thực vật và ở cá sấu có uốn khúc. Ruột sau (ruột thẳng) đổ trực tiếp vào huyệt. Chiều dài thay đổi theo thức ăn. 5. Tuyến tiêu hoá - Gan lớn, không phân thuỳ và dài (ở bò sát dạng rắn), hay phân thuỳ ở các loài khác. có túi mật lớn. - Tuỵ hình lá, dày nằm ngay ở khúc ruột tá. Lá lách là một thể màu đỏ nằm sau dạ dày . - Sự tiêu hóa thức ăn của bò sát và đặc biệt là rắn rất mạnh. Rắn có thể tiêu hóa hết xương động vật, chỉ còn lại như lông chim, lông thú và móng sừng các phần này sẽ được bài tiết theo phân ra ngoài. Tốc độ tiêu hóa rắn phụ thuộc vào con mồi lớn hay nhỏ và tuỳ thuộc nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ thích hợp sẽ làm gia tăng hoạt tính các dịch tiêu hóa. Nhiệt độ gia tăng sẽ làm tốc độ tiêu hóa mau còn ngược lại khi nhiệt độ giảm xuống thì tốc độ này sẽ chậm. Nhiệt độ này cao hơn lưỡng cư vì thế trăn, rắn khi nuốt được con mồi lớn thường phải phơi nắng để sự tiêu hóa tiến hành bình thường. Một con trăn (dài 4,2m trong 24 giờ nuốt 4 con dê, mỗi con từ 5,5 - 8,5 kg) tiêu hóa hết các con mồi lớn trên cần từ 8 - 10 ngày ở mùa nóng và 1 tháng vào mùa lạnh.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Sơ đồ ống tiêu hoá của tắc kè (theo Hickman) 1. Miệng; 2. Hầu; 3. Dạ dày; 4. Gan; 5. Tuỵ; 6. Ruột non; 7. Ruột già; 8. Hậu môn Ở rắn lục, để theo dõi khả năng tiêu hóa thức ăn thì người ta cho rắn ăn mỗi tuần 2 lần với lượng thức ăn như nhau và quan sát sự thải phân của rắn. Vào mùa hè chỉ sau 3 - 4 ngày thì rắn đã thải phân còn mùa đông rắn thải phân sau 1 tuần. - Nhu cầu nước uống: Nói chung các loài bò sát đều cần uống nước để bù đắp lại lượng nước của cơ thể đã bị mất đi do quá trình tiêu hóa thải ra ngoài, do sự bốc hơi nước qua da và do quá trình hô hấp. Trăn nặng 25 kg ở nhiệt độ 250C, sống trong không khí khô, mỗi ngày mất một lượng nước 0,1 - 0,3% trọng lượng cơ thể. Nhu cầu về nước của chúng thay đổi tuỳ theo môi trường khô hoặc ẩm. Thằn lằn và rắn uống nước bằng cách liếm các giọt sương. Rắn thích uống nước và tắm, nhất là khi hạn hán, mưa ít rắn thường đến ao, mương để uống nước và tắm làm cho lớp vảy ngoài mềm ra để giúp tiến hành lột xác bình thường. Các loài bò sát sống ở sa mạc hình như không cần uống nước, có lẽ lượng nước trong thức ăn đủ đáp ứng nhu cầu nước của chúng. Một số rùa cạn như rùa Gopherus ăn thực vật, trong bàng quang có tích trữ nước nên nhu cầu nước từ bên ngoài không đáng kể. Một số loài thằn lằn sống ở vùng khô như thằn lằn độc (loài thằn lằn duy nhất có nọc độc làm chết người ở châu Mỹ) các loài tắc kè và thằn lằn bóng đều có gốc đuôi nở to, bên trong tích trữ mỡ. Khi cần nước những loài này sẽ huy động mỡ vào việc giải phóng nước để cung cấp những cho cơ thể. Trong trứng các loài bò sát (rùa, cá sấu) đều có lòng đỏ và lòng trắng chứa mỡ đó là kho dự trữ nước cho phôi những loài này.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 7 ) Giác quan Bò sát (Reptilia) 1. Xúc giác Các lớp động vật có xương sống ở cạn (Bò sát, Chim và Thú) thì cơ quan xúc giác kèm phát triển. 2. Vị giác Khả năng nhận biết mùi vị thức ăn ở bò sát khá tinh tế và đóng vai trò quan trong trong việc phân biệt mùi vị của con mồi. Người ta thường thấy những loài chuyên ăn động vật sẵn sàng nhả ngay những con mồi mà nó đớp nhầm, dù đó là con ếch mà loài động vật khác rất ưa thích. Thằn lằn bắt phải một con sâu không đúng khẩu vị cũng vội vàng nhả ra rồi rồi cọ hàm vào cây cỏ, đất đá ở chung quanh để lau miệng cho hết mùi vị của con sâu này. Rùa cũng có khả năng nhận biết mùi vị thức ăn. 3. Khứu giác Xoang khứu giác ở bò sát đã chia làm 2 ngăn: Ngăn khứu giác ở trên và ngăn hô hấp ở dưới. Các loài bò sát sống ở cạn, lỗ mũi nằm hai bên đầu mõm. Các loài sống ở nước như các loại rắn nước, lỗ mũi nằm ở phía trên mõm và có một nếp da che đậy. Khi rắn lặn xuống, nếp da này sẽ đóng lại, không cho nước lọt vào lỗ mũi. Lưỡi của bò sát có vai trò khứu giác quan trọng. Lưỡi kỳ đà và rắn luôn cử động, thè ra ngoài và thụt vào rất linh hoạt. Khi lưỡi thè ra ngoài để thu nhận các phân tử mùi ở trong không khí. Chất ướt dính ở lưỡi có tác dụng thu hút các phân tử mùi, sau đó lưỡi thụt vào miệng, đầu lưỡi sẽ đưa thẳng vào lỗ cơ quan Jacobson nằm ở trần xoang miệng, cơ quan này giúp phân biệt các mùi vị. Chất có mùi cũng có thể hòa tan vào nước bọt, nước bọt cũng lọt vào cơ quan Jacobson. Như vậy lưỡi ở bò sát vừa là cơ quan vị giác vừa là cơ quan khứu giác. Vai trò khứu giác này giúp bò sát phân biệt được con mồi, phát hiện và trốn tránh kẻ thù và tìm đến đối tượng khác phái trong mùa sinh sản. Ở rắn do môi trên có một khe nhỏ nên rắn thè lưỡi ra ngoài liên tục mà không phải mở miệng. Lưỡi rắn là cơ quan khứu giác để ngửi, vị giác để nếm, và xúc giác để sờ. Rắn ăn trứng có thể dùng lưỡi để phân biệt trứng
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - thật hay trứng giả, biết chọn các trứng bồ câu tươi, bỏ lại các trứng chim đã bị rút lòng đỏ và được thay bằng lòng đỏ gà. 4. Thính giác Khả năng thính giác ở bò sát nói chung kèm, trong đó khả năng này ở rắn là kèm hơn cả. Ở rắn không có tai ngoài, màng nhĩ và xoang tai giữa cũng bị tiêu biến do đó rắn không thể tiếp nhận sóng âm thanh truyền qua không khí (hoặc không nghe rõ một số âm thanh). Vì thính giác không giữ vai trò quan trọng nên đa số bò sát không có khả năng phát thanh. Rắn có tai trong, xương trụ tai liền với của sổ tiền đình, còn đầu kia liền với xương vuông, sự cấu tạo như vậy giúp cho rắn nhạy cảm với những tiếng động truyền qua đất. Những tiếng động này truyền vào mình rắn, đi tới hộp xương sọ rồi tác động vào tai trong của rắn khiến rắn có thể phát hiện những tiếng động nhỏ, ví dụ những bước chân nhẹ nhàng của người khi tiến về phía con rắn đang nằm, thì rắn đã nhận biết được, bỏ trốn đi hoặc chuẩn bị tư thế để tự vệ. Những rung động ở mặt đất thì gây ra hưng phấn thần kinh ở rắn, nếu âm thanh được truyền từ không khí không gây hưng phấn. Trong động đất, khi con người chưa cảm nhận được, thì rắn đã cảm thấy và có những hoạt động bất thường. Con người đã chú ý đến sự hoảng loạn của rắn và xem như là dấu hiệu dự báo động đất. Bò sát có thể nhận được những âm thanh có tần số từ 60 - 6.000 héc, song đa số nghe tốt trong phạm vị khoảng từ 60 - 200 héc. Rùa châu Mỹ có thể nhận biết được những tiếng động từ 30 - 130 héc, cá sấu nghe rõ những âm thanh từ 100 - 3.000 héc, thằn lằn có thính giác nhạy nhất nhận được những tiếng động rất thanh và rất cao có tần số 5.000 héc, có loài nhận được tần số đến 8000 - 10.000 héc. 5. Thị giác Mắt của Bò sát có 3 mí là trên, dưới và màng nhày bảo vệ cho mắt khỏi khô. Có một ống xương nhỏ trong màng cứng có nhiều mạch máu gọi là lược. Điều tiết mắt nhờ cơ vân trong thể mí, vừa làm dịch chuyển nhân mắt vừa làm nhân mắt đổi hình. Trên màng võng thấy xuất hiện mầm mống điểm vàng, thích nghi rất cao đời sống ở cạn. Khả năng nhìn của loài bò sát chưa phát triển hoàn thiện như các động vật có vú. Mắt của nhiều loài thằn lằn và một số loài rắn phân biệt rất kèm các vật xung quanh. Những loài này chỉ phát hiện được mồi đang động đậy. Một số loài thằn lằn có
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - mắt tinh hơn mắt rắn. Chúng có khả năng điều tiết để nhìn rõ con mồi ở gần hoặc xa. Mắt của tắc kè hoa Chameleo đặc biệt nhất trong lớp bò sát. Nhờ dính trên một cái cuống, mắt tắc kè hoa có thể đảo theo mọi hướng để phát hiện mồi. Khi mắt đã phát hiện ra con mồi nằm trong tầm phóng của lưỡi thì lưỡi sẽ phóng nhanh ra để bắt mồi. Mắt rắn có hai mí mắt đều trong suốt, khép kín và dính liền với nhau để che đậy lấy mắt như một màng kính cố định, vì thế mắt rắn không nhấp nháy được và nhờ đó mắt rắn luôn được bảo vệ, tránh được những vật cứng như đất đá, cành cây va đập vào mắt. Khi lột xác, màng kính trở nên đục, lúc này mắt rắn nhìn không rõ. Hình dạng và kích thước của mắt rắn thay đổi tuỳ theo từng loài và môi trường sống của nó. Mắt của rắn giun sống chui luồn dưới đất bị thoái hóa thành một chấm nhỏ ở dứới vảy, chúng chỉ phân biệt được tối hay sáng. Dựa vào kiểu cấu tạo con ngươi để phân biệt rắn hoạt động ban ngày và ban đêm. Các loài rắn hoạt động ban ngày có mắt hơi to, con ngươi tròn, gồm các loài rắn nước, rắn ráo, trăn. Các loài rắn hoạt động hoàng hôn hoặc ban đêm có con ngươi hình bầu dục dựng đứng, có tác dụng tránh những tia sáng mạnh ban ngày, lúc tối trời mở to thành hình tròn (gồm rắn hổ mang, mái gầm, rắn lục ). Rắn hoàn toàn hoạt động ban đêm có con ngươi ngang như rắn dây (Dryophis). Các loại rắn hoạt động về đêm, tế bào thị giác chứa sắc tố nằm phía sau vách nhỡn cầu và võng mô, nên dù ánh sáng yếu rắn vẫn có thể nhìn thấy được. Các loài rắn không có khả năng điều tiết mắt mà chỉ nhờ vào sự di chuyển đầu trước sau hoặc phải trái để hình ảnh lọt vào tiêu điểm, vì vậy khả năng nhìn của rắn rất hạn chế, chúng không thể nhìn thấy những vật ở xa. Thông thường rắn chỉ có thể nhìn rõ trong khoảng cách bằng 4 - 5 lần chiều dài cơ thể và rắn chỉ nhận biết những con mồi cuả động. Khả năng nhận biết màu sắc khác nhau ở rắn cũng kèm, rắn chỉ phản ứng với cường độ ánh sáng mạnh hay yếu mà thôi. Mắt cá sấu lồi, do đó có tầm nhìn rộng hơn, thêm vào đó con ngươi là một khe dọc, có thể điều tiết để mở rộng hay hẹp thích ứng với độ chiếu sáng của bên ngoài, thủy tinh thể rất đàn hồi nên cá sấu có thể điều tiết thị giác để phát hiện con ở các khoảng cách khác nhau. Cá sấu quen đời sống ở dưới nước, nên khi lên cạn tuyến lệ phải họat động nhiều để bảo vệ cho giác mạc cá sấu khỏi bị khô, vì thế lên cạn cá sấu thường chảy nước mắt. Mắt rùa phát triển hơn cả trong lớp bò sát, nhờ đó rùa có khả năng phân biệt được hình dạng và màu sắc của vật thể chung quanh. Rùa phân biệt được màu trắng và màu đen, nhận được màu tím nhưng thường nhầm giữa màu đỏ và màu tím hoa cà. Thủy tinh thể của rùa ít
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - đàn hồi nên rùa kèm khả năng điều tiết cự ly xa gần. Rùa không thể nhìn rõ trong tối. 6. Cơ quan cảm nhiệt gồm hố má và hố môi - Hố má: Ở một số loài rắn, giữa lỗ mũi và mắt có một hốc nhỏ lõm sâu xuống, đó là hố má. Ðó là một hố lõm của xương hàm trên, phía trước hơi rộng, phía sau hẹp, ở trong có một màng mỏng chừng 25mm. Hố này mở ra ngoài, phía trong thông với gốc mắt bằng một lổ nhỏ. Màng hố má gồm bốn hàng tế bào tiếp nối với đầu mút của đôi dây thần kinh não thứ V. Trước kia một số nhà sinh học cho rằng hố này là cơ quan thính giác, một số khác nói nó có chức năng vị giác, khứu giác hoặc là tuyến nước mắt. Hiện nay người ta đã chứng minh rằng hố má là cơ quan nhận cảm nhiệt. Cơ quan này có thể nhận cảm được mức thay đổi nhiệt độ của môi trường trong phạm vi rất nhỏ, khoảng 0,10C. Ngoài ra hố má còn xác định vị trí của tia nhiệt phát ra từ các con mồi. Hố má là cơ quan đặc thù của họ rắn có hố má (Crotalidae) giúp phát hiện và xác định vị trí các con mồi thuộc động vật đẳng nhiệt khi chúng phát ra các tia nhiệt ngay cả trong đêm tối. Người ta làm thí nghiệm với loài rắn chuông (họ Crotalidae) ở châu Mỹ và nhận thấy chúng có thể mẫn cảm với sự thay đổi nhiệt độ rất nhỏ (0,0030C). Ở hố má có hàng ngàn đầu mút dây thần kinh cảm giác trên 1cm2. Hố má có một màng mỏng chia làm hai buồng: một buồng cảm nhận trực tiếp các tia nhiệt do con mồi phát ra, buồng thứ hai thông với môi trường ngoài, và giữ nhiệt độ bằng nhiệt độ của không khí chung quanh. Các tế bào thần kinh nhạy cảm của hố má sẽ báo về não bộ, sự chênh lệch nhiệt độ của hai buồng, giúp cho rắn cảm ứng được sự thay đổi nhiệt độ đó.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Hố cảm giác nhiệt (hố má) ở răn chuông (theo Hickman) 1. Lỗ mở của hố cảm giác; 2. Buồng ngoài; 3. Màng; 4. Buồng trong; 5. Phần cuối thần kinh tiếp xúc với ty thể - Hố môi: Ở nhiều loài trăn, hố cảm giác nằm trên các vẩy của môi trên và môi đưới được gọi là hố môi. Mức độ nhạy cảm với nhiệt độ này ở vài phần trăm độ C. Một số loài thuộc họ rắn lục Viperidae ở mé trên lổ mũi cũng có hố nhỏ công dụng giống như hố má. Hệ thần kinh và giác quan Bò sát (Reptilia) 1. Não bộ - Não bộ của bò sát hoàn chỉnh hơn lưỡng cư, bán cầu não lớn, nóc có chất thần kinh tạo thành vỏ chất xám mỏng - vòm não cổ (archipallium). Ở cá sấu có nhiều tế bào thần kinh tập trung ở thành ngoài vòm não mới, có thể xem đây là mầm mống của vỏ não. - Thuỳ đỉnh và thuỳ khứu giác lớn. Cơ quan đỉnh đặc biệt lớn và có cấu tạo theo kiểu của mắt, ở một số loài cơ quan này có thể cảm nhận được ánh sáng. - Tiểu não phát triển, là một tấm mỏng, hành tuỷ uốn cong như động vật cao.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Bò sát có 12 đôi dây thần kinh não, một số loài đôi X chưa tách khỏi đôi XI do đó chỉ có 11 đôi. 2. Tuỷ sống Tủy sống chạy dọc cột sống, đã có 2 phần phình và các đôi dây thần kinh tủy làm thành đám rối thần kinh điển hình ở các vùng vai và vùng hông. Động vật có màng ối dây thần kinh tuỷ sống rất phát triển cùng với hệ cơ và hệ cơ quan khác, hai bên cột sống có 2 chuỗi hạch thần kinh, còn vùng vai và vùng hông hình thành các đám rối lớn.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bò sát ( phần 8 ) Hệ thần kinh và giác quan Bò sát (Reptilia) 1. Não bộ - Não bộ của bò sát hoàn chỉnh hơn lưỡng cư, bán cầu não lớn, nóc có chất thần kinh tạo thành vỏ chất xám mỏng - vòm não cổ (archipallium). Ở cá sấu có nhiều tế bào thần kinh tập trung ở thành ngoài vòm não mới, có thể xem đây là mầm mống của vỏ não. - Thuỳ đỉnh và thuỳ khứu giác lớn. Cơ quan đỉnh đặc biệt lớn và có cấu tạo theo kiểu của mắt, ở một số loài cơ quan này có thể cảm nhận được ánh sáng. - Tiểu não phát triển, là một tấm mỏng, hành tuỷ uốn cong như động vật cao. - Bò sát có 12 đôi dây thần kinh não, một số loài đôi X chưa tách khỏi đôi XI do đó chỉ có 11 đôi. 2. Tuỷ sống Tủy sống chạy dọc cột sống, đã có 2 phần phình và các đôi dây thần kinh tủy làm thành đám rối thần kinh điển hình ở các vùng vai và vùng hông. Động vật có màng ối dây thần kinh tuỷ sống rất phát triển cùng với hệ cơ và hệ cơ quan khác, hai bên cột sống có 2 chuỗi hạch thần kinh, còn vùng vai và vùng hông hình thành các đám rối lớn. Hệ cơ và sự vận chuyển Bò sát (Reptilia) - Bò sát có hệ cơ phân hoá mạnh hơn nhiều so với lưỡng cư, tính chất phân đốt mờ đi chỉ còn lại phần đuôi. Các bó cơ rất phát triển, nhất là xuất hiện cơ gian sườn giúp cử động lồng ngực nhằm thực hiện hô hấp bằng phổi. Do sự vận động chủ yếu trên mặt đất, cơ chi khá phát triển. Nhóm thằn lằn có thể chạy, nhảy hay bay. Nhóm cá sấu có thể bò và bơi. Còn nhóm rắn có cơ vảy bụng rất phát triển giúp cho con vật bò, trườn trên mặt đất. Ngoài ra ở rắn hệ cơ thân và cơ dưới da phát triển đảm bảo cho rắn có thể di chuyển bằng cách uốn mình để tiến về phía trước. Do rắn không có chân, nên di chuyển theo kiểu trườn lượn vì rắn có thể uốn khúc nhẹ nhàng như sóng trên mặt đất gồ ghề, thân ép sát vào mặt đất
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - đẩy rắn về phía trước. Rắn vận động chủ yếu nhờ các đốt sống lớn liên kết với nhau vững bền và rất linh hoạt, các đốt sống đa số mang xương sườn, xương sườn có cơ liên sườn gắn với vảy bụng. Ở các loài rắn sống trên cạn có các vảy bụng thường to và thưa. Nhờ vận động của các xương sườn, các cơ liên sườn co rút nhịp nhàng khiến cho vảy bụng dựng lên, tựa vào mặt đất, đẩy thân tiến về phía trước. Chuyển động này từ đầu rắn truyền dài đến tận đuôi rất nhanh. Tốc độ di chuyển bình thường của rắn khoảng 5 - 6 km/giờ. Các loài rắn nào có các vảy dầy và khít không di chuyển được theo cách trên (rắn nước). Một cách vận động khác theo lối co duỗi được sử dụng ở các không gian hẹp, mặt phẳng trơn, trước hết chúng cất cao đầu dùng sức vươn về phía trước tiến thẳng đến vật thể làm điểm tựa, phần sau thân co lại rồi lại tiếp tục động tác trên. Một số rắn khác có thân ngắn thì di chuyển trên mặt đất thường uốn cong thân lại liên tục làm động tác "nhảy" rất nhanh, làm tăng tốc độ di chuyển. Các kiểu vận chuyển của răn (theo Hickman) 1. Không giây; 2. Một giây; 3. Hai giây; I. Di động; II. Co; III. Cố định; IV. Duỗi Hệ xương Bò sát (Reptilia) 1. Xương sọ - Sọ bò sát có một số sai khác cơ bản như nền sọ rộng, đã hóa xương, chỉ có một lồi cầu chẩm, hình thành cung thái dương, các hố thái dương và xương gốc bướm, đặc trưng cho động vật có màng ối.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - - Ở bò sát có quá trình tiến hóa theo hướng giảm xương bì của sọ để hình thành hố thái dương. Sự hình thành hố thái dương làm giảm nhẹ sọ giúp đầu cử động linh hoạt hơn để thích nghi với đời sống ở cạn, đồng thời đây là chỗ bám các cơ hàm điều khiển sự hoạt động của hàm dưới liên quan đến sự bắt mồi của bò sát Các kiểu sọ của bò sát (theo Kardong) P. xương đình; Po. xương sau ổ mắt; Sq. xương vảy; Qj. xương vuông gò má; J. xương gò má Xương vuông khớp động với sọ, do đó miệng của bò sát có thể mở rộng rất lớn để nuốt mồi (hình 19.3). Ở rắn nhờ cấu tạo linh động của xương hàm dưới các hệ thống cơ và dây chằng, miệng có thể mở ra một góc có độ lớn 1300. Xương hàm dưới có thể mở ra hai bên rất thuận tiện cho việc ăn các loài vật lớn hơn đầu của rắn gấp đến mấy lần. Tại vườn thú Frankfurt (Ðức) người ta quan sát được một con trăn dài 7,5 m đã nuốt một con heo nặng 54,5 kg. 2. Cột sống Cột sống bò sát có cấu tạo chung với động vật có màng ối, gồm có 5 phần là cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi. - Cổ gồm nhiều đốt, thay đổi tuỳ loài (ví dụ thằn lằn có 8 đốt), 2 đốt sống thứ nhất và 2 biến đổi thành đốt chống và đốt trục, khớp với sọ làm cho đầu cử động được nhiều hướng.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Cấu tạo xương sọ của thằn lằn (theo Hickman) 1. Hàm trên; 2. Hàm dưới; 3. Xương vuông; 4. Xương thái dương; 5. Xương cánh - Phần ngực gồm nhiều đốt, số đốt cũng thay đổi tùy loài, thường là 5 đốt, mỗi đốt mang một đôi sườn có đầu xa gắn với xương mỏ ác làm thành lồng ngực chính thức. - Phần thắt lưng cũng có đốt sống thay đổi, có xương sườn (rắn) hay xương sườn cụt (thằn lằn) hay không có (cá sấu). - Phần đuôi gồm vài chục đốt. Nhóm rùa có cột sống cùng với xương sườn gắn chặt vào mai để bảo vệ. Bộ xương và vỏ da rùa (theo Hickman) 1. Cổ; 2. Xương sườn; 3. Cột sống; 4. Vỏ giáp; 5. Yếm Bộ xương của rắn có số lượng đốt sống rẩt lớn từ 350 - 500 đốt. Trừ các đốt sống phần đuôi ra, các đốt sống khác đều mang một đôi xương sườn có khả năng chuyển động được. Xương ức của rắn bị tiêu biến, do đó các
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - xương sườn không gắn lại với nhau làm cho lồng ngực có thể co giãn được. 3. Xương chi Xương chi của bò sát có thêm khớp trung gian làm cho hoạt động linh hoạt hơn. - Đai vai ở mỗi bên gồm xương quạ, trước quạ và xương bả, thường có thêm xương đòn và gian đòn hình chữ nhật. - Đai hông ở mỗi bên gồm xương hông, xương háng và xương ngồi. Hai xương háng và ngồi tiếp hợp với nhau, ở giữa chỗ tiếp hợp là lỗ háng ngồi (hình 19.5). Đai vai (bên trái ) và đai hông (bên phải) của thằn lắn bóng Mabuya (theo Đào Văn Tiến) Ở bò sát chi có cấu tạo 5 ngón điển hình của động vật ở cạn nhưng so với lưỡng cư kích thước của xương cổ chân và xương bàn chân của chi sau giảm đi, làm giảm diện tích tiếp xúc giữa chi và mặt đất. Trong khi vận chuyển chi trước có tác dụng kéo thân vươn dài, còn chi sau đẩy cơ thể tiến lên. Ở rắn, các chi bị tiêu biến chỉ các loài rắn nguyên thủy (trăn, rắn giun) còn di tích của đai hông và chi sau (xương đùi) tồn tại, biểu hiện ra ngoài thành hai cựa giống cựa gà nằm ở hai bên khe huyệt.
- Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version - Bộ xương cá sấu



